4.3. Cấu trúc gia đình, xã hội và phong tục tập quán

IV.3.1. Cấu trúc xã hội Stiêng:

Người Stiêng gọi làng là sóc, bòn, . Mỗi sóc, bòn, bù xưa kia có vài dãy nhà dài hoặc vài chục ngôi nhà nhỏ. Do phương thức sản xuất du canh du cư nên vị trí sóc, bòn, bù không cố định.Tới nay, tình hình trên đã thay đổi hoàn toàn do Nhà nước tiến hành định canh định cư, chấm dứt tình trạng đốt phá rừng làm rẫy bừa bãi.

Mỗi nhà dài có một tộc trưởng (tom yau) ít quyền hành: tiếp khách, cúng lễ thần linh. Từ thời thuộc Pháp, công việc hành chánh do chủ làng gọi là ông cả, ông sếp đảm nhận; bây giờ ủy ban xã đảm đương giải quyết các mối bất hòa nội bộ, xét xử các vụ trộm cắp... Các cụ già thường được hỏi ý kiến vì các cụ am hiểu, nhiều kinh nghiệm sống. Tuy chưa phân hóa giai cấp rõ nhưng xã hội Stiêng trước kia có thể chia làm ba hạng:

 - Các nhà khá giả có nhiều chiêng, ché, ghè rượu (xrung), trâu bò...

 - Phần đông là các hộ bình thường.

 - Đik (hay đek) là tôi đòi, người ở; đó là tù binh hoặc người mắc nợ không trả nổi phải đi ở. Nay loại đik không còn.

Cũng như các dân tộc ít người khác, người Stiêng có tinh thần đoàn kết tương trợ cao. Một gia đình có công việc gì, cộng đồng sẵn sàng tham gia giúp đỡ giải quyết. Mổ thịt con trâu, chủ nhà đem chia cho bà con dòng họ và chòm xóm cùng sóc. Khách tới sóc được tiếp đãi niềm nở, được lo chỗ ăn chỗ nghỉ chu đáo.

Nửa cuối thế kỉ 19, thực dân Pháp đánh chiếm miền Đông Nam bộ, người Stiêng tỏ rõ tinh thần bất khuất chống xâm lược liên tục. Một số tên thực dân bị giết ở vùng này vào nhiều thời điểm khác nhau khiến sách báo cũ đánh giá: người Stiêng nóng nảy, hiếu chiến...

IV.3.2. Cấu trúc gia đình:

Trước Cách mạng tháng Tám 1945, chế độ theo dòng mẹ của người Stiêng ở tỉnh Biên Hòa cũ (nay là Đồng Nai) dần dần bị chế độ theo dòng cha thay thế. Suốt hai thời kỳ kháng chiến, bà con Stiêng ở Bù Chrap, Tà Lài đi theo cách mạng thì quá trình này càng được đẩy nhanh, hiện nay chỉ còn một số tàn dư trong cuộc sống.

Xưa kia bà con ở nhà dài, mỗi sóc có vài căn nhà dài. Nhưng suốt ba mươi năm chiến tranh ác liệt, phải di chuyển, tránh né địch nhiều lần nên nhà sàn dài biến mất. Từ đầu những năm 80, thực hiện chính sách định canh định cư, Nhà nước làm nhà cho bà con, mỗi gia đình một căn nhà. Nay chỉ những cụ già ở lứa tuổi bảy, tám mươi còn hình dung được căn nhà sàn dài truyền thống của dân tộc mình.

Cho đến năm 1983 ở ấp 4 xã Xuân Hưng (huyện Xuân Lộc) vẫn còn dăm căn nhà sàn dài của nhóm đồng bào Stiêng từ Bình Phước về cư trú. Mỗi căn dài khoảng hai, ba chục mét với cột gỗ, mái tranh, sàn và vách bằng tre nứa đan thành liếp. Sàn nhà cao khoảng 0,8 mét đến 1,5 mét, đầu nhà có thang gỗ ba, bốn bậc không tay vịn để lên xuống. Căn nhà không trổ cửa sổ nên dù bên ngoài nắng lóa mắt mà trong nhà vẫn tối mờ mờ. Mỗi căn nhà chia làm một số khoang, mỗi khoang một gia đình nhỏ cư ngụ có chiếc bếp nhỏ đắp đất lên sàn nhà (để chống cháy). Khoang nọ cách khoang kia một bức liếp nứa nhỏ. Ngoài chiếc bếp, khoảng trống trên sàn nhà trải chiếu lùng, đó là nơi ngồi chơi, ăn uống, ngủ nghỉ của cả gia đình. Những căn nhà trệt khác trong ấp có sạp tre dài cỡ hai chiếc giường (làm chỗ ngồi chơi và ngủ) là nét bảo lưu của sàn nhà dài truyền thống.

Xưa kia, khi chế độ theo dòng mẹ còn thịnh hành, người ta cất chòi lúa cạnh nhà dài; một người phụ nữ lớn tuổi coi sóc và phân phát lúa gạo cho mỗi gia đình nhỏ, thành viên của dòng họ. Bà con tin rằng nếu cất thóc lúa trong nhà ở thì bị xui, ông bà tổ tiên quở phạt. Nay mỗi gia đình nhỏ thu hoạch không bao nhiêu, sau khi phơi khô quạt sạch, bà con đóng bao và cất thóc lúa ở một góc nhà.

Đến nay (1997), cả ở Tà Lài và ấp 4 Xuân Hưng không còn căn nhà dài nào. Bây giờ người cha trong gia đình quyết định mọi việc sau khi bàn bạc với người mẹ. Con cái theo họ cha, chàng trai cưới vợ về nhà mình...

Thuật ngữ quan hệ thân tộc của người Stiêng (ở Xuân Hưng và Tà Lài)

 

 - cụ: rung

 - dượng: đeh

 - cụ ông: iau rung

 - cậu: côinh (Stiêng ở Xuân Hưng)

 - ông: iau

 - mợ: uay, uôi (Stiêng ở Xuân Hưng)

 - cụ bà: iai rung

 - ego

 - ông nội: iau klau

 - anh: em, iêm

 - ông ngoại: iau ur

 - anh trai: em klau

 - bà: iau

 - em: oh

 - bà nội: iau klau

 - em trai: oh đơ klau

 - bà ngoại: iau ur

 - em gái: oh đơ ur

 - cha: mom

 - em trai vợ: oh klau xai ur

 - cha chồng: mom pâu

 - em gái vợ: oh xai ur

 - cha vợ: mom ur

 - chị: em

 - mẹ: mây

 - chị gái: em ur

 - mẹ chồng: mâypâu

 - con: con

 - mẹ vợ: mây ur

 - con trai: con klau

 - bác: ma đeh

 - con gái: con đơ ur

 - bác gái: tih, mây cuống

 - cháu: mon

 - chú, cậu: ma

 - cháu trai: mon klau

 - cô, dì: têh, ming         

 - cháu gái: mon đơ ur

IV.3.3. Cưới xin:

Trai gái lớn lên được tự do tìm hiểu nhau trong các buổi lao động hay tiếp xúc trong các cuộc gặp gỡ sinh hoạt của cộng đồng. Người con gái Stiêng biểu lộ tình cảm của mình qua các bài hát đối đáp giao duyên, nếu muốn khước từ, cô trả lời ngụ ý đã có chồng. Chàng trai say mê cô gái nào phải tốn công khéo léo hỏi những người sống gần để xem điều đó có đúng không. Nếu cô gái chưa hứa hẹn cùng ai, anh chàng tìm dịp mời cô uống rượu chung rồi mượn ống điếu cô đang hút để mình hút tiếp. Lúc trả lại, thấy cô không nhồi thuốc mới thì có thể yên tâm. (Nếu cô phì bã thuốc rồi nhồi thuốc mới thì hết hi vọng). Chàng trai tiếp tục gây cảm tình bằng cách tặng cô nắm thuốc hút. Rồi chàng trai Stiêng rủ cô ra khỏi nhà để trò chuyện tâm tình. Khi sắp cúng nhang lúa, dân làng vào rừng kiếm măng, cá, thịt thú rừng... thì anh theo cô, giúp cô tìm kiếm thức ăn và tiếp tục trò chuyện tâm sự. Khi cô gái hoàn toàn đồng ý, hai người dắt nhau ra chòi ở rẫy - không xa nhà bao nhiêu - chung sống. Người Stiêng không có quan niệm khe khắt về trinh tiết như người Việt.

Mỗi lần gặp gỡ anh lại tặng cô một món kỷ niệm: chuỗi cườm, vòng, nhẫn (bằng đồng). Trong thời gian quen biết, lỡ cô gái mang bầu và chàng trai chỉ chơi bời thôi, khi bị sóc tra hỏi, cô gái khai ra, anh chàng bị phạt ché, tô... Nếu cô gái đã có người ăn hỏi mà còn lang chạ, bị bắt quả tang thì gia đình anh kia bị phạt trâu, ché, tô... nặng hơn.

Khi cô gái đồng ý làm vợ, chàng trai báo với cha mẹ, nhờ ông mai - người lớn tuổi trong họ hoặc người có uy tín khác - đem rượu, gà vịt và con heo nhỏ đến nhà cô gái. Nếu đằng gái bằng lòng (mà thường thường là bằng lòng), hai bên bàn bạc thỏa thuận về sính lễ và ngày cưới. Đây là buổi dạm hỏi (bê đop bê beng: bỏ hàng rào thưa), nhà trai mang qua: 1 lít rượu, 1 chuỗi hạt cườm, 1 bộ quần áo, 1áo, 1 chăn.

Đám nói thật sự (bêr nôp, pai hăn ôp: rượu đi hỏi, thịt đi hỏi) thì nhà trai mang qua nhà gái: con heo 50 kg, 20 lít rượu, tô chén dĩa (10 chiếc mỗi thứ), 2 mâm nhôm, 1 ché rượu, 7 vòng đồng, 1 hộp trầu cau bằng đồng, rìu, dao, chà gạt...

Sính lễ cũ ở vùng Bình Phước khá nặng:

- 1 đik (nô lệ)

- 1 xrung ( ché cổ)

- 1 thanh đao

- 1 con dao tốt

- 1 djiri (vò cổ)

- 1 chiêng

- 7 cái tĩn đựng nước.

- 1 niêng (váy dài 2 mét)

- 1 tô đồng, 10 tô lớn, 20 tô nhỏ

- 1 vòng đồng, 1 cuộn chỉ

- 2 chuỗi cườm

- 1 con trâu đãi tiệc cả làng

- 3 con heo (1 cúng thần rừng, 1 cúng thần đất, 1 cho hai năk mha (người làm chứng) Ngày nay sính lễ được qui ra tiền; nếu đằng trai nghèo không nộp đủ sính lễ thì phải ở và làm cho nhà vợ để trừ nợ.

Ngày làm bêr nôp, pai hăn ôp mỗi bên chọn một người làm chứng (năk mha) thạo cầu khấn. Đôi trai gái đứng trước bàn thờ đằng gái cùng hai họ nghe các người làm chứng đọc lời khấn khứa thần linh và tổ tiên ông bà về chứng kiến, ban sự may mắn hạnh phúc cho cặp vợ chồng trẻ. Cúng xong, ông năk mha đằng trai buộc chỉ cổ tay cô dâu; ông năk mha đằng gái buộc chỉ cổ tay chàng rể. Sợi chỉ buộc cổ tay có giá trị thiêng liêng như nhẫn cưới đôi tân hôn theo đạo Công giáo. Đôi vợ chồng trẻ được họ hàng và người dự mừng tiền làm vốn, bắt đầu tạo dựng cơ nghiệp mới. Lễ cưới kéo dài khoảng một tiếng thì xong. Khách khứa vui vẻ ăn uống, ca hát, đánh chiêng, nhảy múa suốt ngày đêm.

Sau này khi có điều kiện, đôi vợ chồng (có thể đã có con cháu đầy đàn) tổ chức đám cưới lại (bê rung pai rung) (rượu giống, thịt giống) đãi nhà gái trâu, heo. Đến đây mới kết thúc một đám cưới Stiêng đúng theo phong tục đích thực.

Tục lệ Stiêng cho phép con cô, con cậu ruột có thể lấy nhau. Thời thuộc Pháp, một số nhà giàu Stiêng lấy hai, ba vợ. Muốn có vợ nhỏ, người chồng phải được sự thỏa thuận của vợ cả. Nếu vợ cả không tán thành, người chồng có thể li dị và đòi lại sính lễ. Li dị nhau mà người đàn bà đi lấy chồng khác thì phải trả đủ tổn phí cho chồng cũ.

Ngày nay đàn ông làm chủ gia đình song người phụ nữ vẫn được tôn trọng; thường thì người chồng hỏi ý kiến mẹ và vợ trước khi quyết định một việc gì quan trọng trong nhà.

Ở đồng bào Stiêng, tục lệ cưới chị em vợ (sororat) hoặc anh em chồng (levirat) đã mờ nhạt. Vợ chết, người chồng có thể lấy em gái vợ song không được lấy chị vợ; chồng chết, người vợ có thể lấy em trai chồng chứ không được lấy anh chồng. Làm không đúng sẽ bị phạt vạ nặng. Luật tục Stiêng có một số ngoại lệ: chồng chết, vợ được đi lấy chồng khác; nếu chồng còn sống nhưng chưa nộp đủ sính lễ thì tiếp tục ở nhà vợ làm trừ nợ cho đủ, nếu hai vợ chồng cưới nhau lâu mà chưa có con thì chồng được lấy vợ khác...

Việc trừng phạt tội ngoại tình có sự phân biệt đối xử. Người đàn bà Stiêng mắc lỗi:

- Ngoại tình với người đàn ông quen trong rừng thì chị và anh ta bị phạt vạ 1 con heo, 1 ghè rượu.

- Ngoại tình với người lạ thì mức phạt vạ gấp đôi.

- Ngoại tình ngay trong nhà thì người đàn ông phải trả cho người chồng 1 con trâu, 1 con heo lớn và 1 ché rượu nộp cho làng. Người vợ bị đánh đòn để răn đe. Nếu tái phạm, chị ta sẽ bị li dị và gia đình hoặc người tình phải bồi hoàn sính lễ đám cưới trước đây. Nếu người tình không trả đủ thì phải làm tôi tớ (đik) trừ nợ.

- Người chồng đi ngoại tình chỉ bị phạt nhẹ một con gà.

IV.3.4. Sinh đẻ:

Xưa kia, khi vợ sắp đến ngày sinh, người chồng cất một chòi tranh cho vợ ra ở đó. Sản phụ chuyển bụng thì chồng hoặc người nhà đi rước bà mụ về đỡ đẻ. Người ta vào rừng tìm một số lá rừng, rễ cây rừng (theo bài thuốc dân gian truyền miệng) đem về nấu tắm cho sản phụ và hài nhi. Vài ngày sau, người mẹ có thể bồng đứa bé ra suối tắm theo phong tục cổ truyền.

Từ lúc đứa bé sinh ra, gia đình cắm cành lá cấm không cho người lạ vào nhà, vào chòi vì kiêng cữ ma quỉ theo người tới thăm sẽ gây bệnh cho sản phụ, hài nhi. Sau một tuần bảy ngày, người chồng đưa vợ con về nhà, làm lễ cúng: mừng đứa trẻ ra đời thấy ánh mặt trời, thấy cha mẹ, mong cho bé luôn luôn khỏe mạnh chóng lớn. Lễ vật là con gà, chai rượu, trầu cau, bánh nếp... Đồng thời chủ nhà trả công bà mụ tùy khả năng của gia đình.

Nếu đứa con đầu lòng sinh ra chẳng may chết non thì gia đình kiêng ăn thịt mển và chim cu một thời gian dài dăm, bảy tháng.

Sau mười ngày nằm cữ, sản phụ có thể đi làm. Ngày nay phụ nữ Stiêng sinh đẻ ở trạm xá xã (hoặc nhà hộ sinh), được hướng dẫn chăm sóc đúng vệ sinh và chỉ đi làm khi sức khỏe phục hồi hoàn toàn. Việc tắm suối cho đứa bé đã bỏ vì dễ làm bé bị bệnh dẫn đến tử vong.

IV.3.5. Ma chay:

Khi trong gia đình người Stiêng có ai qua đời, người nhà một mặt báo tang, mặt khác giết gà (nhà khá giả giết heo) mời bà con trong sóc và họ hàng gần xa về dự lễ tang.

Một số người khỏe mạnh mang theo con gà, lít rượu và trầu cau vào rừng chọn cây dầu chai hoặc gõ đỏ có đường kính đủ lớn, sau khi cúng xong thì hạ cây, cắt hai khúc (mỗi khúc dài gần 3 mét), dùng rìu mổ khúc cây rỗng như chiếc thuyền độc mộc để làm cỗ hàng (quan tài).

Thi hài được chùi rửa sạch sẽ, liệm vải trắng rồi đặt vào hòm. Trước đây, hòm để trong nhà tám ngày (nay chỉ hai, ba ngày) để họ hàng và người quen đến khóc lóc chia buồn nhờ người chết chuyển lời của họ đến các người thân đã qua đời. Một số gia đình có thể không đến dự vì kiêng kị do khác bộ tộc, khác yang, hoặc trước kia bị bắt làm tôi tớ (đik) tuy đã hòa nhập với cộng đồng mới song vẫn giữ tín ngưỡng cũ, yang cũ của bộ tộc mình.

Trước khi đưa đám, gia chủ làm mâm cơm cúng rồi khiêng hòm đi. Họ mang theo con gà, chai rượu ra tới nghĩa địa làm lễ cúng thần đất xin chỗ chôn cất rồi mới đào huyệt.

Chôn cất xong, tùy gia cảnh mà tang chủ cúng mả bằng heo hay trâu. Mả đắp cao, người Stiêng cũng có tục chia của cho người chết, một số vật dụng: tên ná, gùi, chà gạt, rựa, tĩn... đặt bên mả.

Đắp điếm xong, những người đưa đám ù té chạy về nhà vì sợ ma quỉ ám. Một người lấy lông gà bôi vào cục đá, miếng sắt rồi quẹt vào chén tiết gà, thoa lên tay chân người đưa đám như muốn xóa sạch mọi dính líu với người quá cố. Sau đó mọi người mới được vào nhà.

Cả sóc không đi làm một tuần bảy ngày, không đến nhà có người chết. Căn nhà có người chết được dời đi ít nhất 1 mét - vì là nhà tranh cột cây nên việc dời nhà cũng dễ - Chồng chết, vợ cắt tóc ngắn; vợ chết, chồng cạo trọc hàm ý để tang.

Ba ngày sau, gia đình người quá cố cúng mở cửa mả là lễ cúng cuối cùng (do chịu ảnh hưởng phong tục một số dân tộc anh em). Người Stiêng không cúng giỗ hàng năm. Chỉ khi nào gia đình có người đau ốm, đi coi bói, thấy nói do ông bà gây ra bệnh thì mới cúng và sửa sang đắp lại mộ.

IV.3.6. Tín ngưỡng:

Người Stiêng tin rằng vạn vật hữu thần và ông bà tổ tiên có thể giúp người ta gặp hên làm ăn may mắn hoặc tránh bị xui xẻo làm ăn thất bát, bệnh tật.

Mỗi sóc có một miếu nhỏ thờ neak tà đó là ngẫu tượng nhỏ bằng gỗ, đá - Miếu đặt ở một gốc cây lớn tại ngã ba, ngã tư của sóc mà dân thường qua lại. Theo một số nhà nghiên cứu thì neak tà là vị thần Khmer mà người Stiêng vay mượn trong quá trình giao lưu. Trong cuốn sách Người Việt gốc Miên (1969), Lê Hương ghi một số neak tà như neak tà tức: thủy thần, neak tà phnom: thần núi, neak tà prey: thần rừng, neak tà xre: thần ruộng, neak tà prek: thần sông, neak tà đam pô: thần cây đa, neak tà popue tuk: thần bọt nước, neak tà krapum chuuk: thần gương sen... Người Stiêng thờ thần mặt trời, thần sấm sét cai quản đất đai, thần mặt trăng coi sóc việc gặt hái và cây cối... ngoài ra cũng tin rằng có một số ác thần và ma quỉ. Lỡ chặt củi cạnh gò mối hoặc ngồi dưới gốc cây cao to mà về nhà sau đó bị bệnh thì người ta san phẳng gò mối, chặt hạ cây đó.

Sóc thường có bà bóng (mây gruh) coi bói. Nếu gia đình có chuyện bất thường thì đi coi bói; bà bóng phán thần, ma qủi hoặc ông bà quở phạt thì bà chủ mời bà bóng tới cúng. Mây gruh nhảy nhót theo nhịp chiêng, hoa tay muá chân theo nhịp đồng thời hát lời cầu khấn.

Khi sóc có nhiều người đau ốm, người ta góp rượu thịt, gạo tổ chức chung tại miếu thờ neak tà. Cúng xong, mọi người ăn uống rồi giải tán. Lễ cúng neak tà không theo hạn định nào.

Là cư dân nông nghiệp cổ truyền, người Stiêng có một số lễ cúng nông nghiệp hàng năm:

- Đầu năm âm lịch, họ tổ chức cúng veha cầu cho cộng đồng được bình an, mùa màng tươi tốt. Mọi nhà góp lễ vật rồi cùng ăn uống. Một số nhà nghiên cứu cho rằng lễ cúng veha chịu ảnh hưởng của người Khmer. Lễ này tương tự lễ kì yên của người Việt (chỉ khác là lễ kì yên ở Đồng Nai thường tổ chức vào tháng mười một âm lịch).

- Bắt đầu phát nương rẫy,người ta làm lễ cúng thần đất.

- Khi chọc lỗ tỉa lúa, người ta làm lễ cúng thần lúa.

- Tháng tám âm lịch trổ đòng, mọi nhà đều cúng xin mùa màng tốt tươi, chắc ăn. Khi lúa chín, người ta cúng cơm mới.

- Người Stiêng tin mỗi con suối, mỗi khúc sông đều có thần cai quản nên khi đánh được mẻ lưới đầu tiên, sẽ làm lễ cúng pha bào (hình thức trả lễ thần sông suối).

- Từ tháng chạp âm lịch trở đi, sau khi xong lúa và lúa đã ở trong kho, người Stiêng làm lễ cúng thần lúa (khuôl bra bar) tương tự lễ ăn nhang lúa của người Châu Ro. Tùy gia đình, người ta mổ gà, mổ heo hoặc trâu ăn uống, hát hò vui vẻ ít nhất một ngày. Đây là lễ hội nông nghiệp lớn nhất của đồng bào Stiêng. Cách đây dăm chục năm, người ta tổ chức đâm trâu như các dân tộc Tây Nguyên, nay hầu như không còn.

Bài khấn lễ cúng khuôl bra bar ở Xuân Hưng như sau:

- Bra te bra tung bra brang, khuôl bra miar ban bar khuôl bra bar cơt chăp cơm nơt ban ban boh ra pa riêng piêng đâm piêng rơ klâu đi xru pooc goong đi goong pooc đic pooc đic rloong pooc goong rlêc kêch ba riêng câp xnăm pan piêng cơt kra pan ba cơt co boh pan boh cơt tmau lơ pcau pan cơt pur tul chim xơr cơt đang hoic pan khuưn tât kche rme tât kranh lanh kêi tât luych tât pul đuk mây kla kla mây klu khuôl tu đac nhu tuar xu hê đuk nhul rxal hê đuk ch'ôm mai veng đuk xêr po bôông klôông po riêng piêng poh chmam hê đuk le le a tơm klơm a chuông đinh puar yuông đa vih a ma đac ya a ghiêu hê đac hê đuôl khuôl đu buôc lơ pôông khuôl yu chuông rinh khuôl bra miar kban ya khuôl bra bra kban cơt chap cơm nơt pan xơr nuc xac lac bic...

"Tôi xin thần đất, mời thần rẫy (cho) được lúa, mời thần lúa về chứng kiến tôi được lúa đầy đồng, cơm thừa cơm nguội (ăn dư dả thả giàn) mua được chiêng, một sào sắm được tôi tớ, không thiếu nợ, năm nào cũng thu hoạch nhiều lúa, được cơm cháy ăn không vơi, được muối như đá không mòn, lúa nhiều như gò đất, nuôi heo được nhiều, được giàu tới già răng rụng, lúc nào cũng lanh lợi, cây trồng luôn luôn tươi tốt. Xin ông bà chứng kiến giùm lời khấn vái (tôi) kêu xin thần suối thần núi, lời khấn vái này xin chư thần làm sao kết được như nhện chăng tơ. Các lễ vật (tôi) sẽ dâng bảy gang cơm, tất cả cá gà rượu chè xin cúng chư thần: rượu bên tay mặt, thịt bên tay trái xin dâng quí thần. Gia đình cầu xin chư vị chứng kiến, dùng đủ và cho chúng tôi ăn ngon ngủ yên..."

Người Stiêng có một số kiêng cữ:

- Đã chọn xong đất làm rẫy hoặc đã phát xong rẫy, nếu gặp rắn, xương rắn, con cù lần, con kì đà thì người ta kiên quyết bỏ không làm.

- Lập sóc mới, cấm người lạ bảy ngày đầu không được vào, dấu hiệu: chăng dây ngang đường và buộc cành lá xanh làm hiệu. Cũng cấm mang vào sóc các ghè đựng rượu (xruung). Ai vi phạm bị phạt nặng. Trong thời gian bảy ngày dân sóc kiêng ăn thịt heo, gà và rau cải. Họ dựng cột buộc trâu chuẩn bị làm lễ lập sóc mới. Đàn ông ngủ toàn bộ trong rừng.

- Thấy chim két bay qua, họ cho là sóc sắp bị tiến công.

- Vào sóc, khách phải gặp trưởng sóc trước tiên. Không được vào nhà người bệnh vì có thể mang cái chết cho người này.

- Nhà sàn dài mới dựng xong thì bảy ngày đầu phải nấu ăn ở gầm sàn, sau đó mới được nấu ăn ở bếp gia đình. Trước cửa ngôi nhà thường treo tổ ong vò vẽ để trấn ma quỉ.

- Chó chết thì phải ăn thịt hoặc quăng đi. Không được chôn vì chỉ người mới được chôn; nếu chôn chó chết thì nhà đó sẽ mất một người.

- Một số nhà kiêng ăn con cá héc, lươn (pen đôông), cá sấu (kara vâư), tôm (paira tu) và một số cây: đọt mây cát (tầm oong), môn nước (pe puôl), bí đao...

- Người nào bị hắt hơi (nhảy mũi) không được ra khỏi nhà ngay, nếu ra sẽ gặp ác quỉ (nếu giải thích theo khoa học thì cơ thể không khỏe cần ở nhà).

- Heo, gà chỉ sinh ba con thì không nuôi, tốt nhất mang bán. Gà không vào chuồng ban đêm thì hôm sau đem thịt để tránh tai họa cho chủ...

Comments