5.2. Sinh hoạt kinh tế

Người Kơho là cư dân nông nghiệp cổ truyền, xưa kia họ chuyên "ăn rừng", "ăn nước trời". Lúc đó họ sống du canh du cư như các dân tộc ít người anh em khác trong vùng. Chu trình làm rẫy là chu trình khép kín: họ trồng hai, ba năm rồi bỏ hóa đất đai từ bảy, tám năm tới mười năm cho đất phục hồi độ màu mỡ, lại quay về khai thác tiếp. Các già làng, trưởng tộc cầm đầu từng họ, từng nhóm dân làng tiến hành chọn đất phát rẫy (mua brê) vào tháng giêng âm lịch. Đến tháng ba âm lịch cây cỏ chặt hạ đã khô, họ đốt rẫy (chu mir). Đến tháng tư, bắt đầu mùa mưa, người ta tỉa hạt (tut kòi).

Rẫy gọi là mir rẫy mới khai phá để trồng vụ đầu là mir pa, rẫy cũ đã trồng là mir jao. Nếu bắt đầu phát rẫy mà gặp trăn, chồn, rùa núi, phủ hầu... thì người ta bỏ không làm vì sợ xui xẻo, điềm xấu.

Công cụ làm nương rẫy gồm: chà gạt (joăh: đọc gioẻ), rựa (bra) rìu (xung), cây chọc lỗ (crmul đọc chrơmun), ống tỉa hạt (ding tut đọc tinh tut)...

Trước khi phát rẫy, bà con làm lễ cúng (boh brê) cầu xin thần rừng cho làm ăn được mùa, đất đai tốt, phát rẫy thuận lợi, đốt rẫy sạch sẽ.

Tiếp đó, đến cúng dọn rẫy (rơ yau) cầu xin khi tỉa hạt thì lúa sớm nảy mầm, mưa thuận gió hòa, công việc làm ăn suôn sẻ mọi bề...

Từ sau ngày giải phóng đến nay, do yêu cầu bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, diện tích nương rẫy ngày càng thu hẹp, bà con dân tộc Kơho lại sang nhượng nương rẫy cho người mới tới nên đến nay hầu như bà con không làm nương rẫy mấy.

Đối với một số nương rẫy tương đối bằng phẳng và ở nơi thấp, bà con chuyển thành ruộng khô (xrê răn) canh tác liên tục nhiều năm với kỹ thuật dùng cuốc (jơ leng) để cuốc phơi đất diệt cỏ (po ụ is, đọc is là iz) rồi cuốc trở đất và băm nhỏ đất rơ loh ụ. Những gia đình có trâu bò, có cày (lơ war) và bừa (xkam) thì người ta tiến hành cày khô (lơ òr xrê răn) khi có một vài trận mưa đầu mùa (trổ mìu bồ xnam). Mưa đã thấm đầy ruộng người ta dùng bừa trang phẳng mặt ruộng và làm đất nhuyễn rồi xạ lúa. Ở những chân ruộng sình (xrê bo) và ruộng lầy thụt (xrê lơgơl), người ta không thể dùng trâu bò cày bừa mà dùng trâu giẵm cho nổi sình, vơ hết cỏ rồi dùng bàn trang (lơ pan tơring ù do trâu kéo) để trang phẳng ruộng (lơ kơr xrê). Loại ruộng sình, ruộng lầy thụt không thể xạ trực tiếp xuống mà phải làm theo các công đoạn: gieo mạ, nhổ mạ (buih tơ nih) và cấy lúa (tăm kòi), làm cỏ (lơ nỵhơt xtê ya nỵhơt đọc là nhơhơt)...

Các công cụ làm ruộng của người Kơho gồm: chà gạt (joăh), cuốc (jơ leng), xẻng (bìa), cày (lơ war), bừa (xkam), cào cỏ (njar), bàn trang ruộng (lơ pan tơring ù)...

Các nghi lễ làm ruộng cũng tương tự cách lễ cúng khi làm rẫy, mỗi làng xóm thường cùng tiến hành vào một thời điểm. Các già làng chịu trách nhiệm đứng ra tổ chức và bà con trong làng đều đóng góp: rượu, gà, vịt, cơm nếp... tùy theo khả năng từng gia đình. Vào lúc tiến hành các nghi lễ nông nghiệp này, mọi người phải kiêng kị không ăn các con: trăn, rắn, chó, chồn, kì đà, rùa núi... Những con vật này lỡ chết tại khu vực ruộng, rẫy thì người ta bỏ vài chục mét vuông không trồng tỉa. Nếu những con vật này chết trong nhà thì đó là điềm không lành, điều tối kị.

Khi lúa đang thì con gái mọc xanh tốt, bà con cúng lúa xanh kiăp măh cầu mong lúa tươi tốt, làm đòng chắc hạt. Việc cúng này do từng nhà làm đơn sơ thôi.

Lúa chín nửa bông, bà con làm lễ cúng lúa chín nỵô rơ mul (nỵô đọc là nhô) tương tự người Việt cúng cơm mới để tạ ơn các thần đã cho một vụ thu hoạch và cầu xin cho việc gặt hái thuận lợi, thóc về đến nhà không hao hớt.

Như vậy, một chu kỳ nông nghiệp đã hoàn thành trong khoảng chín mười tháng.

- Lịch của người Kơho như sau:

Tháng giêng

: kơnhai đul

Tháng bảy

: kơnhai por

Tháng hai

: kơnhai bar

Tháng tám

: kơnhai ph'am

Tháng ba

: kơnhai pe

Tháng chín

: kơnhai xin

Tháng tư

:kơnhai poan

Tháng mười

: kơnhai jơt

Tháng năm

:kơnhai pram

Tháng mười một

: kơnhai jơt đul

Tháng sáu

: kơnhai prau

Tháng mười hai

: kơnhai jơt bar

Lịch của người Kơho lấy từ lịch của người Việt (lịch âm dương) nhưng mùa vụ thì căn cứ trời mưa nên có năm bà con làm ruộng rẫy sớm nếu trời mưa sớm; khi mưa trễ thì mùa vụ lui lại. Những lúc nông nhàn, người ta đánh cá ở sông suối với các dụng cụ: chài (jal), chĩa (cràng đọc là chràng), vó (ju), rổ vớt (nrir), nơm (jrut), lờ (pàm), đăng (xrọ), cần câu (đàr) (với kỹ thuật câu cặm (ping kai) và câu giăng (rơ nòng), ống trúm (ding dung đọc tinh tung). Ở các khúc suối nhỏ ít nước, người ta tát cá (xạt ka) hoặc dùng cây độc (krao ka) để bắt. Hai thứ cây độc (proh)(kơ tanh) mọc hoang trong rừng, người ta lấy lá, thân, hạt của chúng đem giã nát rồi thả xuống suối, cá trúng độc nổi lên, bà con dùng rổ mà vớt.

Nhìn số lượng các loại dụng cụ đánh cá, người ta thấy dân Kơho thành thạo với nghề phụ này, chắc hẳn nghề đánh cá một thời là nguồn cung ứng thực phẩm quan trọng của họ.

Xưa kia, người ta cúng suối không phải mong thần suối cho nhiều cá ăn. Đối với người Kơho, con suối là tượng trưng cho loài rắn mang lại những điều không may cho con người, cúng suối là cầu xin ma quỉ không ám con người gây ra bệnh tật, cầu cho người bệnh chóng khỏi. Việc cúng suối chỉ tiến hành khi làng xóm có người mắc bệnh, lễ vật sơ sài, có khi chỉ là cầu khấn miệng mà thôi.

Khi rừng còn bao phủ khắp vùng cư trú của người Kơho thì săn bắn là nguồn thu nhập đáng kể của họ. Các dụng cụ săn bắn khá phong phú: ná (xơna), tên (kon na, lao crèng đọc chrèng), bẫy (dă đọc yá), bẫy thòng lọng để xiết cổ thú vật (dă ko), bẫy xiết chân thú vật (dă jăn), bẫy đâm (tơ o là một loại mang cung, bẫy có nhiều ngọn lao nhọn)...

Người Kơho thường săn bắt các loài thú: khỉ, heo rừng, nai, mển, chồn... Họ kiêng không giết, không ăn thịt, không đem về nhà con trăn; rắn cũng ít người ăn, có thể giết nhưng không được đem vào nhà...

Người Kơho thường đi săn tập thể, có dùng chó săn. Khi săn bắt được một con thú, thì tùy to nhỏ mà có cách chia khác nhau:

- Thường thường, người bắn được con vật sẽ hưởng cái đầu, còn thịt thì chia đều cho các thành viên tham gia cuộc săn.

- Nếu con vật lớn, thì chia đều cho cả làng, các người đi săn được nhiều hơn một chút.

- Nếu con thú nhỏ thì người ta băm nhỏ, dùng chén chia đều phần thịt cho các thành viên đi săn.

- Nếu con thú quá nhỏ (con nhím, con sóc chẳng hạn), người ta nấu lên, mọi thành viên ăn chung một bữa đầy vui vẻ.

Chó săn không được tính như một thành viên, không ưu đãi, chỉ được đối xử như thường ngày (nghĩa là được cho ăn xương thừa). Khi săn được con thú lớn: hươu, nai, heo rừng, min... người ta làm lễ cúng Yang rừng hoi Yang brê tạ ơn thần rừng. Đi săn không được gì, người ta tranh thủ bắt cá, hái rau rừng: đọt mây và rau ria là hai thứ lúc nào trong rừng cũng có.

Từng gia đình chăn nuôi heo, gà vịt, trâu bò... chủ yếu dùng vào các lễ cúng, chứ chưa làm ra sản phẩm hàng hóa. Số gia súc ít, lại chăn thả tự do nên năng suất chăn nuôi nói chung thấp, chỉ đáp ứng được nhu cầu rất khiêm tốn.

Lúc no đủ người Kơho thường ăn ba bữa một ngày: sáng, trưa, chiều. Cơm tẻ (piêng ngan) là lương thực chính, thực phẩm lấy từ sản phẩm hái lượm, đánh cá hoặc săn bắn. Gạo nếp được nấu cơm nếp (piêng bar) hoặc xôi, bánh dùng trong các ngày lễ, cúng... (hoặc khi thích ăn).

Người ta uống nước suối là chính. Ở các ấp Kơho, chưa có giếng đào. Khi đi rừng, ở những chỗ khô khan hiếm nước, bà con thường chặt dây leo lấy nước uống (xe jroh). Trong các dịp cúng lễ, rượu là thức uống truyền thống. Rượu đế (ơ lac) thường phải mua, rượu cần (rơ nàm) do bà con tự làm.

Người Kơho làm rượu cần theo hai công đoạn:

- Ủ men (kanh)

Gạo (tẻ hoặc nếp) đem ngâm khoảng một ngày cho mềm rồi vớt ra cho ráo nước. Lấy lá rừng (nô tơ klo đọc: nhô tơ klo) rửa sạch, phơi ráo nước rồi đem giã chung với gạo đã ngâm cho thật nhuyễn. Lấy khối bột nhão nhồi thành bánh tròn dẹp hoặc làm thành nắm tròn cỡ nắm tay, để gần bếp lửa cho khô dần dần. Con men phát triển trong cục bột, người ta không đem phơi nắng sợ men kém phát triển, làm rượu lạt.

- Hầm rượu (cài rượu)

Nấu cơm gạo tẻ hoặc nếp tùy khả năng mỗi nhà. Cơm hơi nhão để dễ trộn với men rượu khi đã nguội. Người ta thêm vỏ trấu sạch theo tỉ lệ thích hợp rồi cho tất cả vào ché, lèn thật chặt.

Tro bếp trộn nhão (với nước) dùng để bịt kín miệng ché. Cất ché rượu vào một góc nhà.

Ché rượu để khoảng một tháng thì gạo lên men đầy đủ, khi gỡ bỏ lớp tro hàn miệng, bên trong bốc mùi thơm nồng nàn. Uống sớm hơn thì rượu chưa ngon.

Người ta lấy lá cỏ tranh hoặc lá tre chèn kín miệng ché để trấu không nổi lên. Một số ống hút (bằng tre nhỏ) cắm sâu vào ché, người ta chuẩn bị cho tiệc vui. Rượu cần (rơ nàm) thoạt đầu có màu nâu đục, khi uống đổ thêm nước lã cho tới miệng ché. Khi nào nước lã xuống tới đáy ché thì rươụ lạt, người ta thôi không uống tiếp (và chuyển sang ché mới hoặc uống rượu đế).

Người uống ngụm rượu cần đầu tiên là vị già làng hoặc chủ nhà. Nếu là lễ cúng thần lúa (loh Yang koi đọc: lở Yàng kòi) thì bà mẹ lúa được khai mạc ché rượu đầu tiên.

Thứ tự uống: già làng - khách - người lớn - thanh niên.

Một lễ cúng lớn hoặc một đám cưới lớn có thể dùng đến hàng chục ché rượu cần (loại ché cao trên 1 mét).

Người Kơho có vài nghề thủ công xưa kia khá phát triển song bây giờ lụi tàn dần. Nghề rèn đã biến mất, các công cụ lao động bằng sắt đều được mua ở chợ. Nghề dệt mang tính tự cấp tự túc trong nội bộ cộng đồng chứ không có sản phẩm hàng hóa nào để bán. Bà con còn dệt váy (tanh ôi), dệt áo (tanh xo kroh)... và nhà nào cũng dệt chiếu (tanh bil) bằng một loại lá rừng, đan gùi (tan xah)... Có mấy loại gùi: gùi lớn (xah dong), gùi nhỏ (xah dit đọc tit), gùi cao (xah poh), gùi trang trí (xah bôt), gùi có lỗ (xah bài đọc: vài)... dùng vào các công việc khác nhau.

Cách nay hơn nửa thế kỉ, đàn ông Kơho thường đóng khố (tron), mặc áo hoặc cởi trần, trên đầu có lúc cột chiếc khăn nhỏ. Nam giới không cà răng căng tai (bằng khúc ngà voi hoặc khúc gỗ quí), tay đeo vòng đồng búi tó cài chiếc lông chim chèo bẻo (căp xoh pling). Một số ông già buộc sợi dây ngang bụng, trên sợi dây cài từ ba đến năm chiếc lục lạc (bơ liêm) nhỏ, khi đi lại tạo nên tiếng nhạc vui tai.

Phụ nữ Kơho mặc váy (bơn) có hoa văn, áo và quấn khăn (jră) trên đầu. Búi tóc thường cài chiếc lược sừng trâu và con dao nhỏ cán cong (pis cut đọc: piz chut), nhiều cô trang điểm thêm chiếc lông chim pling vào các dịp lễ hội. Đồ trang sức của phụ nữ phong phú hơn nam giới, ngoài lục lạc đính vào gấu váy để tạo âm thanh vui tai và làm căng chiếc váy làm tăng tính thẩm mĩ, còn có: vòng đồng (kòng tê), chuỗi hạt (nỵong đọc: nhong), kiềng (vòng cổ kòng soạn), bông tai (bơ no), nhẫn (xơ biat), nhẫn cưới (xơ biat tom bau)... Vòng đồng đeo tay (kòng tê) là vật thiêng liêng tượng trưng cho sự thủy chung, là chứng tích của tình yêu nồng thắm. Lục lạc cũng được đính vào một số vật tùy thân có giá để khi lỡ rơi rớt cũng dễ tìm (do âm thanh phát ra).

Comments