5.3. Tổ chức xã hội, gia đình và các phong tục tập quán

V.3.1. Tổ chức xã hội:

Bòn (làng) là đơn vị cư trú cơ bản của người Kơho. Mỗi làng gồm vài căn nhà dài (hìu jòng); mỗi căn nhà dài là một dòng họ (tum) cư ngụ. Đứng đầu căn nhà dài là vị tộc trưởng (jơ na). Mỗi căn nhà dài có hàng chục gia đình cùng quan hệ huyết thống. Mỗi gia đình nhỏ ở một, hai gian và các gian chỉ ngăn cách sơ sài bằng tấm liếp tre, nứa. Người ta ăn uống, ngồi chơi, tiếp khách và ngủ ngay trên sàn nhà, gần bếp lửa của mỗi gia đình.

Mỗi nhà sàn dài có một chòi lúa ở cách đó chừng dăm, bảy mét do một mẹ lúa cai quản và phân phối cho từng gia đình nhỏ.

Đứng đầu bòn là vị chủ làng (kuang bòn) có uy tín rất cao, được mọi người tuân phục. Dọc đường 20, từ km 133 trở đi, xưa kia một số bòn ở gần nhau đã tổ chức thành liên bòn do kuang bòn có thế lực nhất đứng đầu. Thời thuộc Pháp, kuang bòn còn là chức sắc do nhà cầm quyền bổ nhiệm nên càng có thế lực.

Do chiến tranh kéo dài, các nhà sàn dài bị phá hủy, người dân Kơho bị xúc tát vào các ấp chiến lược chuyển sang ở nhà trệt nhỏ theo từng gia đình nhỏ. Lối sống tập thể cổ truyền bị phá vỡ hoàn toàn.

Xã hội Kơho chưa phân hóa sâu sắc giàu nghèo, tuy mỗi bòn đều có một vài hộ nhiều trâu, ché, chiêng hơn những gia đình khác.

Ngày nay, nhìn chung đời sống của đồng bào còn nhiều khó khăn. Người Kơho đã có đại biểu trong các cơ quan, đoàn thể ở cơ sở ấp, xã.

V.3.2. Gia đình:

Từ chế độ theo dòng mẹ, ngày nay, gia đình nhỏ Kơho do người cha, người chồng làm chủ vì họ có trách nhiệm làm lụng để nuôi cả nhà. Con trai trưởng được coi trọng.

Thuật ngữ quan hệ thân tộc hiện nay của người Kơho ở Đồng Nai như sau:

 - Cụ ông: kuang kra

 - Anh rể: bi bơr tâu

 - Cụ bà: pang kra

 - Chị gái: bi ur

 - Ông: ông

 - Em gái: oh ur

 - Ông nội: ông kra bặp

 - Em dâu: ban

 - Bà nội: mọ kra bặp

 - Em trai: oh klau

 - Bà: mọ

 - Em rể: bơr tâu

 - Ông ngoại: ông kra me

 - Anh chồng: bi bao klau

 - Bà ngoại: mọ kra me

 - Anh vợ: bi bao ur

 - Cha: bặp

 - Chị chồng: bi ur bao klau

 - Mẹ: me

 - Em gái vợ: oh ur đăh bao ur

 - Bác: woa dòng

 - Em gái chồng: oh ur bao klau

 - Chú: woa oh

 - Em trai chồng: oh bao klau

 - Cô: me loh

 - Anh vợ: bi bao ur

 - Cậu: kôn

 - Chị vợ: poh bi ur

 - Cha chồng: poh bặp

 - Chị dâu: bi ban

 - Mẹ chồng: poh me

 - Em trai vợ:oh klau ur

 - Bác trai: poh mi

 - Con trai: kon klau

 - Thím: me êt

 - Con gái: kon ur

 - Dượng: woa oh

 - Con dâu: ban kon

 - Dì: me jông

 - Con rể: bơ tâu kon

 - Cha vợ: poh bặp ur

 - Cháu: sao

 - Mẹ vợ: poh me ur.

 - Cháu nội: sao đăh bặp

 - Bác gái: bi ur dòng

 - Cháu ngoại: sao đăh ur

 - Chồng: bao klau

 - Chắt: xê

 - Vợ: bao ur

 - Chắt nội: xê bặp

 - Anh trai: bi klau

 - Chắt ngoại: xê ur

V.3.3. Cưới xin:

Từ xa xưa, nam nữ thanh niên được tự do yêu đương, tìm hiểu nhau. Chàng thanh niên thường lớn hơn bạn gái vài tuổi, chủ động tìm hiểu để đi tới hôn nhân. Đôi trai gái được tự do gặp gỡ trò chuyện, tâm sự song không được ăn nằm với nhau. Người con gái lỡ có bầu với bạn trai thì vẫn được làm đám cưới, nhưng phải nộp cho bòn một món phạt vạ khá nặng.

Trước khi đi đến quyết định cưới xin, nam nữ thường tặng nhau một số vật kỉ niệm: vòng, nhẫn, chuỗi hạt đeo cổ... các kỉ vật này được trình cho cha mẹ đôi bên biết.

Một đám cưới của người Kơho thường trải qua những lễ sau đây:

- Lễ coi mắt (đám nói):

Nhà gái chủ động đến coi mắt gia đình bên trai (ít khi có chuyện ngược lại). Ông bà mai (kòn ma, kòn gùng) là người có tuổi, biết ăn nói, dẫn đầu đoàn nhà gái qua đàng trai. Khi vào nhà, ông, bà mai đi đầu rồi lần lượt theo thứ tự tuổi tác lớn, nhỏ. Gia đình nhà trai lo làm tiệc, giết gà vịt, làm rượu cần để đãi khách. Hai bên trò chuyện, bàn bạc, đi đến thỏa thuận về sính lễ rồi ấn định ngày cưới.

Khác với người Việt, người Hoa... nhà trai Kơho có quyền đòi sính lễ của nhà gái: chiêng (phèng la), ché, trâu bò, heo, gà vịt, chăn, áo quần... Từ cha mẹ chồng tương lai tới anh chị em chồng đều có quyền ra giá đòi sính lễ. Sau cuộc bàn bạc dài dòng, nhà gái đòi giảm mức lễ vật, hai bên đi đến thống nhất. Nếu đàng gái không chấp nhận mức đòi hỏi (quá cao) của nhà trai thì đám cưới sẽ không thành, nhưng chuyện này ít xảy ra vì cả hai bên nói chung đều biết điều. Nếu đàng trai đi coi mắt nhà gái (hiếm khi có) thì nhà gái có quyền đòi hỏi sính lễ, hồi môn.

- Lễ cưới:

Đúng ngày đã định, nhà trai đến rước dâu. Hôn lễ cử hành có sự chứng giám của ông bà mai, bà con họ hàng đôi bên. Hai bên lo chuẩn bị đồ đạc, nhất là vòng đồng. Hai chiếc vòng đồng đặt trên hai dĩa gạo đặt sát nhau trên bàn thờ. Sau khi lễ, ông bà mai nhà trai đeo vòng vào tay cô dâu, ông bà mai đàng gái đeo vòng vào tay chú rể. Việc đeo vòng có ý nghĩa đặc biệt: sau này đôi vợ chồng đó có trục trặc gì thì các ông bà mai có trách nhiệm hòa giải hoặc giải quyết hậu quả.

Phong tục Kơho cấm kị các cuộc hôn nhân cùng dòng họ:

- Con chú con bác không được lấy nhau.

- Con bạn dì không được lấy nhau.

Nếu vi phạm, phải bỏ làng mà đi nơi khác hoặc phải chết để chấm dứt mối quan hệ bất chính. Song con cô con cậu có thể lấy nhau.

Ở người Kơho vẫn còn tục sororat và lêvirat. Nếu vợ chết mà chồng còn trẻ, anh ta có thể lấy chị hoặc em của vợ mình (nếu được đồng ý). Nếu chồng chết, người vợ có thể lấy anh hoặc em trai chồng. Việc lấy chị em vợ hoặc anh em chồng nhằm giữ của cải gia đình khỏi lọt ra ngoài. (Riêng việc lấy anh em chồng, theo luật tục là có tội lớn, vì để giữ vợ cũ và gia sản cho con cái đành chấp nhận phạm tội trên, phải cúng đầu heo để giải tội).

Ngoại tình là tội rất nặng không thể tha thứ.

Người đàn bà có chồng đi ngoại tình với trai chưa vợ thì chồng hoặc gia đình chồng có thể giết hay phạt vạ nặng, tới 10 cặp ché lớn hay 10 con trâu, bò qui định ngang giá với 2 mạng người. Cặp ngoại tình này phải quì gối trước nhà chồng, lạy xin các già làng, các bậc lớn tuổi, họ hàng và chồng. Nếu được người chồng và mọi người đồng ý thì người vợ mới trở lại chung sống với chồng; ngược lại thì chị ta phải ra đi với hai bàn tay trắng. Quá hơn nữa, chồng và gia đình chồng có thể giết cả đôi phạm tội mà không bị khép tội.

Người đàn bà có chồng đi ngoại tình với người đàn ông có vợ thì phải lạy xin cả đôi bên. Bên chồng của người đàn bà ngoại tình có quyền giải quyết trước, sau đó mới tới bên vợ của người đàn ông ngoại tình. Cách xử lí tương tự như cách đã nêu trên.

Nếu đôi ngoại tình bỏ trốn khỏi bòn, già làng cử người thân của cặp ngoại tình đi tìm bằng được, đưa về xử lí theo luật tục.

Vụ ngoại tình dù bị phát giác lúc nào, ở bất cứ nơi nào cũng đều phạt vạ nặng như nhau. Đặc biệt vụ ngoại tình xảy ra ở nhà đàn bà có chồng là điều tối kị, phạt vạ nặng, có thể xử chết.

Hoang thai cũng là tội lớn đối với người Kơho. Người con gái chưa chồng mà có bầu (không cưới xin) sẽ bị đuổi ra khỏi cộng đồng. Gia đình cô gái phải cúng xin, sau ba năm cô ta mới được về làng. Trong thời gian bị đuổi đi, cô gái đơn độc ở ngoài rẫy tự lo liệu mọi sinh hoạt, người làng xa lánh không ai giao du.

Anh chàng nếu nhận con thì được cưới cô gái. Trong lễ cưới (cô gái lỡ có bầu và có con), ngoài các nghi thức chung, người chồng phải dắt vợ lòn dưới sợi chỉ đen - dây gùi - chăng cách mặt đất khoảng 1 mét ở ngang cửa, liên tục bảy lần dưới sự chứng kiến của ông bà mai và hai họ.

Nếu cô gái chửa hoang kiện mà anh con trai không nhận thì làng tổ chức ăn thề. Người ta đun một nồi nước sôi, thả cặp nhẫn vào đó. Sau khi vị già làng làm lễ cúng thần, chàng trai và cô gái cho tay vào lấy chiếc nhẫn ra. Nếu ai trung thực thì được thần linh che chở, sẽ an toàn vô sự (?), còn kẻ tà ý sẽ phỏng và bị phạt vạ rất nặng, kể cả khoản chi phí cúng thần linh và bồi hoàn cho làng tới chứng kiến.(Anh con trai bị kiện mà không chịu tham gia lễ thề nguyền "nhúng tay vào nước sôi" sẽ bị "thư" đến chết). Sau khi nhúng tay vào nước sôi, anh bị phỏng phải về ăn ở với cô gái, chịu trách nhiệm nuôi con. Người Kơho kể lại tục lệ này như truyền thuyết, chớ từ lâu lắm rồi không thấy lễ thề nguyền nữa.

Hai vợ chồng do bất hòa (hay vì lí do nào đó) nếu thuận tình li dị thì "đường ai nấy đi", không bị phạt vạ.

Nếu một bên không thuận li dị thì được quyền phạt vạ người muốn li hôn...

Nhận xét: xưa kia chắc quan hệ trước hôn nhân của người Kơho cũng phổ biến như các dân tộc anh em thuộc ngữ hệ Môn - Khmer sống gần đó. Luật tục trở nên nghiệt ngã với phụ nữ từ khi chế độ theo dòng mẹ lụi tàn, chế độ theo dòng cha dần dần chiếm ưu thế.

V.3.4. Sinh đẻ:

Khác với các dân tộc anh em bản địa, phụ nữ Kơho sinh đẻ ngay tại nhà mình. Chồng và các thành viên khác có trách nhiệm lo săn sóc sản phụ.

Nơi nghỉ ngơi của sản phụ phải yên tĩnh, kiêng các tiếng động mạnh dội tới. Khi sắp sinh, gia đình đón bà mụ có kinh nghiệm, mát tay để đỡ cho bé ra đời suôn sẻ, sau này hay ăn chóng lớn, mạnh khỏe. Sản phụ ăn cháo với muối, cá khô kho mặn, kiêng ăn mỡ; uống một chút rượu và uống thuốc lấy từ cây rừng cho chóng hồi phục sức khỏe. Chị nằm sưởi bằng bếp than ít bữa để chống lạnh. Hai vợ chồng phải kiêng cữ không ăn nằm với nhau trong ba tháng liền.

Sinh bé được bảy ngày, gia đình cúng đặt tên (poh kah mat) với lễ vật là dê, gà vịt, rượu... Các già làng, ông bà, bà mụ, bạn bè... được mời dự lễ đều có món quà: áo, quần, vòng, nhẫn... mừng bé.

Già làng hoặc ông nội đặt tên cho bé và tên không trùng với người trong bòn vừa chết, tên những người trong dòng họ: ông bà, chú bác, dì dượng...

Ngày hôm sau - tức ngày thứ tám sau khi bé ra đời -  gia đình làm lễ tạ ơn bà mụ. Lễ vật gồm: tiền, quần áo, chăn mền, gà vịt..., bà mụ có quyền chọn một vài thứ, có tính cách lấy tượng trưng.

V.3.5. Tang ma:

Trong nhà có người qua đời, thân nhân phải báo tin cho dân làng và họ hàng xa gần được biết.

Một số người khỏe mạnh được cử vào rừng làm lễ xin cây để làm hòm. Khi chọn được cây tung hoặc cây bông lau (gỗ nhẹ, thớ thẳng, mềm) vừa ý, người ta đặt ba cục than đỏ xuống gốc, cầu xin thần rừng (yang brê) cho phép chặt hạ không bị ma quỉ cản phá. Người ta dùng rìu cắt hai khúc cây, mỗi khúc dài khoảng hơn hai mét, rồi khoét mổ hòm và nắp. Xong xuôi, cỗ hòm được khiêng về nhà. Thi hài được lau rửa trước khi khâm liệm.

Hai, ba ngày sau, người ta làm lễ đào huyệt. Người ta cũng đặt ba cục than cháy đỏ xuống nơi định đào huyệt, cầu xin thần rừng ngăn không cho ma qủi tới phá, người chết được yên nghỉ tại đó. Huyệt mộ đào sâu khoảng 1,5 mét trước ngày đưa đám.

Người Kơho chôn người chết vào lúc sáng sớm. Ngôi mả làm nhà mồ đơn giản bằng lá. Người chết được chia của, mấy thứ quí giá thì đặt trong hòm, những thứ khác: chai, ché, gùi... thì đập vỡ và rắc trên mộ. Người chết được chia phần tài sản bằng với phần của người còn sống (thí dụ: gia đình có sáu người thì người quá cố được chia một phần sáu tài sản). Đưa đám trở về, mọi người sau khi tẩy uế theo tục lệ, được mời dự bữa cơm trước khi ai về nhà nấy.

Bảy ngày sau, người nhà ra thăm mộ, sửa sang phần mộ lần đầu cũng là lần cuối cùng. Lúc này hồn người chết đã về cõi khác.

Sau khi thăm mộ, về nhà gia đình làm cỗ cúng để cầu cho linh hồn người chết yên nghỉ, đồng thời tạ ơn bòn và thông báo cho bòn biết đợt lễ tang của gia đình đã kết thúc.

Trong vòng bảy ngày, gia đình có người chết không được đến nhà người khác, không làm rẫy...

Tuy không có tục lệ để tang như người Việt nhưng luật tục Kơho qui định sau ba năm thì chồng (hoặc vợ) mới được tái giá.

Trong trường hợp gia đình có người chết bất đắc kì tử (tai nạn, chết ở sông suối, chết vì bom rơi đạn lạc...) thì gia đình phải kiêng ba năm mới được tới nhà người khác. Có khi cộng đồng bòn đuổi gia đình đó ra ở một góc rừng xa làng trong ba năm; hết kì hạn, gia đình đó làm lễ cúng mới được trở về bòn, đến chơi với mọi nhà.

V.3.6. Một số lễ cúng:

- Cúng thần đất (loh Yang ụ, đọc: lở Yàng ụ)

Người ta cúng thần đất khi tìm xong đất làm nương rẫy. Lễ cúng tiến hành trước khi chặt cây, phát bụi, nhằm cầu xin thổ thần cho làm ăn thuận lợi, hoa màu và lúa trồng tốt tươi, thóc gạo đầy chòi lúa, mọi người luôn mạnh chân khỏe tay.

Các lễ vật gồm: dê, gà vịt, rượu cần.... Vị già làng hoặc trưởng tộc, chủ hộ cầu khấn, van vái chư thần cùng ông bà, tổ tiên.

- Lễ rửa chân trâu (rao jơng rpuh).

Trâu quần cho ruộng lầy nổi sình, đất bùn nhuyễn ra giúp cho việc cấy lúa dễ dàng. Khi xong công đoạn này, người ta làm lễ rửa chân trâu chủ yếu mang tính hình thức (cầu xin, van vái) đơn giản và không cần lễ vật. Từ nay, con trâu được nghỉ ngơi thoải mái không còn lao động vất vả nữa.

- Cúng lúa sắp làm đòng:

Lúa đang thì con gái lên xanh tốt, sắp sửa có đòng thì người ta làm lễ cúng cầu cho mùa màng tươi tốt, thu hoạch nhiều. Lễ vật: gà vịt, dê, rượu... và cúng tại nương rẫy hay bờ ruộng.

- Cúng lúa chín:

Tạ ơn các thần đã cho một vụ thu hoạch tốt đẹp. Người ta cúng ngay tại ruộng, rẫy với lễ vật là gà vịt, rượu...

- Cúng thần lúa: (loh Yang koi đọc: lở Yàng kòi)

Là lễ cúng trọng thể, tương tự tục ăn nhang của người Châu Ro. Sau khi thu hoạch xong xuôi, từng dòng họ (nay thì từng hộ) làm lễ cúng thần lúa. Người ta lập bàn thờ, trang trí cây tre vót bông ở đỉnh tượng trưng cho bông lúa, một cây có bông bằng vải kết hoa, Bàn thờ có: cốm dẹp, bánh chưng, bánh dày, củ khoai môn, bộ đồ lòng con vật cúng, li rượu cần, đọt mây... Từ bàn nhang, có hai sợi chỉ treo xuống bình rượu cần để dẫn đường.

Người ta cúng tại chòi lúa trước, sau đó mới làm lễ cúng trong nhà (có đọc lời cầu khấn, van vái, tạ ơn và hứa trả vụ sau...). Sau lễ cúng, tiệc được dọn ra đãi khách trong tiếng cồng chiêng vang dội. Lễ cúng thần lúa trước kia kéo dài vài ba ngày.

- Lễ đâm trâu: (nỵo sa rpuh đọc: nhô xa rơpú)

Là một lễ hội trọng thể trong các dịp: cầu an cho làng xóm hoặc kết nghĩa giữa các làng.

Trên một bãi đất rộng của bòn, người ta dựng một cây cột cao (nđăh) có bông tre và một cột thấp (kơrơng) để cột con trâu hiến tế. Trâu được cột vào đó trước một ngày.

Khoảng bảy giờ sáng, lễ đâm trâu bắt đầu.

Nếu là cúng cầu an cho làng xóm thì vị già làng lãnh trách nhiệm đâm trâu. Nếu là lễ kết nghĩa thì người bạn kết nghĩa sẽ đâm trâu.

Dụng cụ để đâm trâu là một ngọn giáo sắc cả hai lưỡi (lưỡi giáo hình búp đa). Người đâm lựa thế, đâm một nhát từ hông trâu bên trái xuyên vào tim. Con vật gục ngay xuống và người ta bôi máu trâu lên một số vật: bông tre, hòn đá thờ của dòng họ...

Nếu là đâm trâu để cầu an thì thịt trâu đem làm tiệc đãi cả bòn. Nếu đâm trâu kết nghĩa thì con vật được xẻ đôi, mỗi bên lấy một nửa làm tiệc đãi khách, họ hàng cùng hưởng. Bên kia sẽ làm lễ đâm trâu mời vào dịp khác.

Ngày trước, bà con Kơho làng Là Ủ (nay là ấp Phú Kiên, xã Phú Bình) thường cúng miễu tại khu Bàu nước sôi (nay là khu vực Công ty nước khoáng Đa Kai). Hàng năm, bà con cúng dê hay trâu, nay tục lệ này không còn (cùng với các lễ cúng nông nghiệp khác). Bà con đã theo đạo Tin Lành.

- Lễ cúng yang rừng (hoi yang brê).

Khi săn được thú lớn hay nhiều thú nhỏ, người ta cúng tạ ơn thần rừng. Lễ vật là thịt thú săn được. Số người tham dự ít, dăm mười người của cuộc săn mà thôi. Người ta cúng tại rừng, nấu nướng xong thì ăn tại chỗ, không mang thức ăn về mà chỉ mang phần thịt sống về thôi.

V.3.7. Đời sống tâm linh:

Cũng như dân tộc Mạ, người Kơho tin rằng có một vị thần cao nhất là Nđu (như Thượng đế). Nhưng bà con thường cúng vái những vị thần ở cấp thấp hơn, gần gũi hơn: thần đất, thần rừng, thần lúa, thần núi, thần sông...

Bà bóng (jơnăng) không phải là người chuyên nghiệp gọi hồn, làm bùa. Bà ta vẫn tham gia lao động bình thường, chỉ khi gia đình nào có người đau ốm mới rước về để cầu cúng xin lành bệnh. Bà bóng gọi hồn tổ tiên, ông bà về giúp đỡ con cháu mau bình phục.

Comments