6.2. Các hình thái kinh tế

Người Hoa đến làm ăn sinh sống lâu đời ở Đồng Nai cư trú ở khắp nơi: thị trấn, thị tứ, nông thôn. Họ làm đủ mọi loại nghề khác nhau:

- Người bang Quảng thường mở quán ăn và tiệm chạp phô (tạp hóa).

- Người Tiều (Triều Châu) buôn bán vặt, chế biến trà, gánh nhuộm rong, bán xe đẩy (thạch, các thứ giải khát, bột chiên...), trồng rau...

- Người Thượng Hải và Phúc Kiến buôn đồ sắt, trồng răng...

- Người Hẹ bán thuốc bắc, làm nghề đục đá ở Bửu Long, mở lò gạch, lò gốm ở Tân Vạn, Hóa An... Hàng trăm gia đình người Hoa làm nghề đục đá ở phường Bửu Long nay phải bỏ nghề do không được phép khai thác đá núi Bửu Long và các vùng lân cận (để bảo vệ di tích thắng cảnh); nay chỉ còn khoảng một chục hộ tạc tượng, làm cột đèn trang trí, cối, bia đá...

Thủa ban đầu mới tới, họ chỉ có đôi quang gánh, sẵn sàng làm đủ mọi thứ lao động nặng nhọc. Do tính cần cù chịu cực, do tính toán kĩ, được đồng hương tới trước giúp đỡ vốn liếng và mách bảo kinh nghiệm... lần hồi phần đông khấm khá lên, một số ít trở thành giàu có. Những người Hoa sống ở thị trấn, thị tứ, thành phố nói chung thạo nghề buôn bán và nghề thủ công.

Nhóm người Tiều thạo nghề trồng rau, họ thường ở thị trấn, thị tứ - nơi tập trung dân cư, tiêu thụ nhiều thực phẩm trong đó có rau xanh.

Nhóm người Hoa từ miền Bắc di cư vào đây sau hiệp định Genève 1954 phần đông chuyên nghề ruộng rẫy vì họ vốn là nông dân. Đến Biên Hòa và Long Khánh (cũ), vì không có ruộng, họ chuyển qua làm nương rẫy. Từ km 118 đến km 125 trên Quốc lộ 20 vào khoảng trước năm 1968, rừng rậm um tùm còn mọc sát quốc lộ, dân cư thưa thớt. Đất đỏ bazan màu mỡ đã thu hút mạnh mẽ đông đảo người Hoa tới phá rừng làm nương rẫy. Họ giỏi về trồng tỉa đậu tương và thuốc lá, hai loại cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị cao, cũng đòi hỏi kĩ thuật cao.

Công cụ trồng trọt phổ biến và đơn giản là chiếc cuốc bàn lưỡi to dùng để lật đất, xới đất và làm cỏ ở nơi đất đỏ xen đá cứng. Từ trước ngày giải phóng, một số hộ người Hoa có khả năng đã mua máy cày lớn, máy xới nhỏ để làm đất trên các nương rẫy, cuối vụ thì các loại máy nói trên được dùng chuyên chở sản phẩm thu hoạch.

Hàng năm, người Hoa trồng hai vụ đậu tương. Vụ đầu làm vào sau Tết âm lịch. Khoảng tháng hai ta, họ làm đất, xới cỏ, để khô rồi đốt. Do có kinh nghiệm quan sát thời tiết, họ thường gieo hạt vào đúng một tuần trước khi có những cơn mưa đầu mùa. Hạt giống nằm dưới lớp đất mỏng gặp mưa sẽ nảy mầm, từ đó trở đi mưa đều thì cây mọc mạnh. Nếu để có mưa mới tra hạt thì cây mọc không đều, không tốt. Bà con giải thích là "mưa làm đất lạnh đi". Đứng về góc độ khoa học, có thể giải thích sơ lược như sau: trời mưa làm đất mặt ngậm nước khác nhau. Gieo hạt vào nơi đất vón cục, rễ cây non sẽ kém phát triển; nắng vài bữa cục đất khô đi, cây non không sống nổi. Còn gieo hạt dưới lớp đất tơi xốp ẩm đều, cây mọc đều hơn.

Vụ đậu tương thứ nhất thu hoạch đúng lúc mưa nhiều nên phơi khó khăn.

Mùa đậu tương thứ nhì bắt đầu vào tháng 8 dương lịch, lúc xảy ra "hạn bà chằn" (khoảng cuối tháng sáu âm lịch). Thu hoạch xong vụ đầu, bà con cuốc xới đất để đất se đi ít bữa. Gieo hạt xong, mưa ngâu liên tục làm hạt nảy đều và tốt.

Tháng 9 dương lịch, họ bắt đầu trồng thuốc lá. Trước đây giống thuốc lá nâu - làm thuốc rê - khá phổ biến, nhưng vì giá thấp nên dần dần ít trồng. Bà con trồng ngày càng nhiều giống thuốc lá sợi vàng, thu hoạch theo kiểu tỉa lá vàng rồi đưa vào lò sấy. Thuốc lá sợi vàng có giá cao hơn, dùng chế biến thuốc lá điếu.

Cây thuốc lá con hoặc trồng riêng, hoặc trồng xen đậu tương. Đến tháng 12 dương lịch, cây con đã lớn, chịu được khô hạn, chỉ cần sương đêm cũng đủ cho nó sinh trưởng.

Những năm gần đây, nhiều bà con người Hoa phát triển cây cà phê, tiêu và điều ở nhiều nơi trong tỉnh. Nhiều hộ trở nên giàu có nhờ làm ăn đúng thời điểm các loại cây này có giá trên thị trường.

Comments