6.3. Tổ chức xã hội, gia đình và một số nét phong tục tập quán

Khi nhóm người Hoa do Trần Thượng Xuyên cầm đầu vào định cư ở đất Đồng Nai, họ lập xã Thanh Hà - mà vị trí, phạm vi của xã này khá mơ hồ, đại thể vùng đất này kéo dài từ Bến Gỗ, Cù Lao Phố tới chợ Biên Hòa bây giờ - Việc lập xã này phát xuất từ việc quản lí nhân khẩu và thu thuế cho nhà cầm quyền hồi đó (ít nhất là từ sau năm 1698, khi Nguyễn Hữu Cảnh tổ chức hành chính vùng đất Đồng Nai - Gia Định).

Thời thuộc Pháp, để tiện việc kiểm tra, theo dõi số người Hoa ở tỉnh Biên Hòa cũ, nhà cầm quyền cho người Hoa ở đây lập thành các bang: bang Quảng, bang Phúc Kiến, bang Tiều, bang Hẹ (gồm người Hẹ, người Hồ Nam, Hồ Bắc, người Hải Nam...). Mỗi bang có một trưởng bang đứng đầu gọi là ông bang, có phó bang giúp việc, do các thành viên của bang bầu ra (và được chính quyền sở tại chấp nhận) theo nhiệm kì bốn năm. Hết nhiệm kỳ, nếu các trưởng và phó bang vẫn làm tốt và có uy tín sẽ tái đắc cử. Nhiệm vụ của bang là: thu tiền thuế thân hai năm một lần, ai đóng đủ sẽ được cấp sổ thông hành để tiện việc giao dịch, đi lại làm ăn (nếu người Hoa nào không có giấy tờ sẽ bị trục xuất). Một số người Hoa quá nghèo không có khả năng đóng thuế thân, các ông trưởng và phó bang sẽ đóng cho. Ngoài ra, các trưởng phó bang có nhiệm vụ đề đạt tâm tư, nguyện vọng của dân Hoa lên chính quyền sở tại.

Bang trưởng trong thực tế có quyền hạn lớn và đều là những người giàu có.

Gia đình người Hoa mang tính chất phụ hệ gia trưởng sâu sắc. Tộc trưởng xưa kia có quyền uy nhất định đối với các thành viên trong dòng họ. Ngày nay, tình hình đã thay đổi nhiều, người giàu thường có uy thế hơn tộc trưởng

Trong quan hệ họ hàng, có điểm khác người Việt: nếu cùng trang lứa (con chú, con bác, con dì) thì ai sinh trước được làm anh, chị; người sinh sau là em.

Gia đình người Hoa xưa kia là gia đình lớn, có khi mấy thế hệ cùng chung sống. Nếu năm thế hệ cùng sống dưới một mái nhà (ngũ đại đồng đường) thì gia đình đó được coi là đại phúc. Nay gia đình nhỏ thay thế gia đình lớn, số gia đình ba thế hệ cùng sống chung không nhiều. Trong nhà, người cha hoặc người chồng làm chủ, quyết định mọi việc lớn, nhỏ. Ảnh hưởng lễ giáo Khổng Mạnh tuy đã mờ nhạt nhưng vai trò người cha, người chồng, người con trai cả vẫn khá rõ. Khi chia gia tài cho các con thì người con cả thường được nhiều hơn vì anh ta phải cúng giỗ tổ tiên.

Trước đây, con gái Hoa ít được học hơn con trai, ngày nay tình hình đã thay đổi, họ được học hành ngang nam giới, tham gia nhiều công tác xã hội, dần dần tiến tới sự bình đẳng nam nữ thực sự.

Cách nay vài chục năm, người ta thấy hiện tượng: con gái người Hoa thường chỉ lấy chồng Hoa; trong khi đàn ông Hoa lấy vợ các dân tộc khác khá phổ biến. Sở dĩ có tình hình trên là do: lúc đó số phụ nữ Hoa ít hơn nam giới, cũng có thể do chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng dân tộc lớn... Ngày nay hôn nhân Hoa - Việt, Hoa - các dân tộc khác là phổ biến.

Theo phong tục tập quán cũ, trai gái cùng họ (thí dụ họ Trần, họ Lý họ Trương...) không được lấy nhau vì người Hoa cho là cùng ông tổ, là anh em một nhà. Người thuộc hai họ kết nghĩa cũng không được lấy nhau. Con cô con cậu ruột nhưng khác họ có thể lấy nhau. Chuyện quạt ước trâm thề giữa đôi bên cha mẹ hẹn gả con cho nhau từ lúc còn nhỏ hoặc chưa sinh đã đi vào dĩ vãng.

Ngày nay tục tảo hôn đã biến mất. Nam nữ thanh niên Hoa cưới xin ở độ tuổi trưởng thành; chế độ một vợ một chồng là phổ biến, bền chặt. Cưới hỏi là kết quả của việc tự do tìm hiểu giữa đôi trai gái, song ít nhiều vẫn chịu ảnh hưởng môn đăng hộ đối, nhất là về tài sản.

Lễ cưới của người Hoa ngày nay tương tự người Việt, thường chia làm hai giai đoạn. Khi đôi trai gái ưng nhau và được hai gia đình chấp thuận thì người ta so tuổi rồi nhà trai nhờ người làm mai đi dạm hỏi, làm đám nói (lễ ăn hỏi). Ông bà mai và cha mẹ cô gái thỏa thuận về sính lễ, ngày cưới. Trong số lễ vật cưới của người Tiều thường có trái cau duy nhất tượng trưng người con gái là vợ một người; cũng có cô dâu về nhà chồng cặp cây mía biểu thị hạnh phúc ngọt ngào. Người Quảng thì làm bánh bò nổi (pha cú) hoặc tục lệ ăn chè ỷ (như bánh trôi viên tròn) tượng trưng cho sự viên mãn, con đàn cháu đống. Đám cưới diễn ra ở từng bên nhà trai, nhà gái; nhà gái đãi khách bữa trước, nhà trai đãi khách bữa sau; cũng có thể đôi bên đãi khách chung một ngày. Đám cưới ngày nay đơn giản hơn trước rất nhiều; nhiều lễ tiết đã bỏ: cô dâu khi về nhà chồng không khóc (xưa kia ra khỏi nhà cha mẹ đẻ, cô dâu phải khóc lóc kể lể công ơn sinh thành; "Khốc như thiếu nữ vu qui nhật" dịch nghĩa: "Khóc như thiếu nữ đi lấy chồng"...). Tặng phẩm được thay bằng phong bao giúp đôi vợ chồng trẻ có món vốn nho nhỏ khi bắt đầu cùng nhau chung sống. Cô dâu rót nước, rót rượu mời gia đình bên chồng biểu thị sự kính trọng, rót nước mời chồng đêm tân hôn biểu thị lòng chung thủy phục tùng.

Việc ma chay của người Hoa ở Đồng Nai dần dần có nhiều nét tương tự người Việt ở địa phương. Họ quan niệm người ta sống gửi, chết về (để sang thế giới bên kia, hoặc lên cõi nát bàn, hoặc bị sa địa ngục). Một đám tang gồm nhiều bước: báo tang, phát tang, khâm liệm, phúng điếu, đưa đám chôn cất, lễ mở cửa mả... Người Hoa di cư (năm 1954) ở vùng nông thôn báo tang bằng cách cho thổi tù và sừng trâu hoặc phèng la theo tiết tấu nhất định. Ở thành phố, thị xã, thị trấn, lúc đưa đám, ngoài ban nhạc ngũ âm, đối với tang chủ khá giả, có địa vị xã hội, người ta thấy có một số ban nhạc tây (có đám tới bốn, năm ban nhạc). Không phải là tang chủ thuê các ban nhạc này, mà do các thân bằng cố hữu góp vào để tiễn đưa người quá cố, làm không khí bớt thê lương. Dăm năm trước, khi pháo chưa bị cấm, gia đình có người già qua đời đốt pháo rộn rã và không khóc lóc (như để mừng người chết được giải thoát khỏi mọi khổ đau trên đời).

Người thuộc bang nào chôn cất ở nhị tì (nghĩa địa) bang đó. Nhị tì thường xây cổng lớn ghi rõ tên bang, bên trong có nhà nghĩa từ, có nghĩa đường bài vị người quá cố, có cây long khán thờ thổ thần. Trước đại chiến thế giới thứ hai (1939 - 1945) nhiều người Hoa ở bang Quảng cải táng bốc cốt thân nhân mang về quê cha đất tổ ở Trung Quốc, xây phần mộ. Mồ mả người Hoa thường xây nấm lớn mong có tính cách trường tồn. Hàng năm người thân tổ chức sửa sang mồ mả vào cuối tháng chạp âm lịch và vào tiết thanh minh (cuối tháng hai ta).

Trong đời sống tâm linh, người Hoa coi trọng việc thờ cúng tổ tiên, "uống nước nhớ nguồn". Bàn thờ tổ tiên đặt ở nơi trang trọng nhất trong nhà, với chiếc lư hương, cặp chân nến và một số bài vị. Mỗi nhà - nhất là người buôn bán - đều thờ thổ địa, thần tài ở cùng một trang thờ đặt sát đất. Họ cũng có những trang thờ: Cửu Thiên huyền nữ, Quan Thánh đế quân, Tiền hậu địa chủ tài thần, thờ Bát quái... Các nhà buôn có miếng giấy dán ở cửa ra vào thờ thổ công, hàng tháng cúng cô hồn hai lần vào ngày mùng hai và mười sáu âm lịch.

Mỗi năm, người Hoa có một số lễ trọng vào ngày 14 tháng giêng âm lịch (lễ Thượng nguyên), ngày hai mươi tám tháng hai (lễ Thanh minh), ngày 5 tháng năm (tưởng nhớ Khuất Nguyên), rằm tháng bảy (lễ Vu lan, Trung nguyên), rằm tháng tám (Trung thu), ngày 9 tháng chín (Trùng cửu), rằm tháng mười (Hạ nguyên).

Khi xa xứ tha phương, cộng đồng người Hoa lo kiến tạo một số công trình phục vụ: đền chùa, trường học, nhà thương. Ở Đồng Nai họ dựng chùa Ông thờ Quan công ở Cù Lao Phố (dân thường gọi là Thất phủ Quan Võ cổ miếu, sách Gia Định Thành thông chí viết là miếu Quan Đế xây dựng từ năm 1684); chùa này cúng Quan công ngày 24 tháng sáu âm lịch, cúng Kim Hoa nương nương ngày 17 tháng tư và cúng bà Thiên Hậu ngày 23 tháng ba. Chùa Ông ở Phước Thiền (huyện Nhơn Trạch) và chùa Ông (thị trấn Xuân Lộc, huyện Long Khánh) đều cúng lễ ngày 12 tháng ba; chùa Ông (phước Thiền) còn lễ kì yên ngày 16 tháng 11... Quan công tượng trưng cho trung cang nghĩa khí, trung nghĩa thiên thu, là khuôn vàng thước ngọc của tình bạn, tình anh em kết nghĩa. Do đó nhiều gia đình người Hoa cũng thờ tranh Quan công trong nhà, trang thờ đặt ở nơi trang trọng. Chùa Bà thờ bà Thiên Hậu ở Bửu Long, hàng năm lễ cúng tổ chức vào ngày 13 tháng ba âm lịch. Người ta đến đây cầu mong làm ăn phát tài, đi đường gặp nhiều may mắn; nếu ai được như lời cầu xin thì họ làm lễ tạ ơn rất hậu. Ba năm, nơi đây làm lễ lớn một lần. Ai đến chùa này nếu tinh ý sẽ thấy bà Thiên Hậu được thờ ở bàn thờ bên trái nhìn từ ngoài vào. Bàn thờ chính giữa thờ ba pho tượng: Uất Trì Cung (tổ sư nghề làm đá), Lỗ Ban (ông tổ nghề mộc) và Ngũ Đinh (ông tổ nghề rèn). Lễ cúng Ngũ đăng tổ sư từ ngày 10 đến 13 tháng sáu. Cả ngôi chùa được xây bằng phiến đá - nguyên liệu tại chỗ - càng khẳng định: chùa Bà thoạt đầu là ngôi miếu thờ các tổ nghề thủ công, sau này người ta thờ thêm bà Thiên Hậu để thu hút khách hành hương. Chùa Bà thoạt đầu có tên là miếu Tổ Sư song cái tên này đã bị quên. Các câu đối trong chùa hầu như không nói bao nhiêu về Bà, mà chủ yếu ca tụng nghề. Đình Tân Lân (gần chợ Biên Hòa) thờ Trần Thượng Xuyên cúng ngày 26 tháng mười. Phụng Sơn tự ở thành phố Biên Hòa thờ Quảng Trạch tôn vương, hàng năm cúng lễ hai lần vào các ngày 22 tháng hai và 22 tháng tám. Mỗi khi cúng, người Hoa đều có dàn nhạc lễ phụ họa các nghi thức. Tục bán đấu giá đèn lồng ở các đền chùa của người Hoa rất đặc sắc: vài năm mỗi đền chùa tổ chức bán một lồng đèn, ai trả giá cao nhất sẽ thắng, số tiền ấy dùng vào việc cúng tế hoặc việc công ích và được quản lí chặt chẽ (do một ban trị sự được cộng đồng cử ra). Người mua là nhà giàu mong được các thần phù hộ cho gia đình mình thêm phúc, lộc, thọ, khang, ninh...

Để giữ gìn tiếng nói và chữ viết là bản sắc văn hóa dân tộc, người Hoa thường mở các trường lớp dạy chữ và tiếng Hoa. Ở thành phố Biên Hòa trước kia có Trường Dục Đức (nay đổi là Trường Hùng Vương); nguồn kinh phí xây dựng do tiền công đức của chùa và do các Mạnh Thường quân đóng góp. Ở thị trấn Xuân Lộc có trường Quang Trung cũng do người Hoa đóng góp xây dựng nên. Để làm kinh tế, người ta xây một số căn phố rồi cho mướn, lấy tiền đó trả cho các thầy cô giáo dạy chữ Hoa (ở Biên Hòa, bang Quảng có 10 căn, ở thị trấn Xuân Lộc có 8 căn). Như vậy các chùa nuôi các trường.

Ở tỉnh Biên Hòa (cũ), vì cộng đồng người Hoa không đông nên chưa đủ khả năng mở nhà thương riêng như ở Sài Gòn - Chợ Lớn.

Các thế hệ người Hoa đã cùng các dân tộc anh em góp phần xây dựng đất Đồng Nai từ khá lâu đời. Trong hai thời kỳ kháng chiến vừa qua, đồng bào Hoa đã góp một phần xương máu, của cải vào sự nghiệp giải phóng dân tộc vĩ đại. Ngày nay, cộng đồng người Hoa lại kề vai sát cánh cùng hơn bốn chục dân tộc ít người trong tỉnh ra sức xây dựng cuộc sống mới, đẩy lùi nghèo nàn lạc hậu, ngày càng ấm no, hạnh phúc, công bằng, văn minh.

Comments