7.1. Dân số và phân bố

Dân tộc Chăm được gọi bằng nhiều tên khác nhau: Chàm, Chiêm Thành, Hời, Chămpa, Chà Và Ku... nhưng Danh mục thành phần các dân tộc Việt Nam do Tổng cục thống kê ban hành ngày 2 - 3 - 1979 thống nhất gọi là dân tộc Chăm. Ngôn ngữ của họ thuộc dòng Nam Đảo (Malayô - Pôlinêxia), họ phân bố rộng rãi từ miền Nam Trung Bộ (hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận) tới miền Tây Nam bộ (Châu Đốc, tỉnh An Giang), Campuchia (do đó có tên Khmer Ixlam), Thái Lan, Malaixia, đảo Hải Nam (Trung Quốc).

Theo sử cũ, dưới thời nhà Lê, vào năm 1471, Trà Toàn - vua Chăm - bị đánh bại, vương quốc Chămpa suy vong khiến một bộ phận người Chăm phải dạt vào miền Tây Nam bộ, sang Campuchia và nhiều nơi khác.

Người Chăm ở miền Tây Nam bộ (cũng như ở Campuchia, Thái Lan, Malaixia...) do tiếp xúc mật thiết với người Mã Lai, Ấn Độ nên đã theo đạo Ixlam, họ còn được gọi là Chăm Ixalam. Họ tiếp thu một số từ ngữ Á rập, Mã Lai; trong khi đó người Chăm ở Nam Trung Bộ tiếp thu một số từ ngữ Việt do mối giao lưu Chăm - Việt lâu đời.

Người Chăm ở Đồng Nai hiện nay có nguồn từ Châu Đốc, Sài Gòn, Tây Ninh, Campuchia (dạt về năm 1970 khi Lon Nol lên cầm quyền ở đó). Họ bị chế độ Sài Gòn gom đưa về ấp 4 xã Xuân Hưng (huyện Xuân Lộc) ngày 19 - 9 - 1972. Sau hiệp định Paris, địch âm mưu dùng số đồng bào này vào việc khai quang địa bàn, tranh chấp lấn chiếm vùng giải phóng, phong tỏa ngăn chặn lực lượng ta từ vùng núi Chứa Chan xuống vùng núi Mây Tàu. Chúng trả cho mỗi ha rừng khai phá 70 ngàn đồng tiền Sài Gòn, gỗ và than củi bán được là khoản thu nhập thêm không nhỏ của nhiều hộ gia đình. Mới về Xuân Hưng song người Chăm đã có liên hệ với cách mạng. Nhiều người tham gia bảo vệ, tiếp tế, nuôi giấu lực lượng cách mạng bám trụ địa phương.

Năm 1996 toàn tỉnh có 1848 nhân khẩu Chăm thì riêng ấp 4 xã Xuân Hưng có 1.503 người, số còn lại ở rải rác khắp tỉnh.

Comments