7.2. Vấn đề làm ăn sinh sống

Tháng 9 - 1972 khi mới về ở Xuân Hưng, bà con người Chăm làm than củi là chính. Họ khai hoang được nhiều ruộng đất; khi cây rừng đã cạn, đại bộ phận chuyển sang làm ruộng, trồng lúa, khoai, đậu...

Thổ nhưỡng Xuân Hưng là đất thịt pha cát ít mùn, độ phì không cao. Việc canh tác hoàn toàn trông chờ "nước trời" trong mùa mưa. Còn vào mùa khô kéo dài sáu tháng, do ở đây không có công trình thủy lợi nào, bà con không thể trồng tỉa gì. Nếu có hồ chứa nước như ở các nơi khác, bà con có thể tăng vụ, trồng tỉa thêm một số hoa màu: rau, dưa... Máy móc nông nghiệp có ít, bà con dùng sức người và sức trâu bò là chính vào việc cày bừa làm đất. Phân trâu bò và gia súc khác được tận dụng để bón ruộng khiến năng suất lúa, khoai, đậu, rau... đạt mức từ trung bình trở lên so các xã khác trong huyện.

Hơn hai mươi năm qua, do thiếu đói nên nhiều hộ Chăm đã sang nhượng khoảng 150 ha đất cho doanh nghiệp tư nhân Lý Thái Thuận (để kinh doanh trồng điều và tre) và một số ruộng đất khác cho những người mới tới gần đây.

285 hộ trong tổng số 323 hộ Chăm (bằng 88,2%) có ruộng đất sản xuất, một số hộ chỉ có 0,3 ha, trung bình là 0,6 ha/hộ, nhưng cũng có một số hộ có trên dưới 2 ha. Kĩ thuật canh tác, mùa vụ của người Chăm ở Xuân Hưng đều theo tập quán sản xuất của dân địa phương.

5 hộ trồng cà phê và 1 hộ chạy xe đò có mức thu hoạch cao.

Đại bộ phận người Chăm ở Xuân Hưng có mức sống trung bình, 75 hộ (bằng 23,2%) thuộc diện xóa đói giảm nghèo, hàng ngày phải đi làm mướn hoặc nhặt phân trâu bò gom lại bán cho người trồng tỉa.

Đạo Ixlam cho con heo là loài dơ bẩn nên người Chăm ở Xuân Hưng không nuôi heo; chỉ nuôi trâu bò, dê, gà vịt...

Năm 1994, thực hiện dự án 61, Nhà nước cấp cho bà con Chăm 100 con bò sinh sản nhằm phát triển đàn bò ở địa phương. Nhưng do thiếu đói bà con đã bán hầu hết để mua gạo ăn; đến đầu năm 1997 chỉ còn 11 con (sinh sản được 6 con bê), mua trâu thay thế song đàn trâu bò của bà con cũng chỉ có 21 con.

Comments