7.3. Xã hội, gia đình, phong tục tín ngưỡng

Về mặt xã hội, ông giáo cả (hakim hakem) là người lãnh đạo tinh thần của cộng đồng người Chăm, ông phải giỏi giáo lí đạo Ixlam, làu thuộc kinh sách; trước kia được dân bầu và giữ chức vụ này suốt đời, nay được bầu theo nhiệm kì vài năm. Ông phó giáo cả (naêp) cũng là người giỏi giáo lí, chuyên dạy kinh Qur'an cho trẻ em. Mỗi tổ nhân dân có ông tổ trưởng (ahly). Các vị này nếu không được tín nhiệm (do uống rượu hoặc mắc lỗi nặng) thì bị bãi miễn, cộng đồng bầu người khác. Xưa kia các vị này và hội đồng bô lão có toàn quyền giải quyết cả việc đạo lẫn việc đời. Nay việc đời do đại biểu ấp, cán bộ HĐND, MTTQ, UBND xã giải quyết. Tuy vậy vai trò của ông giáo cả vẫn rất lớn. Ai phạm các điều cấm: đĩ điếm, uống rượu, đánh bạc, trộm cắp, cho vay nặng lãi... thì có thể bị ông giáo cả phạt từ 50 đến 100 roi ở nơi công cộng.

Đạo Ixlam đặt ra lịch Hồi; lịch chia năm ra 12 tháng thì 6 tháng có 30 ngày và 6 tháng có 28 ngày, mỗi tuần có 7 ngày. Mỗi năm của lịch Hồi có 348 ngày, lịch này dùng trong các ngày lễ của người theo đạo Ixlam. Ông giáo cả (hakim) và ông phó giáo cả (naêp) nắm rất vững lịch này để tiến hành các nghi lễ của đạo trong năm (vì lịch Hồi không khớp với dương lịch cũng như lịch âm dương của chúng ta).

Trong khi người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận theo đạo Bàlamôn và đạo Hồi cũ còn chịu ảnh hưởng sâu sắc chế độ theo dòng mẹ thì người Chăm Ixlam ở Đồng Nai đã xác lập chế độ theo dòng cha từ lâu. Trong gia đình, người cha và người chồng có nhiều quyền hành. Con cái mang họ cha. Ông Youssov Ossamain (đọc: Yuxố Ôxman) - thường gọi là Xốc Man - có con gái tên là Ossamain Sophiah (đọc: Ôxman Xôphi - á), và con trai đặt tên Ossamain Soleh (đọc: Ôxman Xôlế)...

Việc đặt tên cho đứa trẻ do ông giáo cả (hakim) hoặc (naêp) đảm nhận theo quy định của kinh Qur'an. Đứa trẻ sinh vào buổi nào, ngày nào trong tuần thì phải đặt tên là gì? Tên cha đặt trước tên đứa trẻ khiến mọi người không lầm lẫn được. Tên nam giới thường là: Muhamad, Halim, Issamael, Ossamain, Yacob, Abdullah, Ibrahim, Youssov, Ismail, Ahmet, Abdel, Hariff, Mahli, Karim... Tên nữ giới thường là: Tima, Saroh, Fatimah, Khotichah, Maymanah, Aminah, Mariyam, Marien, Saynop, Rokeh, Maysum, Abidah... Đây là các tên thường gặp trong các cộng đồng Ixlam với những biến thể, từ vùng Bắc Phi, Trung Cận Đông, Trung Á, Đông Nam Á...

Trong quan hệ thân tộc, người Chăm ở Xuân Hưng chưa phân biệt chặt chẽ:

 

 - Cụ ông: ôông

 - Chị: chi long ca may

 - Ông nội, ông ngoại:
 ôông ca may

 - Em trai: tei kei (thêm từ chỉ thứ tự)

 - Cụ bà, bà: mây, may

 - Em gái: tei ca may (thêm từ chỉ thứ tự)

 - Bà nội, bà ngoại: mây ca may

 - Em rể: tei rany

 - Cha: ya

 - Em dâu: tei rany ca may

 - Mẹ: mạ

 - Con trai: mị kei

 - Bác: wa

 - Con rể: mị matau

 - Chú, cậu, dượng: míu

 - Con gái: mị ca may

 - Chú chồng, chú vợ, thím, mợ:
 míu la cay

 - Con dâu: mị matau ca may

 - Cha chồng, cha vợ: tăm ha

 - Cháu trai: ca muôn

 - Mẹ chồng, mẹ vợ:
 tăm ha ca may

 - Cháu trai họ: ca cho

 - Bác chồng, bác vợ: hòa la cay

 - Cháu gái: tạ cho

 - Cô: mạ

 - Cháu gái họ: tạ cho

 - Anh: chi long kei
 
(thứ mấy thì thêm từ chỉ thứ tự)

 

Theo luật tục Ixlam, phụ nữ phải sống kín đáo, riêng biệt, không tiếp khách đàn ông nếu nhà chỉ có một mình. Nam nữ không ngồi chung chiếu. Các thiếu nữ từ 15 tuổi trở lên phải đội khăn che kín mặt khi ra đường. Mỗi cô gái hoặc phụ nữ đều được cả cộng đồng lưu ý quan sát khi người đó ra khỏi nhà. Trai gái Chăm chưa được tự do tìm hiểu, yêu đương. Ngày nay cởi mở hơn, qua tiếp xúc mà họ quen biết nhau thì phải tiến tới hôn nhân - tuy việc bà mẹ chú ý quan sát các thiếu nữ để tìm vợ cho con trai vẫn là chính - với đủ năm điều kiện:

- Người phối ngẫu phải là tín đồ đạo Ixlam.

- Trong buổi lễ cưới phải đủ mặt dâu, rể.

- Hai người đều trưởng thành, đủ trí khôn.

- Cha vợ chấp thuận chú rể.

- Trao đủ tiền dẫn cưới cho cô dâu.

Người Chăm tổ chức đám cưới tương tự các dân tộc anh em. Sau khi so tuổi, nhà trai làm đám nói (ploh panuôic: lễ dứt khoát lời nói) gồm cha mẹ, bà con, hàng xóm có uy tín và ông (ahly: tổ trưởng)  mang một mâm hoa quả và lễ vật qua nhà gái để trao đổi chuyện trò. Vài bữa sau, nhà gái - với thành phần tương tự - mang một mâm bánh và hoa quả qua nhà trai đáp lễ. (Trong đám nói, nếu cha mẹ vắng mặt vì lí do bận việc thì ông bà mai (ôn/mụ maha) thay mặt cũng được).

Trước ngày cưới khoảng một tháng, nhà trai đem tiền chợ và vải, áo, chăn mền cho nhà gái (theo thỏa thuận giữa đôi bên).

Lễ cưới (la khah) tiến hành theo hai bước:

- Ngày dựng việc hay lễ nhóm họ (hagây pađưng barik): cả hai đàng nhà trai và nhà gái đều trang hoàng nhà cửa đẹp đẽ, song bên gái lộng lẫy rực rỡ hơn vì có phòng hoa chúc của đôi tân lang, tân giai nhân. Chàng rể ăn mặc trang phục dân tộc như một hadji đi hành hương ở thánh địa Mecca (Arap Xêut). Cô dâu ăn mặc và trang sức lộng lẫy như một tiểu thư. Hai người ngồi trên ghế lễ xong, mỗi bên được ôn uôk, mụ uôk hướng dẫn và làm lễ ở hai nơi khác nhau. Một bô lão khấn vái, đọc kinh Qur'an; những người chung quanh đọc theo và chúc tụng chú rể, cô dâu. Xong nghi lễ này, chú rể mới được gọi là pa nganh tanh la kei, cô dâu được gọi là pa nganh tanh ca mây.

Tối ngày dựng việc, chú rể và cô dâu đều tiếp bè bạn đến chúc tụng. Đặc biệt những cô gái cấm cung theo tục lệ vào dịp này được gia đình đưa đến tham dự. Những bà mẹ các chàng trai thường có mặt trong dịp này để tìm hiểu, lựa con dâu tương lai.

- Ngày cưới hay ngày đưa rể (hagây he): vào buổi sáng hôm sau, nhà trai đưa rể sang nhà gái. Đi đầu là ông hakim hay ahly, một số bô lão rồi đến ông bà mai, chàng rể và bạn bè thân thuộc.

Đến nơi, họ nhà trai được nhà gái đón tiếp nồng nhiệt. Sau khi hai họ uống nước, hút thuốc, ăn trầu thì lễ cưới bắt đầu. Ông hakim hay ahly đọc xong kinh Qur'an, cha vợ (tăm ha) - hoặc người đại diện họ gái đặt vào tay con rể (mị matau) và nói một câu đại ý: "Ba bằng lòng gả con gái cho con với số tiền là...". Câu nói có tính nghi thức kinh điển này phản ánh tục lệ xưa coi hôn nhân là mua bán. Nay UBMTTQ xã đề nghị sửa lại thành lời cầu chúc hai con hạnh phúc trăm năm.

Sau đó mọi người chúc mừng, trao tặng phẩm hoặc tiền phong bao cho cô dâu chú rể rồi vào tiệc vui vẻ. Tiệc cưới của người Chăm ở Đồng Nai không có bia, rượu (vì phạm luật cấm của đạo Ixlam).

Chú rể sống với cô dâu trong phòng hoa chúc và ở lại nhà vợ; đây là tàn dư phong tục xưa kia khi chế độ theo dòng mẹ còn thịnh hành. Tùy theo sự bàn bạc giữa hai nhà, chàng rể ở bên vợ lâu hay mau, hoặc có thể ra ở riêng sống tự lập do hai bên thỏa thuận. Bây giờ, sau đám cưới thường cô dâu về ở bên chồng.

Theo kinh Qur'an và luật tục Ixlam, vợ chồng không được li dị nhau. Trong thực tế, người Chăm Ixlam vẫn có chuyện li dị, người chồng li hôn dễ hơn vợ rất nhiều. Nếu người chồng có bằng cứ vợ mình trò chuyện, giao tiếp với người đàn ông khác khi mình vắng nhà, anh ta có thể lấy đó để thưa với ông giáo cả (hakim) mà xin li dị vợ. Người vợ có thể xin li dị với lí do người chồng không quan tâm nuôi nấng vợ con, tất nhiên phải được cộng đồng thẩm định...

Đạo Ixlam cho phép đàn ông lấy tới bốn vợ (với điều kiện kinh tế của anh ta cho phép nuôi chừng ấy vợ con). Hiện nay ở Xuân Hưng, hầu hết đều một chồng một vợ. Tội ngoại tình bị trừng phạt nặng. Người phụ nữ theo luật tục có thể bị chôn sống, bị ném đá cho tới chết hoặc bị cột vào con bò đi bêu riếu khắp làng. Người đàn ông bị phạt roi và tiền. Nay ta vận động bỏ luật tục hà khắc này.

Khi có người chết, người Chăm ở Xuân Hưng tiến hành chôn cất như nhiều dân tộc anh em khác. Gia đình có người hấp hối thì người ta báo cho ông giáo cả (hakim), ông naêp và cộng đồng. Người thân đọc kinh Qur'an cầu cho người sắp chết được cứu rỗi.

Thi hài được tắm rửa sạch sẽ, nam giới được tẩm liệm bằng 12m vải trắng, nữ giới thì 16m. Ông giáo cả (hakim) hay phó giáo cả (naêp) tới đọc kinh Qur'an cầu siêu cho người quá cố. Thân nhân không khóc lóc, kể kể than vãn làm mất vẻ nghiêm trang u buồn của đám tang. Thường thì thi hài chỉ quàn trong nhà một ngày rồi đem chôn với nghi lễ đơn giản. Xác đặt trên một cái cáng (hanh đu tấm ván trên có mui che như mui ghe) và do sáu hoặc tám người khiêng. Người đưa ma đi lặng lẽ sau hanh đu, không tiếng khóc than, không kèn không trống, thỉnh thoảng dừng lại một chút để linh hồn người quá cố nhìn lại quê hương, nơi sinh sống đầy tình cảm quyến luyến. Đến huyệt đào sẵn, sâu khoảng 1,6m khoét lõm về phía Đông, người ta đặt xác theo tư thế nằm nghiêng, mặt ngoảnh hướng Tây (về phía thánh địa Mecca), sau đó úp miếng ván mau mục nhất rồi lấp bằng mặt đất. Hai đầu mộ đặt hai viên đá hoặc bia để đánh dấu. Tối hôm đưa đám, gia đình tang chủ và bà con quen biết tập hợp ở thánh đường đọc kinh cầu siêu, sau đó cùng nhau dùng chung bữa cơm.

Từ ngày thứ nhất đến ngày thứ 40, mỗi ngày hai lần: vào lúc mặt trời vừa mọc và lúc mặt trời sắp lặn, gia đình phải có người ra mộ đọc kinh tưởng nhớ người quá cố (nếu không có ai, có thể thuê người đọc kinh, không được bỏ). Các ngày thứ ba, thứ bảy, thứ bốn mươi và một trăm ngày, gia chủ mời ông giáo cả (hakim) làm lễ cầu hồn. Ngoài ra, gia chủ không còn phải làm thêm lễ cúng gì khác. Gia đình không có bàn thờ để thờ cúng những thế hệ đã qua đời. Hàng năm, họ có thể cúng giỗ và phải nhờ người thạo kinh Qur'an tới đọc kinh cầu siêu.

Người Chăm Ixlam có các lễ trọng:

- Lễ bắt buộc vào thứ sáu hàng tuần (chum at), vào lúc 5 giờ chiều. Tín đồ Ixlam nếu đi làm công, thường xin nghỉ và làm bù chủ nhật.

Thánh đường của người Chăm ở Xuân Hưng xây cất năm 1973 còn gọi là chùa (mosjid, xâm kí) làm đơn giản. Trong thánh đường, có một bộ phận trông giống tủ thờ nhưng không có vật gì; cạnh tủ treo áo dài và cây gậy của ông giáo cả (hakim) dùng hành lễ. Bà con cho rằng niềm tin vào Đức Olloh (hay Allah) là tuyệt đối nên không cần ảnh tượng thờ. Nền thánh đường trải nhiều chiếu để tín đồ quì đọc kinh.

Ngay ở cửa thánh đường, có một hồ (bồn) nước sạch lớn. Mỗi tín đồ trước khi làm lễ, phải tẩy uế (xâm bayăng), khoát nước rửa (theo thứ tự) ba lần: mặt, tai, đỉnh đầu, tay, chân. Lúc này không ai nói chuyện. Người ta bước chân phải vào thánh đường. Người vào chào: "Axalam alâycum", những người có mặt bên trong đáp lại đồng thanh: "Alâycum axalam"...

- Lễ Mâu lut vào ngày 12 tháng 3 lịch Hồi, kỉ niệm ngày sinh của đấng Muhammed, nhà sáng lập đạo Ixlam.

- Lễ Ramađan là tháng nhịn hay tháng ăn chay, liên tục từ ngày 1 đến 30 tháng 9 lịch Hồi. Ban ngày, người ta không ăn, không uống, không hút thuốc, không nuốt nước miếng. Từ lúc mặt trời lặn, mọi người mới ăn uống bình thường. Tháng Ramađan đặt ra để tưởng nhớ thời kỳ gian khổ nhất của cố giáo chủ Muhammed khi phát triển đạo Ixlam. Mọi người không đi làm; nhưng bây giờ bà con lao động bình thường. Phụ nữ có thai, trẻ em, người già, người bệnh được phép ăn uống bình thường.

- Lễ bố thí (roya phik trok) vào ngày 1 tháng 10 lịch Hồi. Mọi người ăn Tết một ngày sau tháng nhịn, họ thăm viếng nhau, chúc nhau sức khỏe và xin tha thứ mọi lỗi lầm. Vào ngày này, người Chăm Ixlam có tục lệ bố thí 2% số lúa làm ra cho người neo đơn, mất sức lao động, trẻ mồ côi, người tu hành già cả, vợ chồng trẻ mới cưới... Mỗi hộ bố thí (zacat) cho một vài đối tượng dưới sự chứng kiến của ông giáo cả.

- Lễ hành hương thánh địa Mecca (roja hadji). Mỗi tín đồ Ixlam đi hành hương đến Mecca trước ngày 10 tháng 12 lịch Hồi, sẽ được tặng danh hiệu hadji vinh dự. Ai cũng mong ít nhất một lần trong đời hành hương đến Mecca và nhận danh hiệu vẻ vang đó.

Hiện nay, người Chăm ở Đồng Nai đang kề vai sát cánh cùng các dân tộc anh em, ra sức lao động cần cù, xây dựng cuộc sống mới ngày càng ấm no, hạnh phúc.

Comments