8.3. Tổ chức xã hội, gia đình và phong tục tập quán

VIII.3.1. Tổ chức xã hội:

Xưa kia, người Mường cư trú thành xóm quêl, làng xã, mường (có mường rộng bằng dăm, bảy xã; có mường chỉ gồm một xã). Đứng đầu mường là các chức: lang, đạo, thổ ti (tùy địa phương) có thế lực, có quyền hành rất lớn.

Từ năm 1954, người Mường (ở Hòa Bình và Phú Thọ) di cư vào ấp Ân Lập làm ăn, chế độ lang đạo không còn. Ruộng đất do gia đình nào khai phá thì thuộc quyền sở hữu của nhà đó.

Ở Đồng Nai hiện nay, người Mường có đại biểu trong các cơ quan HĐND, UBND và trong các đoàn thể UBMTTQ, phụ nữ, thanh niên xã, ấp.

VIII.3.2 Tổ chức gia đình:

Người Mường theo chế độ phụ hệ từ lâu. Thường thường họ sống theo gia đình nhỏ, nhưng cũng có nhà có tới ba thế hệ chung sống thuận hòa. Người cha, người chồng, người con trai cả có vai trò quan trọng trong gia đình.

Khi cha chết, người con trai cả được thừa kế toàn bộ gia sản song cũng có trách nhiệm dựng vợ, gả chồng cho các em chưa yên bề gia thất và lo việc cúng giỗ tổ tiên, ông bà, cha mẹ...

Cha mẹ có thể chia của cho các con thứ, trích từ phần tài sản riêng của mình, việc phân chia này mang tính tượng trưng là chính.

VIII.3.3 Cưới hỏi, sinh đẻ:

Xưa kia khi chế độ lang đạo thịnh hành, giữa lang và dân có sự cách biệt nghiêm ngặt. Dân không được phép lấy con gái nhà lang. Ngược lại, lang được lấy con gái nhà dân làm vợ lẽ (tuy cưới trước). Vợ cả nhà lang phải thuộc dòng lang. Khi lang lấy vợ, cả mường phải đóng góp vào lễ cưới này.

Ngày nay, nam nữ thanh niên Mường ở xã Phú Túc (Định Quán) được tự do hôn nhân, không còn phân biệt giàu nghèo. Khi đôi nam nữ có tình cảm với nhau, họ phải nói cho cha mẹ mình rõ. Các bậc cha mẹ tiến hành so tuổi, nếu hợp thì đồng ý cho đôi trẻ lấy nhau. Nếu kị tuổi, hai người đành ngậm ngùi chia tay nhau. Tuy không còn tình trạng "cha mẹ đặt đâu con ngồi đó" như xưa, song ý kiến các bậc sinh thành vẫn có trọng lượng nhất định. Hiếm thấy có đôi trai gái nào dám vượt rào, trái ý mẹ cha, chỉ làm theo ý mình.

Đôi trai gái cùng họ nội không được phép lấy nhau, ngay cả hôn nhân con cô con cậu cũng ít xảy ra. Nếu ai làm trái sẽ bị phạt vạ nặng (trâu, heo) theo luật tục của cộng đồng. Người Mường có thể lấy vợ lấy chồng là người các dân tộc khác.

Trình tự một cuộc hôn nhân có nhiều nét tương đồng các dân tộc anh em chung sống xen kẽ. Trước hết là lễ chạm ngõ, ông bà mai và các thân nhân chàng trai qua nhà gái, mang theo hai chai rượu, một cơi trầu để thưa chuyện với đàng gái. Sau đó ít lâu là lễ hỏi (đám nói), nhà trai mang sang: tiền, đồ trang sức và một số vật dụng theo yêu cầu của nhà gái. Chọn được ngày lành tháng tốt, hai bên tổ chức đám cưới. Mỗi nhà đều làm tiệc đãi khách, cũng có khi hai bên thống nhất đãi khách chung. Nhà trai đi đón dâu, tới cửa nhà gái nếu có chăng dây thì phải lì xì chút đỉnh mới được vào nhà.

Ngoài các đồ sính lễ cùng rượu, trầu cau... nhà trai phải mang theo hai cây mía. Khi rước dâu, nhà gái mang về nhà trai hai cây mía khác. Các thứ bánh trong đám hỏi và đám cưới đều không có nhân, chỉ toàn nếp. Rước dâu, số người phải chẵn, người ta kiêng kị số lẻ. Cô dâu về nhà chồng theo tục lễ cũ, mang theo con dao nhọn nhỏ cắm một lát gừng (thầy cúng đã khoán trừ tà). Trước khi lễ tơ hồng, ông bà mai đưa cho đôi vợ chồng trẻ các miếng trầu hai bên têm sẵn để họ ăn rồi người ta coi bã trầu đoán hậu vận.

Việc vái lạy ông bà, cha mẹ đôi bên, lễ tơ hồng, lễ nhị hỉ (lại mặt) vẫn được một số gia đình duy trì.

Trong đám cưới, thường thì cô dâu về ở nhà chồng. Xưa kia, ngay sau đám cưới cô lại về nhà cha mẹ đẻ, ba ngày sau nhà chồng sang đón. Cũng có một ít gia đình không có con trai thì tổ chức cưới rể. Chàng rể đâm đòn rất có giá trị vì anh ta về ở nhà vợ song vẫn giữ họ của mình, khi cha mẹ vợ qua đời, anh nghiễm nhiên trở thành chủ gia đình, thừa hưởng tài sản cha mẹ vợ để lại.

Vấn đề ngoại tình ít xảy ra trong xã hội Mường, và bị xử phạt nặng (trâu, heo), dư luận cộng đồng lên án nghiêm khắc.

Khi người phụ nữ Mường mang thai, họ tuân theo nhiều kiêng cữ: không dự đám tang, không ăn chuối dính đôi, không đến các nhà sàn có cột chống phụ, không ăn thịt chó, lươn, gà trống... Khi sinh đẻ, họ ăn cơm muối tiêu, thịt gà mái tơ, uống nước đái trẻ con, uống nước lá vông hay lá vang để tiêu độc... Bé gái sơ sinh được đeo vòng vàng hay bạc tùy từng gia đình.

Đứa trẻ ra đời được bảy ngày thì gia đình đặt tên cho bé. Theo tục lệ cũ, người ta thường đặt cái tên xấu xí để tà ma không để ý, gây bệnh tật và điều không may cho bé. Một tháng sau, gia đình cúng vía cho trẻ. Một năm sau, làm lễ cúng thôi nôi.

Cha mẹ, anh chị nói với bé bằng ụn (thằng ụn, con ụn) đầy âu yếm cũng như người Việt miền Nam gọi bằng cưng.

Khi con trai đến tuổi 17, con gái 12 thì gia đình cúng mụ, trả ơn bà mụ che chở đứa trẻ từ khi sơ sinh đến lúc bước vào tuổi trưởng thành.

VIII.3.4 Tang ma:

Khi một gia đình có cha già mẹ héo, con cái lập tức đi báo tin ngay cho các già làng, bố làng. Các cụ cho nổi trống (khác với người Nùng cho thổi tù và, ở một số nơi người Hoa và người Việt cho đánh chiêng) mời các chức việc trong làng tới bàn việc phân công và huy động đóng góp gạo, tiền tương thân tương ái với nhà có tang. Một bộ phận được phân công đi đào huyệt, một bộ phận được cắt cử chuẩn bị khiêng đòn đám ma, những người khác lo việc tiếp tân...Trong cộng đồng Mường, gia đình có tang dù nghèo hay rất nghèo đều được làng xóm tận tình giúp đỡ tang lễ đàng hoàng.

Thày mo coi giờ, định việc lau rửa, khâm liệm thi hài - thường sau khi chết ba, bốn tiếng. Bàn thờ người chết dựng cây mía cả ngọn, mỗi bữa đều cúng cơm. Thày mo thường làm lễ từ xẩm tối trở đi, tùy theo địa vị vai vế người chết mà thày có bài cúng phù hợp. Hồn ma theo lời hát cúng mà phiêu diêu ngắm cảnh quê hương rồi lên trời gặp tổ tiên, được phán xét (tốt, xấu) rồi lại ngược về nghĩa địa nhưng không được về nhà. Hai, ba ngày sau, tổ chức đưa đám. Tương tự người Việt, con trai/con gái người chết đội mũ rơm/mũ mấn, mặc áo dài xô không viền gấu, các anh chị em hay cháu chắt chít khăn tang màu trắng. Con, cháu ruột nằm lót đường ở cửa để quan tài khiêng qua bên trên. Con trai thì cầm dao đi rừng, con gái cầm quạt và ống nước bằng bương, vẫn theo sau thày mo và quan tài ra nghĩa địa. Ống nước đặt ở phía chân mả. Người Mường Hòa Bình để một vài ống nước, còn người Mường Phú Thọ thì phải đủ nam bảy ống, nữ chín ống dùng vào lễ mở cửa mả (nay thay bằng bình để nước cúng). Trước, số thanh niên trai tráng được phân công khiêng quan tài từ nhà ra tới nghĩa địa; nay bà con ở Phú Túc đã sắm được xe tang. Đám tang nào cũng có ban nhạc với đàn cò (nhị), sáo, trống...

Chôn cất được vài ngày, tang chủ làm lễ mở cửa mả, một trăm ngày sau lại làm lễ trăm ngày. Đủ ba năm chín tháng mười ngày, gia đình làm lễ đoạn tang (hết tang), những bộ quần áo tang đem đốt bỏ. Người Mường có tục cải táng như người Việt ở miền Bắc. Sau một số năm chôn cất, khi có điều kiện, gia đình bốc mộ người chết, lấy hài cốt chuyển sang tiểu sành và đem chôn lại ở địa điểm khác (có xem ngày giờ cẩn thận). Nấm mồ cải táng mới là ngôi mộ vĩnh viễn.

VIII.3.5 Đời sống tâm linh, tín ngưỡng và các lễ hội:

Người Mường phần lớn chỉ thờ cúng tổ tiên - các bậc sinh thành. Hàng năm, mỗi gia đình đều cúng giỗ người đã khuất với thái độ tôn kính. Người con trai cả phải đảm đương nhiệm vụ nặng nề này (vì anh ta được thừa hưởng phần gia sản lớn nhất). Mỗi gia đình đều có bàn thờ tổ tiên ở vị trí trang trọng giữa nhà.

Nhiều nhà có bàn thờ thổ địa ở một nơi cao, phía tay phải bàn thờ gia tiên.

Một số bà con đi chùa lễ Phật vào các ngày rằm, mùng một âm lịch song số tín đồ đạo Phật thực sự trong đồng bào Mường không nhiều lắm.

Một năm, người Mường có bốn lễ liên quan đến nông nghiệp:

- Lễ khai hạ (hạ nêu) vào ngày 7 tháng giêng âm lịch, chấm dứt lễ Tết cổ truyền.

- Lễ hạ điền vào tháng ba âm lịch, khi trời sắp mưa, bà con chuẩn bị bước vào vụ cày cấy trong năm.

- Lễ thượng điền vào tháng bảy âm lịch, sau khi bà con làm cỏ xong xuôi, cầu mong Trời phù hộ cho lúa tốt, mùa màng bội thu.

- Lễ cơm mới vào tháng mười âm lịch, khi lúa chín được gặt.

Ba lễ: hạ điền, thượng điền, cơm mới được tổ chức tại các miếu ở các xóm (ở Hòa Bình và Phú Thọ thì cúng ở đình); trong đó lễ cơm mới lớn nhất. Mỗi gia đình cử một, hai người tham gia, đóng góp gạo và tiền đầy đủ. Mỗi lễ cúng này thường chỉ làm một buổi.

Trước hết, thày mo và già làng xin âm dương rồi thày mo đọc lời khấn vái. Sau đó dân ấp theo thứ tự: già trước trẻ sau, nam trước nữ sau, lần lượt từng người vào vái lạy trước ba bàn thờ trong miếu, mỗi bàn thờ lạy bốn lạy. (Mỗi miếu có ba bàn thờ: chính giữa thờ thổ thần, hai bên thờ các tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai canh - nghĩa là thờ tất cả các vị có công tạo dựng làng xóm đã quá cố). Lễ cúng kéo dài chừng hai, ba giờ, từ chín giờ sáng tới trưa thì kết thúc bằng bữa tiệc tập thể. Xét theo mặt nào đó, các lễ cúng nói trên có tác dụng đoàn kết, gắn bó cộng đồng vào những dịp họp mặt đông đảo này.

Xưa kia, phụ nữ không được tham gia cúng đình hoặc miếu, bây giờ nam nữ đã bình đẳng ở chốn đình trung.

Comments