9.1. Nguồn gốc, dân số và phân bố

Người Nùng là một dân tộc ít người phân bố chủ yếu ở vùng Việt Bắc: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, và cũng có ở Bắc Giang, Quảng Ninh. Khu tự trị Choang (tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc) cũng có người Nùng. Xét nguồn gốc, một bộ phận người Nùng là cư dân bản địa thuộc nhóm Bách Việt đã hòa vào với người Tày; còn bộ phận hiện nay được gọi là Nùng, là bộ phận di dân từ tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) sang làm ăn sinh sống khoảng mười đời, hai trăm năm nay và nay đã hòa vào cư dân bản địa.

Người Nùng chia thành nhiều nhóm địa phương: Nùng Khen lài (mặc áo có ống tay ráp vải khác màu), Nùng Hu lài (đội khăn chàm có nhiều chấm trắng), Nùng Slử tỉn (mặc áo ngắn chấm mông)... Nùng An (quê châu An Kết), Nùng Inh (quê châu Long Anh), Nùng Lòi (quê châu Hạ Lôi), Nùng Cháo (quê Long Châu), Nùng Phàn Slình (quê châu Vạn Thành)... Người Nùng sử dụng ngôn ngữ Tày - Thái thuộc dòng Nam Á.

Người Nùng tới đất Đồng Nai cư trú từ sau hiệp định Genève 1954 trong đó một bộ phận là lính sư đoàn 5 của Voòng A Sáng. Họ thuộc nhiều nhóm khác nhau. Mới đầu sư đoàn 5 Nùng đóng ở vùng Bình Thuận, sau mới chuyển về Đồng Nai. Ở vùng đất mới, họ không còn phân biệt các nhóm địa phương (như ở quê cũ) mà đã cố kết, hòa vào nhau, giữ được những điểm chủ yếu đồng nhất, còn khác biệt ít bộc lộ rõ.

Theo số liệu của Cục thống kê Đồng Nai năm 1996, cả tỉnh có 12279 nhân khẩu Nùng (trong đó có 5827 nữ) xếp thứ nhì trong tổng số hơn 40 dân tộc ít người (sau người Hoa). Địa phương nào trong tỉnh cũng có người Nùng song họ có số lượng đông nhất ở huyện Xuân Lộc 4540 người (2222 nữ), huyện Thống Nhất ít hơn một chút 4486 người (2088 nữ)... và ít nhất là huyện Nhơn Trạch: 10 người (7 nữ).

Ấp Ngô Quyền, xã Bàu Hàm 2, huyện Thống Nhất tập trung 331 hộ với 1068 nhân khẩu là nơi người Nùng sống đông đảo nhất.

Comments