9.2. Hoạt động kinh tế

Phần lớn người Nùng ở Đồng Nai làm nghề nông là chính, số làm nghề buôn bán dịch vụ, tiểu thủ công không nhiều.

Xưa kia ở quê cũ họ phân bố ở các thung lũng nhỏ hẹp vùng đồi núi thấp, ít ruộng nên làm nương rẫy là chính.

Vào nửa cuối thập niên 50, đến vùng đất mới Đồng Nai - lúc đó thuộc hai tỉnh Biên Hòa, Long Khánh còn nhiều đất đai hoang hóa, họ ra sức khai phá rừng và đất rừng. Thoạt tiên họ áp dụng lối đao canh hỏa chủng nguyên thủy làm nương rẫy nên cũng du canh khi đất trồng bạc màu. Nhưng dân cư ngày càng đông, đất trồng trở nên hiếm hoi dần, từng bước họ buộc phải thâm canh nương rẫy để trồng các loại hoa màu: bắp, khoai lang, khoai mì, đậu... và các cây công nghiệp ngắn ngày: đậu tương, thuốc lá... Từ sau ngày giải phóng, nhiều hộ người Nùng ở các huyện Thống Nhất, Long Khánh, Xuân Lộc, Định Quán... đầu tư vốn, mở vườn trồng cà phê, tiêu, điều... nên có thu nhập hơn hẳn các hộ chỉ trồng lúa hoặc hoa màu.

Ở những nơi địa hình tương đối bằng phẳng, bà con khai phá thành ruộng lúa và trồng hoa màu. Nơi nào sẵn có nguồn nước thì họ trồng hai vụ lúa, nơi không có suối thì chỉ làm một vụ lúa nhờ trời mưa.

Tình trạng du canh ở đồng bào Nùng thực sự chấm dứt khi luật 034/67 của chính quyền Sài Gòn ban hành năm 1967 (công nhận và bảo vệ ruộng đất của đồng bào thiểu số, thực hiện chính sách khuyến nông "Người cày có ruộng"). Kể từ đó, bà con đầu tư vốn mua máy cày, máy xới, máy bơm... mua phân hóa học, dùng các giống cây trồng và vật nuôi năng suất cao.

Do giao lưu chặt chẽ rộng rãi với người Việt, người Hoa và đặc biệt do tích lũy kinh nghiệm sản xuất nương rẫy từ lâu đời, người Nùng biết tính thời gian chuẩn xác khi bắt đầu gieo trồng các loại cây. Bà con các dân tộc khác sống xen kẽ đã làm theo người Nùng và đạt kết quả tốt, ít khi bị mất giống cây trồng hoặc phải tỉa đi tỉa lại tốn công vô ích. Từ phương thức làm ăn quảng canh, ngày nay người Nùng trở thành nhà nông biết thâm canh nên đạt năng suất cao đối với các loại cây trồng. Các sản phẩm nông nghiệp thường được bán cho người Hoa thạo nghề buôn bán hơn.

Người Nùng chăn nuôi nhiều loại gia súc: trâu để lấy sức kéo và phân bón, heo lấy thịt và phân, gà vịt... Xưa kia người ta chăn nuôi theo lối thả rong, ngày nay bà con làm chuồng xây cất cẩn thận và dọn rửa thường xuyên. Bà con hiểu rõ: thả rong dễ làm gia súc, gia cầm bị dịch bệnh.

Chăn nuôi hiện nay vẫn còn ở qui mô nhỏ gia đình, chưa trở thành ngành sản xuất riêng, vẫn là ngành phụ của trồng trọt.

Người Nùng vốn có một số ngành nghề truyền thống khá nổi tiếng: dệt, rèn. Nhưng ở Đồng Nai các ngành nghề này của đồng bào đã bị mai một từ khi họ tới định cư.

Về ăn uống, người Nùng có những nét gần người Hoa hơn người Việt. Lương thực chính của họ là gạo tẻ, mỗi ngày bà con ăn hai bữa cơm với canh và các món chiên xào chứ hiếm khi ăn đồ luộc. Trước đây vào buổi sáng họ ăn cháo loãng với món mặn; bây giờ họ chọn thức điểm tâm theo khẩu vị và túi tiền. Phần đông kiêng cữ thịt chó, thịt mèo.

Về trang phục, người ta không thấy có sự khác biệt nào với người Việt. Chiếc áo Nùng màu chàm với tay áo rộng, thân áo chấm ngang mông không tồn tại từ ngày bà con vào sống ở vùng đất mới này.

Comments