9.6. Tang ma

Khi gia đình có người qua đời, một người đến nhà thày mo để xem ngày giờ tẩm liệm, động quan, di quan, chôn cất...Để báo tin buồn cho cộng đồng, người ta đánh cồng (chiêng có núm) theo một điệu bi ai.

Thi hài thường đặt nằm dưới đất. Khi tẩm liệm, con cháu và người thân phủ phục quanh quan tài. Trước khi chôn cất, những người chịu tang phải túc trực quanh quan tài, không đi xa trừ các trường hợp đặc biệt: đau ốm, làm vệ sinh cá nhân... Người chịu tang phải ăn chay cho đến khi chôn cất xong mới ăn mặn (có thịt, cá) bình thường.

Mỗi khi có người tới phúng điếu, hội hiếu lại cử nhạc với cồng, trống, đàn... (hoặc cử nhạc lễ cúng). Bạn hữu, người thân tới viếng được phát vòng dây tang đeo tay, bây giờ lệ này không phổ biến. Tiền phúng điếu được một người ghi chép cẩn thận vào sổ tang (như ở đám cưới).

Thày mo đến đọc kinh, cầu khấn (bằng tiếng Nùng) đưa hồn người chết về xum họp với tổ tiên, đồng thời mong hồn phù hộ gia đình, dòng họ, xóm làng được mọi sự yên vui. Thày mo có mang theo bàn thờ tổ, gia chủ mang gạo, trái cây đặt lên bàn thờ tổ. Cúng xong, thày được hưởng các lễ vật của tang chủ, ngoài ra còn được thêm thịt heo, tiền công và một con gà nhỏ còn sống.

Cũng như người Việt, người Hoa, trong đám tang thì người chịu tang là vợ con, anh chị em, cháu. Người chồng không phải để tang vợ. Chồng chết, người vợ không được theo ra huyệt mộ. Thày mo xem tuổi các người chịu tang, ai hợp tuổi (với người quá cố) mới được đưa quan tài ra đến mộ.

Khi đưa đám, từ một đến ba người thân nhất phải nằm ngửa hoặc phủ phục để quan tài khiêng qua ba lần, gọi là "lót đường". Nhiều gia đình làm nhà táng bằng giấy phủ được quan tài và mua ngựa giấy, vàng mã... đốt tại huyệt mộ để người chết có nhà ở, có ngựa cưỡi và có tiền bạc tiêu xài ở thế giới bên kia.

Con gái thì làm cây tiền bằng giấy cắt dán, khi đưa đám vừa lắc cây tiền vừa khóc. Tới huyệt mộ, sau khi chôn cất và đốt nhà táng, vàng mã thì cũng đốt luôn cây tiền.

Một người con gái khác gánh các đồ dùng thường ngày của người quá cố ra để gần huyệt rồi chạy trốn, chừng nào chôn cất xong mới lại có mặt (người ta không giải thích vì sao lại có hành động này).

Khi chôn cất xong, những người chịu tang tháo bỏ hết tang phục cho vào gánh hoặc giỏ xách đem về. Cuối năm, gia đình xả tang (dù người chết vào lúc xa hay cận Tết) cho hết u buồn của năm cũ, để năm mới được bình yên vui vẻ. Làm lễ xả tang phải mời thày mo đến cúng và đọc kinh, sau đó đốt hết tang phục.

Trong nhà có người qua đời thì mọi vật dụng trên bàn thờ tổ tiên đều bỏ đi hết (vì tổ tiên không giữ được cho người đó thì không cúng). Chôn cất xong, người ta lại mua các vật dụng khác để tiếp tục cúng kiếng (thí dụ: bát nhang, lô chén nước, chân nến...)

Cũng như người Việt ở miền Bắc, người Nùng chôn cất (hung táng) người chết bằng mả đất. Sau ba năm, họ cải táng, nhờ thày mo xem ngày giờ bốc mộ, lấy cốt rửa sạch rồi cho vào tiểu sành hoặc vò, đem chôn chỗ khác. Cải táng xong, người ta mới xây ngôi mộ lâu dài.

Nếu con cháu làm ăn vẫn khá thì gia đình đó chưa cải táng, nếu làm ăn sút kém thì mới di dời mộ bằng cách cải táng, có nhờ thày xem mạch đất với mong ước sẽ phát.

Comments