9.7. Đời sống tâm linh

Phần đông người Nùng ở Đồng Nai hiện nay vẫn thờ cúng tổ tiên là chính. Số người theo các tôn giáo khác không nhiều. Các ông bà già thường đi chùa lễ Phật vào ngày mùng một hoặc ngày rằm âm lịch.

Trong mỗi gia đình, nơi trang trọng nhất, dễ thấy nhất (vì ở giữa nhà) có bàn thờ tổ tiên tương tự như bàn thờ của người Việt hoặc người Hoa. Bàn thờ này có thể được bày cỗ mặn vào các dịp cúng kiếng. Phía trên bàn thờ tổ tiên có trang thờ Phật Quan Thế Âm bồ tát, chỉ có nhang và nước, hoa... Ly, tách, dĩa, bát nhang, chân nến... trên bàn thờ chỉ rửa mỗi năm một lần bằng nước lá bưởi (có mùi thơm) vào chiều 29 hay 30 tháng chạp vì người ta không muốn động đến bàn thờ, làm kinh động sự bình yên của tổ tiên.

Ở cửa ra vào có nhà có bàn thờ thần thổ công, nhưng nay ít thấy. Nhiều nhà tuy không buôn bán cũng thờ thần tài với niềm hi vọng tăng gia sản xuất, chăn nuôi được suôn sẻ, nông sản làm ra bán có giá.

Vào dịp Tết, người Nùng mua giấy lì xì màu đỏ in trang kim dán trước cửa ra vào mong được hên trong mọi việc làm ăn. Việc dán giấy lì xì có thể là do họ chịu ảnh hưởng của người Hoa.

Ở bếp, người ta cũng thờ ông Táo nhưng không có lệ cúng ông Táo chầu Trời ngày 23 tháng chạp. Người ta cấm kị việc nấu thịt chó, mèo, trâu ở bếp vì sợ xui. Các món thức ăn để cúng nhất thiết không được dùng thịt các loại gia súc nói trên.

Hàng năm, người Nùng ở Đồng Nai còn giữ một số ngày cúng lễ:

- Cúng Tết cổ truyền vào các ngày từ mùng 1 đến mùng 4 Tết để tổ tiên ông bà cùng về xum họp, phù hộ cho con cháu.

- Lễ cúng rằm tháng giêng âm lịch, vào dịp này các người lớn tuổi thường đi chùa lễ Phật.

- Lễ cúng thanh minh vào mùng 3 tháng 3 âm lịch, vào dịp này con cháu đi sửa sang phần mộ của ông bà và người thân đã khuất.

- Lễ cúng mùng 5 tháng năm âm lịch.

- Lễ cúng ruộng vào mùng 6 tháng sáu âm lịch, làm ngay ở ruộng.

- Lễ cúng rằm tháng bảy xá tội vong nhân và cúng cô hồn.

- Lễ cúng trung thu vào rằm tháng tám, nay có gia đình không làm.

- Lễ cúng tất niên vào ngày 29 hay 30 tháng chạp, đón tổ tiên ông bà về ăn Tết cùng con cháu.

Dù giàu, dù nghèo vào những ngày này mỗi gia đình ít nhất cũng làm mâm cơm cúng. Các gia đình thường làm thịt lạp (thịt heo ba chỉ ướp rượu, tiêu, muối... rồi phơi khô bằng cách treo ở bếp) để ăn dần vào sau Tết.

Mỗi xóm, ấp Nùng đều có ngôi miếu thờ Thổ công (vị thần quản lí đất đai địa phương). Miếu tương đối nhỏ, có thể được xây gạch lợp ngói, cũng có miếu làm đơn giản bằng cây lợp tranh. Miếu có bàn thờ với bát nhang, đèn dầu, lư hương, bình bông...

Miếu ông Công ở xã Bàu Hàm 2 tiến hành cúng lễ vào ngày mùng 2 Tết tương tự lễ cúng kì yên của người Việt. Mỗi gia đình đóng một số tiền để làm cỗ cúng miếu. Mỗi gia đình đều mang đến một mâm lễ vật gồm: một con gà luộc, vàng mã, hoa quả... Thày mo tiến hành khấn vái, đọc bài cúng bằng tiếng dân tộc, sau đó đàn ông từng nhà lần lượt vào vái. Lễ cúng miếu ông Công chỉ nam giới được tham dự; gia đình nào không có đàn ông thì phải nhờ một người đàn ông mang lễ vật tới cúng.

Khi buổi lễ kết thúc, lễ vật nhà ai được hoàn trả về nhà nấy, số nam giới tham gia dự tiệc chung.

Lễ cúng vào 16 tháng tám âm lịch cũng làm tại miếu, là lễ cúng khi đã hoàn thành cơ bản việc trồng tỉa vụ mùa, chỉ còn chờ thu hoạch.

Thày mo và bà then là nhân vật quan trọng trong đời sống tâm linh của người Nùng. Khi làm việc gì (xây cất nhà cửa, dựng vợ gả chồng, làm đám ma...) người ta đều đến nhờ thày xem lịch, tính toán ngày giờ sao cho công việc diễn ra tốt đẹp, mang lại may mắn cho gia chủ.

Thày mo được học chữ Hán và nôm Nùng, các bài khấn cúng và thành thạo nghi thức cúng lễ. Thày không thoát li sản xuất. Là trung gian giữa các vị thần và con người, biết việc cát hung, giúp tránh việc xui nên thày mo được cộng đồng kính trọng. Ở ấp Ngô Quyền hiện có thày Hải Việt Nam từng học làm thày mo từ hồi còn nhỏ, có con dấu gỗ (mộc triện) do vị sư phụ truyền cho từ lúc còn ở ngoài Bắc, mới được lập bàn thờ tổ trong nhà mình.

Bà then chuyên làm nhiệm vụ xem bói, giải hạn, cúng chữa bệnh... Bà then thuộc nhiều bài hát then, được ơn trên cho làm nghề. Nhà cũng có bàn thờ tổ và cây đàn tính ba dây để phụ họa, đệm cho các bài then cúng chữa bệnh thường tiến hành vào ban đêm (hoặc cúng bà mụ cho trẻ em, hoặc lễ sinh nhật...)

Người Nùng có một số cấm kị:

- Phụ nữ không tham dự các lễ cúng ở nơi công cộng.

- Tháng giêng người ta không ăn, không cúng thịt vịt và trứng các loại.

- Ngoài hai ngày 29, 30 tháng chạp và mùng 3 tháng ba, người Nùng không dãy cỏ ở mả.

- Làm nhà, sửa nhà, lập bàn thờ, chuyển bàn thờ phải mời thày mo chứ không được tự ý làm.

- Họ rất sợ ma gà - loại ma quấy phá làm hại người và gia súc.

Tuy dân không đông, song trong thời kì kháng chiến chống Mỹ, một số đồng bào Nùng đã giúp đỡ cách mạng bằng cách ủng hộ, mua bán giùm những thứ cách mạng cần. Ngày nay, cộng đồng người Nùng cũng đóng góp một phần vào việc xây dựng kinh tế - xã hội để thực hiện một xã hội ngày càng giàu mạnh, công bằng, văn minh trên đất Đồng Nai. 

Comments