Lịch sử và giai thoại đất Đồng Nai

Bài mới

  • Kỳ lạ dân lập miếu thờ bà 'mụ vườn' Ở Bến Gỗ (xã An Hòa, Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai​) có một ngôi miếu nhỏ mang tên miếu Bà Mụ. Thật kỳ lạ, ngôi miếu cổ này ...
    Được đăng 01:51 29-07-2015 bởi Pham Hoai Nhan
  • Lạ kỳ ngôi miếu dân lập thờ 'bà bóng' cô Hiên Trên tỉnh lộ 768, đoạn đi qua ấp 6-7, xã Thiện Tân, huyện Vĩnh Cửu (Đồng Nai) có một ngôi miếu cổ tên “miếu bà Cô” nằm hướng mặt ...
    Được đăng 01:34 29-07-2015 bởi Pham Hoai Nhan
  • Linh thiêng khu cổ mộ Thượng đẳng thần Trần Thượng Xuyên Trần Thượng Xuyên (1655–1720), quê quán tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc), nguyên là tổng binh nhà Minh. Vì không quy phục triều đình Mãn Thanh nên ông cùng đoàn ...
    Được đăng 02:10 23-07-2015 bởi Pham Hoai Nhan
  • Bí ẩn Cù lao ‘biến mất’ trên sông Đồng Nai Ngoài Cù Lao Phố đã rất nổi tiếng, thì trên sông Đồng Nai, đoạn chảy qua Biên Hòa, có một cù lao nhỏ mang tên Cồn Gáo mà nhiều người ...
    Được đăng 01:35 23-07-2015 bởi Pham Hoai Nhan
  • Núi Châu Thới, suối Lồ Ồ: Một thời chiến địa Núi Châu Thới nằm cách trung tâm TP. Biên Hòa khoảng 5 km, có thể nhìn thấy khi ngồi uống cafe ở bất kỳ quán cafe nào bên bờ sông ...
    Được đăng 08:48 07-10-2014 bởi Pham Hoai Nhan
  • Am Chư vị ở chùa Hóc Ông Che và huyền thoại về vị sư giết cọp Từ tam quan chùa Hóc Ông Che đi thẳng sâu vào bên trong theo hướng tay phải, bạn sẽ đến một am thờ gọi là Am Chư vị. Câu chuyện ...
    Được đăng 09:40 04-10-2014 bởi Pham Hoai Nhan
  • Ngôi nhà thờ cạnh làng bưởi Tân Triều Nhắc đến Biên Hòa người ta hay nhớ tới bưởi. Bưởi Biên Hòa nổi tiếng ngon nhất là bưởi Tân Triều. Tân Triều là một cù lao trên sông Đồng ...
    Được đăng 04:27 01-10-2013 bởi Pham Hoai Nhan
  • Mộ cổ hợp chất Cầu Xéo "Di tích mộ cổ hợp chất Cầu Xéo (thị trấn Long Thành, tỉnh Đồng Nai) được nhận định ban đầu là của một nữ quý tộc ở thế kỷ XVIII ...
    Được đăng 03:49 23-05-2013 bởi Pham Hoai Nhan
  • Nước mắt và nụ cười chung quanh bài thơ "Anh thương binh đầu tiên" của Huỳnh Văn Nghệ Một trong những người thương binh đầu tiên của tỉnh Biên Hoà là anh Bùi Xuân Tảo, một thanh niên làm công nhân cao su là dân contrat, ký hợp ...
    Được đăng 00:03 28-12-2012 bởi Nhân Phạm Hoài
  • Chiến khu Đ và nghĩa trang không có những nấm mồ Nói là nghĩa trang Mã Đà (huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai) nhưng nơi đây không có ngôi mộ nào. Bởi đến nay, người ta vẫn chưa tìm thấy xác ...
    Được đăng 03:25 27-12-2012 bởi Nhân Phạm Hoài
Hiển thị bài đăng 1 - 10trong tổng số 19. Xem nội dung khác »


Kỳ lạ dân lập miếu thờ bà 'mụ vườn'

đăng 01:51 29-07-2015 bởi Pham Hoai Nhan

Ở Bến Gỗ (xã An Hòa, Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai​) có một ngôi miếu nhỏ mang tên miếu Bà Mụ. Thật kỳ lạ, ngôi miếu cổ này được dân làng Bến Gỗ xưa xây dựng để thờ một người phụ nữ làm nghề "mụ vườn" (đỡ đẻ), quanh năm khói hương nghi ngút.

Ngôi miếu bà Mụ Trời gần 200 tuổi do dân làng Bến Gỗ xưa lập để vọng thờ người phụ nữ có tấm lòng đức độ làm nghề “mụ vườn” (đỡ đẻ)


Miếu cổ mang nhiều giai thoại

Hiện tại, trong ngôi miếu còn lưu giữ một bài vị bằng gỗ, chạm trỗ tinh vi ghi hàng chữ Hán Nôm: "Mụ Trời Huỳnh Thị Kiêu tôn thần" và bên hai cây cột của nhà thờ chánh điện có ghi bốn câu đối chữ Nôm (dịch nghĩa): 

Đỡ đẻ cho người là chuyện nhỏ
Hộ sanh giùm hùm mới phi thường

Đỡ đẻ cho cọp làng Bến Gỗ nổi danh cô đỡ Thánh
Hộ sanh giùm hùm xã An Hòa nức tiếng bà Mụ Trời.

Ngôi miếu được trùng tu vào năm 1956, các cây cột, cây kèo bằng gỗ lim ngày xưa vẫn được giữ nguyên.


Theo một số cụ cao tuổi xã An Hòa kể lại một giai thoại dân gian, xưa kia làng Bến Gỗ có người phụ nữ tên Huỳnh Thị Kiêu làm nghề "mụ vườn" rất mát tay. Bà giúp cho nhiều người "mẹ tròn con vuông" để tích đức làm phước chứ không bao giờ nhận tiền công. Cho nên toàn thể dân làng cảm mến đức độ của bà. Vào một đêm sáng trăng, bà Kiêu nghe vách nhà có tiếng quào, bà nhìn ra thì thấy một con cọp rất lớn, miệng gầm gừ nhưng tỏ vẻ thống thiết chuyện gì. Hiểu ý, bà Kiêu hỏi vọng ra: "Phu nhân ngài sanh khó phải không?", cọp gật đầu đáp lại rồi quỳ xuống ra dấu muốn cõng bà Kiêu đi. Bà Kiêu vội vã xách giỏ đồ nghề rồi leo lên lưng cọp. Ông ba mươi đưa bà đến cái hang nơi có con cọp cái đang kêu rống thảm thiết vì bị đẻ ngược. Bà Kiêu nhanh nhẹn "ra tay" đỡ đẻ cho cọp cái, chỉ ít phút cho "ra đời" chú cọp con khỏe mạnh.

Ngôi mộ cổ bà Mụ Trời Huỳnh Thị Kiêu trước khi được tôn tạo, tu bổ (ảnh tư liệu của Ban quý tế miếu)


Xong việc, "ông cọp" đưa bà trở lại nhà. Từ đó, sáng nào trước nhà bà Kiêu cũng có xác một con heo rừng, cheo, thỏ, sóc của chúa sơn lâm mang đến tận nhà bà để đền ơn.

Tấm bia mộ cổ còn ghi rõ hàng chữ: “Bà Huỳnh Thị Kiêu, sanh: 1782, mất: 1842 (ảnh tư liệu của Ban quý tế miếu)


Cũng từ sự tích trên mà nhân dân xưng tụng bà Kiêu gọi là “bà Mụ Cọp” hay “bà Mụ Trời”. Bà sống thọ được 60 tuổi, đến giờ hạ huyệt thì bỗng đâu có một đàn cọp đến rống lên ba tiếng tiễn đưa, rồi mới bỏ đi...

Năm 2015, con cháu bà Kiêu và Ban quý tế miếu xây mới hoàn toàn ngôi mộ


Sau khi bà Kiêu qua đời, dân làng tiếc thương bà, lập một ngôi miếu nhỏ bằng tranh tre vách lá thờ bà ngay tại mảnh đất lúc sinh thời bà ở và suy tôn bà là nữ thần của làng. Năm 1956, ngôi miếu được trùng tu vật liệu bán kiên cố: tường gạch, cột kèo bằng gỗ vuông, nền lót gạch tàu. Miếu được bố trí dạng chữ tam gồm: chánh điện thờ bà Mụ Trời và Ngũ hành nương nương, nhà khách thờ Tiên sư và nhà võ ca đối diện chánh điện.

Bên trong chánh điện, phía trên cùng thờ cúng trang trọng linh vị bà Mụ Trời Huỳnh Thị Kiêu và phía dưới có thờ 5 bà Ngũ Hành nương nương, theo tín ngưỡng thờ bà của dân gian Nam Bộ


Hàng năm, nhân dân Bến Gỗ tổ chức cúng giỗ bà vào ngày 10, 11, 12 tháng 2 (âm lịch) với các nghi thức cúng tế, văn tế mang đầy màu sắc tâm linh tín ngưỡng dân gian Nam Bộ còn lưu truyền.

Phụ nữ Bến Gỗ thường đến thắp nhang khấn vái trước mộ bà Mụ Trời để mong muốn được bình an và toại nguyện trong việc sinh nở và hiếm muộn đường con cái


Miếu cổ đang bị xâm phạm, lấn chiếm

Học giả, nhà nghiên cứu Lý Việt Dũng (người biên soạn cuốn "Thông chí xã An Hòa", trong đó có nhắc đến sự tích bà Mụ Trời Bến Gỗ) cho rằng: “Mẫu đề “Bà mụ cọp” được lưu hành rộng rãi trong hệ thống truyện về cọp ở Nam Bộ với cốt truyện chính là “Bà mụ đỡ đẻ cho cọp”, được khuôn đúc theo cách “nhân nghĩa hóa” cọp. Đây là bài học đạo lý đầy tính nhân văn về thế ứng xử giữa người và vật được ẩn chứa trong lớp vỏ truyền thuyết huyền ảo.

Trước cổng chính ngôi miếu có một hộ dân tự ý lấn chiếm "biến" thành ...cái sạp hàng bán rau. Du khách muốn ghé vào tham quan ngôi miếu nhìn cảnh mặt tiền nhếch nhác, luộm thuộm và bẩn thỉu thì cũng rất ái ngại.


Riêng câu chuyện bà Mụ Cọp và ngôi miếu thờ bà ở xã An Hòa là một nét đặc trưng riêng của đất Đồng Nai. Có thể khẳng định miếu bà Mụ ở Bến Gỗ là một điều đặc biệt hiếm hoi và duy nhất trên cả nước vì ngôi miếu được nhân dân thờ cúng và kể cả lập mộ về một nhân vật có thật, có tên tuổi đầy đủ, rõ ràng (bà mụ vườn Huỳnh Thị Kiêu) chứ không phải nhân vật hư cấu truyền khẩu như ở những nơi khác...”.

Từ lâu, có một hộ dân ngang nhiên xây căn nhà lầu trên phần diện tích đất đai của miếu Bà Mụ, sát cạnh ngôi mộ bà Huỳnh Thị Kiêu mà Ban quý tế đành bó tay.


Tuy nhiên, có một điều rất đáng buồn là hiện tại miếu bà Mụ bị xuống cấp bởi sự lấn chiếm diện tích đất đai, xây cất nhà trái phép của một số hộ dân sống xung quanh. Sát cạnh ngôi mộ bà Huỳnh Thị Kiêu là một ngôi nhà lầu kiên cố xây lấn làm cho ngôi mộ của bà trở nên nhỏ nhoi, không được tôn trọng. Thậm chí trước cổng ngôi miếu cũng có một hộ dân tự ý "biến" thành ...cái sạp hàng bán rau (?), nhìn thật nhếch nhác và luộm thuộm.

Ông Võ Văn A (78 tuổi), thành viên ban quý tế miếu bà Mụ đang lo lắng và bức xúc trước ngôi miếu cổ bị lấn chiếm và xâm phạm của vài hộ dân sống xung quanh.


Ông Võ Văn A (78 tuổi), thành viên ban quý tế miếu bà Mụ mong muốn ngôi miếu cổ này sớm được cơ quan chức năng quan tâm, xem xét và công nhận là di tích lịch sử cấp tỉnh để có cơ hội trùng tu, tôn tạo. Vì hiện tại kinh phí sửa chửa tu bổ miếu hoàn toàn là do dân đóng góp. Đồng thời tạo cơ sở pháp lý để giải quyết dứt điểm tình trạng người dân tự ý lấn chiếm đất đai công của đình làng làm tài sản riêng cho cá nhân của mình.

Học giả, nhà nghiên cứu Lý Việt Dũng, người dày công biên soạn cuốn “Thông chí xã An Hòa” có đề nghị cơ quan ban ngành sớm công nhận miếu bà Mụ Trời Bến Gỗ là di tích lịch sử văn hóa, vì ngôi miếu được nhân dân thờ cúng và lập mộ về một nhân vật có thật, mang nét đặc trưng riêng của văn hóa xứ Đồng Nai.


Mộ bà Kiêu được nhân dân xây cất đàng hoàng và tọa lạc trong khuôn viên miếu. Ngôi mộ còn lưu giữ tấm bia ghi rõ hàng chữ: "Lão mẫu hộ sanh bà Huỳnh Thị Kiêu sanh: 1782, mất: 1842". Ngôi mộ sau này được con cháu bà Kiêu tôn tạo lại vào năm 1962 nên không còn dáng dấp của một ngôi cổ nữa. Năm 2015, con cháu bà Kiêu và Ban quý tế miếu tiếp tục xây mới hoàn toàn ngôi mộ. Người dân Bến Gỗ lâu nay truyền tai nhau “bí quyết” hễ trong nhà có người nào "khó sanh nở" hoặc hiếm muộn đường con cái thì đến thắp nhang khấn vái trước mộ bà Mụ Trời thì sẽ được bình an và toại nguyện. 

BÙI TRÍ

Lạ kỳ ngôi miếu dân lập thờ 'bà bóng' cô Hiên

đăng 01:34 29-07-2015 bởi Pham Hoai Nhan

Trên tỉnh lộ 768, đoạn đi qua ấp 6-7, xã Thiện Tân, huyện Vĩnh Cửu (Đồng Nai) có một ngôi miếu cổ tên “miếu bà Cô” nằm hướng mặt ra bờ sông Đồng Nai. Theo lệ hàng năm vào ngày 10, 11, 12 tháng 2 (âm lịch) có tổ chức cúng giỗ “bà” thật linh đình với các nghi thức cúng tế đậm chất Nam bộ xưa.

Miếu bà Cô (tỉnh lộ 768, thuộc ấp 6-7, xã Thiện Tân, huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai), nằm lẻ loi, hiu quạnh suốt hàng trăm năm ven sông Đồng Nai.


Thật kỳ lạ, nhân vật được nhân dân suy tôn “nữ thần” rồi xây mộ, lập miếu thờ trang trọng suốt hàng trăm năm chỉ là một người phụ nữ làm nghề lên đồng, coi bói. 

Cái chết bi thảm và linh thiêng của "bà bóng" 

Ông Hồ Văn Thanh (60 tuổi), hiện đang làm trưởng ban quý tế miếu bà Cô chia sẻ, thực tế chưa ai xác nhận miếu được xây dựng từ bao giờ. Ông Thanh cho biết ngay từ thời bà ngoại của ông còn sống cũng chưa biết chắc "tuổi thọ" và nguồn gốc của ngôi miếu. Sự tồn tại và linh ứng của ngôi miếu chỉ qua lời kể lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hiện tại, trong khuôn viên của miếu bà Cô có một ngôi mộ tương truyền là mộ của bà. Ban đầu, ngôi mộ nằm ven đường tỉnh lộ 768, cách ngôi miếu khoảng 200m. Khi cải tạo và nâng cấp đường 768, chính quyền địa phương phối hợp với Ban quý tế miếu di dời về an táng trong khuôn viên miếu. Trên tấm bia mộ còn lưu giữ hàng chữ Hán: “Bản xứ thánh nương tính Phạm chi mộ” (Mộ của bà họ Phạm là người sống ở địa phương). 

Ngôi mộ của “Thánh nữ họ Phạm” ngoài khuôn viên ngôi miếu, do nhân dân góp tiền xây dựng và tu bổ mới vào năm 2015 


Từ lâu, dân gian Vĩnh Cửu truyền tụng truyền thuyết về một người phụ nữ tên Phạm Thị Hiên hành nghề đồng cốt tiếp xúc với hồn người mất hoặc với thần linh để thực hiện những nghi thức cúng tế cho làng xã. Dân làng kính nể bùa phép của bà nên gọi là “cô bóng Hiên”. 

Nhân một ngày nọ có một vị tướng tên Lê Văn Lễ kéo quân đi đánh giặc Man. Ông tướng Lễ cưỡi ngựa đi đầu vừa đến làng Thiện Tân thì cô bóng Hiên chạy ra trước đầu ngựa của ông, cản đường nói: “Ngài hãy dừng quân lại. Trời nay chưa giúp ngài đâu. Ngày này không tốt, giờ này không lành, xuất quân đi không có lợi. Ngài mang quân về đợi thuận trời mới thắng được, chứ cứ tiến quân đi tôi e đi thì đại lộ mà về tiểu lộ...”. Ông tướng Lễ thắc mắc: “Vậy bà căn cứ vào đâu mà tiên đoán như vậy?”. Bà liền trả lời: “Theo điềm báo thì việc xuất quân lần này nhiều hao tổn. Nếu nơi đâu mà ngựa dừng chân thì hoạ nhiều lành ít”. 

Vị tướng Lễ tức giận nghĩ mình bị người đàn bà coi thường, liền sai quân chém đầu nhằm thị uy để không làm giảm nhuệ khí quân binh trước khi đánh trận. Sau đó, ông tướng Lễ vẫn thản nhiên đốc quân tiến tới. Lần ấy quân đi không về, tướng Lễ bị giặc phục kích giết chết, nghĩa quân cũng tan rã. Cũng sau trận ấy, dân làng mới thương cảm cho cái chết oan khiêng của cô bóng Hiên nên mang xác về làng chôn cất và lập miếu tranh tre vách lá thờ, mong bà phù hộ độ trì cho dân làng tai qua nạn khỏi. Cứ thế, suốt hàng trăm năm nay, ngôi miếu nhỏ lúc nào cũng được người dân hương khói và những câu chuyện linh ứng của bà hiển linh giúp người có lòng thành cứ lưu truyền từ đời này sang đời khác không nguôi. 

Bên trong chính điện có bức tượng thờ trang trọng bà cô bống Hiên được dân làng Thiện Tân đẽo bằng gỗ mít rất đẹp, lúc nào cũng nghi ngút hương khói. 


Nơi lưu dấu sự kiện lịch sử 

Cụ Tăng Nhất Mẫn (thường gọi Hai Bảnh), năm nay 91 tuổi, trí nhớ thông suốt kể cho chúng tôi biết thêm câu chuyện ngôi miếu từng một thời in đậm bước chân của Khu bộ trưởng Khu 7, Huỳnh Văn Nghệ về đây hoạt động cách mạng. Cụ Hai Bảnh cho biết, giặc Pháp từng đốt phá miếu vì tình nghi là nơi ẩn nấp của Việt Minh, biến nơi linh thiêng của dân thành cái đồn bót tàn ác để kiểm soát dân làng. Bọn Pháp và tay sai còn lấy đi bức tượng bà đẽo bằng gỗ mít cổ thụ, rất lớn trong chánh điện, đặt trên mũi chiếc tàu chiến, chạy lòng vòng sông Đồng Nai như muốn trêu tức dân làng. Xong chán, chúng vứt tượng gỗ xuống đáy sông. Cụ Hai Bảnh cứ nuối tiếc pho tượng bà đã bị thất lạc hơn mấy chục năm qua mà không tìm thấy được. Hiện giờ, trong miếu bà Cô cũng có thờ một bức tượng bà cũng được đẽo lại bằng gỗ mít theo nguyên mẫu tượng xưa, nhưng nhỏ hơn và không quý bằng bức tượng gỗ nguyên thủy của dân làng Thiện Tân tạc hồi xưa. 

 

Du khách thập phương đi ngang qua miếu thường dừng lại thắp lên mộ bà cô bống Hiên 1 nén nhang để cầu xin sự bình an. 


Tại miếu bà Cô từng ghi dấu một sự kiện lịch sử quan trọng. Đó là vào ngày 10-4-1946, phái đoàn quân sự Pháp do đại tá quan năm Fehler (Tư lệnh khu miền Đông) dẫn đầu để dự hội nghị "bàn tròn" với lực lực Việt Minh ở miền Đông Nam Bộ bàn về việc thực thi hiệp ước đình chiến sơ bộ 6-3 (do Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ký với Chính Phủ Pháp vào ngày ngày 6-03-1946). Phái đoàn Khu 7 có các ông: Phạm Thiều, Huỳnh Văn Nghệ, Võ Bá Nhạc, Lê Đình Chi làm đại diện và thay mặt Tư lệnh khu 7 Nguyễn Bình để đàm phán. Do hai bên bất đồng quan điểm (phía Pháp trịch thượng và đưa ra những yêu cầu vô lý ngang ngược như: đòi giải giáp vũ khí của lực lượng Vệ quốc đoàn Nam Bộ) nên đến ngày 16-4-1946, cuộc đàm phán chấm dứt trong tình trạng bế tắc, dẫn đến cuộc xung đột vũ trang tiếp diễn. Từ đó, miếu bà Cô bị quân Pháp đốt phá và chiếm đóng nhiều lần. 

Du khách phương xa thường hay ghé miếu thắp 1 nén nhang lên mộ bà bóng cô Hiên bớt hiu quanh. 


Mãi đến năm 1954, hòa bình lập lại, quân Pháp rút đi thì miếu bà Cô chính thức mới được trả lại cho dân làng thờ cúng. Cuộc trùng tu xây dựng miếu lớn nhất là vào năm 1970, do dân làng góp công góp sức. Năm 2006, miếu bà Cô tiếp tục được tu bổ, tôn tạo, xây lại cổng chính và có xây thêm hàng rào bảo vệ xung quanh. 

Hiện nay, miếu bà Cô đang được UBND tỉnh Đồng Nai công nhận và xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh. Nếu các cơ quan chức năng quan tâm đúng mức và kịp thời và bổ sung thêm nhiều tư liệu hình ảnh lịch sử liên quan đến sự kiện này 10-4-1946 thì có như thế ngôi miếu cổ nằm lẻ loi, hiu quạnh hàng trăm năm ven sông Đồng Nai sẽ thành địa điểm tham quan về nguồn, tìm hiểu văn hóa lịch sử hết sức có ý nghĩa. 

BÙI TRƯỜNG TRÍ

Linh thiêng khu cổ mộ Thượng đẳng thần Trần Thượng Xuyên

đăng 02:10 23-07-2015 bởi Pham Hoai Nhan

Trần Thượng Xuyên (1655–1720), quê quán tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc), nguyên là tổng binh nhà Minh. Vì không quy phục triều đình Mãn Thanh nên ông cùng đoàn tùy tùng, tướng tá giông thuyền vượt biển Đông sang Đàng Trong (Việt Nam) xin tị nạn và lập nghiệp. Ông được coi là người có công khai khẩn, mở mang kinh tế, giao thương quy mô lớn tại vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai.

Khu mộ cổ Trần Thượng Xuyên hiện tọa lạc tại làng Mỹ Lộc, xã Tân Mỹ, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Ảnh: Lê Quốc


Ông còn là một dũng tướng thao lược, nhiều lần giúp chúa Nguyễn cầm binh đánh dẹp giặc dã, mở rộng biên cương bờ cõi. Công đức to lớn của ông được nhân dân ghi tạc suy tôn thần tướng, kính trọng gọi “Đức Ông”, lập đền thờ tại đình Tân Lân (P. Hòa Bình, TP. Biên Hòa, Đồng Nai). Còn riêng phần mộ ông hiện tọa lạc tại làng Mỹ Lộc, xã Tân Mỹ, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Hành trình tìm mộ với những “cơ duyên” lớn

Bãi đất hoang nơi có “mã Chệt” trước khi phát lộ tìm thấy mộ cổ (ảnh tư liệu do Ban Quý tế đình Tân Lân cung cấp)


Theo như trong tập sách “Thân thế và sự nghiệp Đức Ông Trần Thượng Xuyên”(lưu hành nội bộ của Ban quản lý di tích Đình Tân Lân) ghi lời các bô lão lưu truyền cho nhau: Sau khi ông Trần Thượng Xuyên mất, di hài được an táng trên khu thổ mộ của gia tộc tại vùng đất ở phía Bắc trấn thành Biên Hòa, thuộc huyện Phước Long, dinh Trấn Biên, phủ Gia Định (nay là làng Mỹ Lộc, xã Tân Mỹ, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương). Trải qua mấy thế kỷ, chinh chiến liên miên, vật đổi sao dời nên mộ Trần Thượng Xuyên đã bị mất dấu vết dưới lớp bụi dày thời gian. Đó cũng là niềm day dứt của hậu duệ họ Trần Thượng và Ban tế tự đình Tân Lân. Mãi đến năm 1994, nhờ ba cơ duyên lớn đến: thiên thời, địa lợi, nhân hòa nên Ban hội đình Tân Lân đã cất công đi tìm và xác định được vị trí ngô mộ cổ. Một trong những người có công trong hành trình tìm lại được mộ cụ Trần Thượng Xuyên là ông Lâm Văn Lang (thường gọi là Tám Hiền), hiện là Trưởng ban Quý tế đình Tân Lân.

Sau hàng trăm năm mất dấu vết thì vào năm 1994 mộ Trần Thượng Xuyên được tìm thấy và được giữ nguyên trạng mộ đá cổ như xưa. Ảnh: Lê Quốc


Năm 1991, sau khi đình Tân Lân được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích văn hóa lịch sử cấp quốc gia thì kế hoạch đi tìm lại khu mộ của Đức Ông được Ban hội đình Tân Lân họp bàn và quyết tâm phải tìm cho bằng được nơi yên nghỉ của tiền nhân. Năm 1993, cơ duyên đến bất ngờ, trong một lần ông Tám Hiền sang cúng chùa Thanh Lương (P.Bửu Hòa, TP.Biên Hòa), được Hòa thượng trụ trì Thích Thiện Khải nói, ông Tám Hiền phải tìm gặp cụ Bùi Văn Một (90 tuổi), người đang canh giữ đình thần Nguyễn Tri Phương gần đó, thì có khả năng biết được tung tích ngôi mộ của Trần Thượng Xuyên, hòa thượng nói. 

Từ những chữ Hán còn sót lại trên tấm bình phong mà các nhà nghiên cứu, khảo cổ xác nhận được vị trí mộ Trần Thượng Xuyên (ảnh tư liệu do Ban Quý tế đình Tân Lân cung cấp)


Quả thật, cụ Một là người sinh ra và lớn lên tại làng Mỹ Lộc (huyện Tân Uyên, tỉnh Sông Bé cũ). Cụ kể từ lâu đời ở làng Mỹ Lộc quê cụ có một khu mộ đá “bí ẩn” vô chủ, dân làng gọi là “mã Chệt”. Khu đất hoang đó rất linh thiêng, đến nỗi trâu bò không bao giờ bén mảng đến gần gặm cỏ, dân làng mỗi khi đi ngang qua khu mộ đá đó đều không dám chạy nhảy, nói lớn tiếng. Những năm chiến tranh ác liệt, dân quân du kích địa phương trên đường trở về chiến khu Đ, bị giặc phục kích thì chạy ẩn trú núp vào khu mộ. Thật kỳ lạ, quân địch dù cố gắng vạch cỏ truy lùng nhưng không bao giờ tìm thấy bóng dáng đối phương. Ông Huỳnh Văn Sanh, cựu chiến binh xã, kể lại từng trú tránh nơi đây và được Đức Ông che chở an toàn trước làn tên mũi đạn của quân thù...

Tấm bia đá hoa cương cao 2m2, rộng 1m70, phía trước ghi chữ Việt, phía sau ghi chữ Hán thể hiện tiểu sử và công trạng của danh tướng Trần Thượng Xuyên. Ảnh :Lê Quốc


Từ thông tin ít ỏi mà cụ Một cung cấp, linh cảm có thể “mã Chệt” là nơi an nghĩ Trần Thượng Xuyên nên Ban hội đình Tân Lân lập một đoàn đi khảo sát gồm 10 người, trong đó có cụ Một là người am hiểu về đất đai và ông Lương Muối, người thông thạo về Hán văn cổ. Đoàn đi tìm mộ đến làng Mỹ Lộc, hỏi thăm thêm một số bô lão làng Mỹ Lộc để xác định vị trí chính xác khu đất có “mã Chệt”. Đó là khu khu đất nằm sát bên tỉnh lộ 746, cây cối mọc um tùm, cỏ dại chen lút đầu. Sau khi phát dọn xong thì mới lộ thiên ra bốn ngôi mộ đá bị mưa gió đất cát che lấp và bào mòn hết các tấm bia mộ nằm rải rác khắp nơi. Trong đó, có ngôi mộ đá lớn nhất, có tấm bình phong án ngữ phía trước mộ còn sót vài chữ Hán. Nội dung dịch chữ Hán cho biết chủ nhân ngôi mộ là người họ Trần, quê quán tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc). Vị trí ngôi mộ lại nằm ở địa thế phù hợp theo thuyết phong thủy bền vững của người xưa: phía trước có ngọn núi đá lửa, phía sau có sông, dưới sông có lớp đá hàn. 

Nhân dân địa phương thường đến mộ Đức Ông cúng tế để thể hiện lòng thành và tri ân với các bậc tiền nhân có công với đất nước. Ảnh: Lê Quốc 


Trong lúc đó, chợt xuất hiện thêm một “nhân chứng” mới - ông Ba Tòng (cư ngụ thị trấn Uyên Hưng, huyện Tân Uyên). Ông Ba Tòng kể với đoàn tìm mộ là ngay từ nhỏ mỗi lần được cha ruột là thầy giáo Giang (vốn là một ông đồ dạy chữ Hán nổi tiếng ở vùng Tân Uyên) dắt đi ngang khu “mã Chệt” đều nói trong đó có phần mộ của ông Trần Thắng Tài (tên chữ của Trần Thượng Xuyên), là một tướng quân xứ Đồng Nai, người từng xuất quân đi dẹp loạn giặc Cao Miên. Từ những cơ sở đó, Ban Quý tế đình Tân Lân cùng các nhà nghiên cứu, các nhà khảo cổ xác định ngôi mộ đá lớn nhất trong khu “mã Chệt” chính là phần mộ ông Trần Thượng Xuyên và 3 ngôi mộ hoang phế còn lại có thể là mộ thân tộc hoặc cận vệ của ông... 

Nơi tham quan về nguồn tìm hiểu nguồi cội của ông cha 

Đình Tân Lân hiện tọa lạc trên đường Nguyễn Văn Trị, P.Hòa Bình, TP.Biên Hòa, Đồng Nai được xây dựng từ năm 1905 để thờ Đô đốc Trần Thượng Xuyên. Ảnh: Lê Quốc 


Sau khi mộ Trần Thượng Xuyên được phát lộ thì Ban hội đình Tân Lân tiếp tục lên kế hoạch trùng tu, bảo quản. Thêm một “cơ duyên” nữa là gia đình chủ đất hiến toàn bộ diện tích hơn 500 m2 bao bọc khu mộ đá. Ban hội đình Tân Lân bắt đầu gia cố lại các trụ đá, thành mộ bị lún sụt, sạc lở và xây dựng cổng chính, bờ tường rào bao xung quanh. Sau đó, xây thêm một nhà tưởng niệm và dựng một tấm bia đá hoa cương cao 2m2, rộng 1m70, phía trước ghi chữ Việt, phía sau ghi chữ Hán tiểu sử và công trạng của danh tướng Trần Thượng Xuyên. Hàng năm, Ban hội đình Tân Lân đều tổ chức tảo mộ và cúng tế vào dịp thanh minh, lễ trùng cửu, ngày giỗ và lễ cầu an với tham dự của chính quyền cùng hàng trăm người dân. Đặc biệt, năm 2004, khu mộ cổ Trần Thượng Xuyên được UBND tỉnh Bình Dương công nhận là di tích lịch sử cấp tỉnh. 

Theo lời ông Lâm Văn Lang (Trưởng ban Quý tế đình Tân Lân) bày tỏ rằng cũng có nhiều người sau khi thăm viếng mộ có nhiều thắc mắc hỏi ông như: Trần Thượng Xuyên từng được chúa Nguyễn ban danh hiệu cao quý “Nguyễn vi vương, Trần vi tướng, đại đại công thần bất tuyệt”, đồng thời vua Minh Mạng, Thiệu Trị sắc phong "Thượng đẳng thần" thế mà phần mộ lại nhỏ nhoi, khiêm tốn, không xứng tầm với lăng mộ của những đại công thần triều Nguyễn cùng thời khác. Ông Lang lý giải trải qua hàng chục năm thất lạc, không ai chăm sóc, dưới tác động của tự nhiên thì kết cấu mộ bị hoang phế là đúng. Ban đầu khi xác định được mộ, Ban hội đình Tân Lân có ý định trùng tu, xây sửa, ốp đá mới lại hoàn toàn nhưng lại có ý kiến muốn giữ nguyên hiện trạng mộ đá để cho người tham quan còn thấy nơi đây phảng phát nét hoài cổ xa xưa. Kế hoạch sắp tới cũng có dự án tôn tạo mộ Trần Thượng Xuyên cho xứng tầm, nhưng vì khu mộ là di tích đã được xếp hạng muốn làm gì thì cũng phải xin phép và được sự đồng ý của ban ngành chức năng... 


Khu mộ của Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ cách mộ Trần Thượng Xuyên khoảng 150m, cũng là nơi du khách thường ghé thăm viếng 


Cụ Lê Văn Để, người đang bảo vệ và chăm sóc khu mộ cho biết hàng ngày cụ đều mở cửa cho nhiều đoàn du khách đến từ các tỉnh, thành khác đến tham quan, nghiên cứu và tìm hiểu văn hóa, lịch sử và kiến trúc mộ đá cổ của người xưa. Và cũng thật đặc biệt cách mộ Trần Thượng Xuyên khoảng 150m là khu mộ của Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ. Hai vị danh tướng xứ Đồng Nai: Đô đốc Phiên Trấn Gia Định Trần Thượng Xuyên và Thi tướng rừng xanh chiến khu Đ Huỳnh Văn Nghệ, dù sống cách nhau gần 3 thế kỷ nhưng lại có khá nhiều sự trùng hợp thăng trầm trong cuộc đời binh nghiệp . Và sau khi hai vị tướng ấy mất, lại thêm có một sự trùng hợp ngẫu nhiên là cả hai ông đều chọn mảnh đất làng Mỹ Lộc, vùng đất địa linh nhân kiệt: phía trước có con sông Đồng Nai, dưới lòng sông có lớp đá hàn; sau lưng là ngọn núi đá lửa, làm nơi yên giấc ngàn thu. 

Cả hai khu mộ đều là di tích lịch sử và là nơi cho các bạn trẻ tham quan, về nguồn rất thú vị... Về nơi an nghỉ ngàn thu của những bậc tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ mảnh đất phương Nam để chúng ta thấu hiểu tận tường công lao xương máu của bao lớp người xưa đánh đổi mới có được cuộc sống thanh bình hôm nay... 

BÙI TRÍ- Ảnh: Lê Quốc

Bí ẩn Cù lao ‘biến mất’ trên sông Đồng Nai

đăng 01:35 23-07-2015 bởi Pham Hoai Nhan

Ngoài Cù Lao Phố đã rất nổi tiếng, thì trên sông Đồng Nai, đoạn chảy qua Biên Hòa, có một cù lao nhỏ mang tên Cồn Gáo mà nhiều người còn nhớ đến. Trải qua bao cuộc biến thiên dâu bể, Cồn Gáo đã "biến" mất bởi sự tác động của thiên tai và nhân tai.


Một bức chụp hiếm hoi về Cồn Gáo năm 1966 của Daniel P. Cotts. (Nguồn ảnh : Internet)


Không phải ngẫu nhiên mà dư luận tỉnh Đồng Nai nói riêng và cả nước nói chung vừa qua phản đối mạnh mẽ dự án lấn và lấp sông: "Cải tạo cảnh quan và phát triển đô thị ven sông Đồng Nai" do Công ty cổ phần Đầu tư - Kiến trúc - Xây dựng Toàn Thịnh Phát làm chủ đầu tư vì người dân rất lo ngại cho "số phận" của Cù Lao Phố bây giờ sẽ “trôi” mất như cù lao Cồn Gáo năm xưa bởi bàn tay con người tác động xuống dòng chảy sông Đồng Nai.

Cồn Gáo gắn với ký ức tuổi thơ

Những người lớn tuổi, sống lâu năm ở Biên Hoà thường hay nhắc về địa danh “Cồn Gáo” để gợi ký ức xa xăm. Hồi xưa có một cồn nổi thiên nhiên do bãi đất bồi phù sa lâu ngày tạo nên, dân địa phương gọi là Cồn Gáo. Tên gọi Cồn Gáo bởi vì trên đó có nhiều cây Gáo mọc. Cây Gáo (còn được gọi là cây thiên ngân) là cây gỗ cao tới 35m, thân tròn, thẳng đứng, vỏ cây khi còn non có màu nâu tro, tròn nhẵn, khi trưởng thành có màu nâu lợt. Hiện tại, cây Gáo còn mọc nhiều ở ven sông Đồng Nai. Còn ở huyện Trảng Bom (tỉnh Đồng Nai) cũng có một xã tên xã Cây Gáo.

Theo trí nhớ các cụ cao tuổi, trước đình Tân Lân hiện giờ có cái doi đất tự nhiên tên Cồn Gáo. Ảnh: Lê Ngọc Quốc


Vị trí Cồn Gáo được xác định nằm ở giữa khúc sông Đồng Nai đoạn trước đình Tân Lân (đường Nguyễn Văn Trị, P. Hòa Bình, Biên Hòa), cách cây cầu Hóa An hiện hữu khoảng 200m về phía hạ lưu. Trong tập hồi ký "Quê hương rừng thẳm sông dài" của “thi tướng rừng xanh” Huỳnh Văn Nghệ có một đoạn nói tới Cồn Gáo với những trận đua ghe ngo hào hứng trên sông Đồng Nai vào những năm 1930. Cũng trong bút ký "Theo dòng chảy Đồng Nai" (sắp xuất bản) của nhà văn Nguyễn Thái Hải có nhắc đến kỷ niệm hồi nhỏ khoảng những năm 1960, ông cùng bạn bè tiểu học hay "bơi" từ bên bờ sông chợ Biên Hòa qua Cồn Gáo để chơi hoặc chỉ để say sưa nghe người dân sống trên cái doi đất đó kể câu chuyện về cặp rắn thần "bí ẩn". 

Bờ sông ngày xưa, bây giờ được xây kè bờ kiên cố thành một công viên ven sông, nhưng ký ức về cái Cồn Gáo bị “trôi” mất luôn hiện hữu trong tâm thức người dân Biên Hòa. Ảnh: Lê Ngọc Quốc


Chúng tôi may mắn gặp được ông Nguyễn Văn Trắc (Ba Trắc), 82 tuổi, trí nhớ còn khá minh mẫn, nhà ở xóm lò Heo cũ (bây giờ là phường Hòa Bình). Lục lội trong ký ức, ông Ba Trắc nhớ diện tích Cồn Gáo chiều dài chừng hơn 30 thước và chiều ngang khoảng non 20 thước, nằm giữa sông Đồng Nai, bên này bờ là xóm Đình Tân Lân và bên kia bờ là Lò Lu xã Hoá An (TP.Biên Hòa). Lúc bấy giờ trên cồn chỉ có duy nhất một ngôi nhà mái tôn gia đình bà Tám biệt danh bà Tám Heo (vì bà nuôi nhiều heo nái). Lúc con nước cạn con nít có thể từ bên bờ này bơi qua bên đó được. Ông Ba Trắc còn nhớ rất rõ trên Cồn Gáo có 1 cây mận rất to, sai trái nhưng ăn chua lè chua lét. Sau này, Cồn Gáo có khoảng 7 hộ dân ra cất nhà sinh sống bằng nghề chài cá trên sông, tạo thành một cái xóm chài hiu quạnh...

Tại sao Cồn Gáo bị… “trôi” mất?

Trong ngôi đình cổ Tân Lân (P.Hòa Bình, TP.Biên Hòa) vẫn còn lưu giữ 1 bức tranh sơn dầu vẽ toàn cảnh Cồn Gáo. Ảnh: Lê Ngọc Quốc


Về nguyên nhân và thời gian trôi mất Cồn Gáo, đang có nhiều ý kiến khác nhau. Ông Ba Trắc nhớ lại vào năm 1952, năm Biên Hòa bị trận lũ lụt lịch sử khiến người dân nay vẫn còn bị ám ảnh với cái tên "lụt năm Nhâm Thìn" thì Cồn Gáo bị ngập liên tục mấy ngày trời. Lại thêm dòng nước lũ từ thượng nguồn hung hãn đổ về cuốn và san bằng tất cả cây cối, nhà cửa có trên Cồn Gáo. Sau cơn “đại hồng thuỷ nhấn” chìm toàn bộ đó, Cồn Gáo bắt đầu có hiện tượng xói mòn và sạc lở. Từ đó, cái cù lao nhỏ bé có dấu hiệu càng ngày bị thu hẹp nhỏ dần.

Bắt đầu từ thời điểm năm 1972, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa cho khởi công xây dựng cầu Hóa An. Đây là cầu bê bông, trụ cầu gồm 1-2 hàng ống bê tông cốt thép đóng sâu xuống lòng sông Đồng Nai. Có người cho rằng do các cây trụ khổng lồ của công trình cầu Hóa An đã tạo nên một áp lực nước chảy mạnh hơn về phía Cồn Gáo gây hiện tượng sạc lở ngày càng nghiêm trọng (?). 

Sau năm 1975, trước nhu cầu bức thiết vật liệu để xây dựng các công trình dân sinh, thì cát trên con sông Đồng Nai được chính quyền tận thu, hút rất nhiều và bừa bãi. Thậm chí có ghe cập sát bờ Cồn Gáo để cạp và hút cát. Điều này cũng là một trong những nguyên nhân khiến Cồn Gáo càng bị thu hẹp tính bằng ngày.

Có ý kiến khoảng năm 1979 thì Cồn Gáo hoàn toàn "biến" mất, sau một trận mưa rất lớn. Tuy nhiên, ông Ba Trắc nhớ lại là vào tháng 12 năm 1984, vào buổi chiều khoảng hơn 16 giờ, đã xảy ra tai nạn cầu Hóa An bị gãy sập ngay đoạn giữa. Nguyên nhân của sự việc này là do đoàn xe gồm 4 chiếc xe Kamaz Ben (trọng tải xe 8 tấn/chiếc nhưng chất đầy đá mỗi xe đến 20 tấn) đi từ hướng mỏ đá Hóa An về Biên Hòa. Trước khi cầu sập có rất nhiều người đi bộ, đi xe đạp, xe gắn máy trên cầu, hầu hết là công nhân và dân lao động trên đường về sau giờ làm việc. Điều may mắn dưới sông là đang có nhiều ghe đánh cá và tàu của cảnh sát đường sông đang tập trung gần Cồn Gáo đến cứu vớt kịp thời những người rơi xuống sông, nên không có ai thiệt mạng.

Vị trí Cồn Gáo ngày xưa được xác định nằm ở giữa khúc sông đoạn trước đình Tân Lân và cầu Hóa An. Cách cây cầu Hóa An hiện hữu khoảng 200m (đánh dấu X đỏ). Ảnh: Lê Ngọc Quốc


Ông Ba Trắc khẳng định cái Cồn Gáo bị "biến" mất hoàn toàn trên bản đồ sông Đồng Nai là có thể vào khoảng năm 1985 chứ không phải năm 1979. Ông Nguyễn Văn Niên, 55 tuổi, làm nghề chài lưới khúc sông này cung cấp cho chúng tôi thêm một thông tin: vào những ngày nước cạn thì đứng trên bờ vẫn có thể nhìn thấy mờ mờ cái nền đất còn sót lại của Cồn Gáo.

Như vậy, điạ danh Cồn Gáo trên sông Đồng Nai, đoạn chảy qua khu vực TP. Biên Hòa đã bị xóa sổ hoàn toàn do thiên tai và phần lớn cũng do nhân tai. Một số cụ cao niên mà chúng tôi đã gặp, khi nghe nhắc về hai chữ "Cồn Gáo", họ rất xúc động. Nhiều cụ tự dưng rưng rưng nước mắt. Có lẽ, tất cả họ còn hoài niệm ký ức xa xưa về tuổi thơ sông nước của mình gắn liền với cái doi đất hiếm hoi giữa sông, nay đã không còn.

BÙI TRƯỜNG TRÍ, Ảnh: LÊ NGỌC QUỐC

Núi Châu Thới, suối Lồ Ồ: Một thời chiến địa

đăng 08:46 07-10-2014 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 08:48 07-10-2014 ]

Núi Châu Thới nằm cách trung tâm TP. Biên Hòa khoảng 5 km, có thể nhìn thấy khi ngồi uống cafe ở bất kỳ quán cafe nào bên bờ sông Đồng Nai. Trên núi có Châu Thới sơn tự, ngôi chùa có đông đảo khách thập phương lui tới. Nơi đây không chỉ là điểm du lịch tâm linh mà còn là nơi du lịch sinh thái hữu tình (xem: Núi Châu Thới). Còn suối Lồ Ồ ở cách đó không xa cũng đã từng là nơi ngoạn cảnh thiên nhiên tươi đẹp của bao nam thanh nữ tú (xem: Người hẹn cùng ta đến bên bờ suối).


Thế nhưng cách đây gần 250 năm, chốn thiên nhiên hữu tình ấy là bãi chiến trường đầu rơi máu đổ của một trong những thời kỳ rối ren nhất trong lịch sử Việt Nam.


Cảnh thủy mặc bên sườn núi Châu Thới. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


Nói đến những sự kiện ấy phải nhắc tới một nhân vật khá đặc biệt trong lịch sử Việt Nam: Lý Tài.


Lý Tài là một người Hoa. Có tài liệu nói ông là một thương nhân, có sách lại nói là hải tặc. Sử sách triều Nguyễn thì có sách gọi một cách trân trọng là Lý tướng quân, có sách gọi là giặc Lý Tài. Điều chắc chắn là Lý Tài có đông thủ hạ và có tài chỉ huy. Khoảng năm 1773, Lý Tài cùng với một người Hoa khác là Tập Đình mang quân theo phò tá quân Tây Sơn của Nguyễn Nhạc tại Quy Nhơn và lập được nhiều công trạng. Thế nhưng đến cuối năm 1775 Lý Tài lại bỏ quân Tây Sơn để đi theo nhà Nguyễn, dưới quyền chỉ huy của Tống Phước Hiệp.


Mùa hạ năm 1776, Tống Phước Hiệp vào Nam, đưa Lý Tài ra mắt chúa Nguyễn. Bấy giờ Đỗ Thanh Nhơn (được xưng tụng là một trong Gia Định tam hùng, gồm Võ Tánh, Đỗ Thanh Nhơn và Châu văn Tiếp) đang là bậc công thân của chúa. Đỗ Thanh Nhơn nói thẳng với chúa: Lý Tài là đồ heo chó, dùng làm gì. Ngay từ đó Lý Tài và Đỗ Thanh Nhơn đã không ưa nhau.


Tháng 6/1776, Tống Phước Hiệp qua đời. Mất nơi nương tựa, Lý Tài bỏ nhà Nguyễn mà đi, kéo quân chiếm lĩnh núi Châu Thới, hùng cứ một phương. Lý Tài tự xưng đại vương như một thủ lĩnh Lương Sơn Bạc và truyền đổi tên Biên Hòa thành Biên Hùng trấn. Địa danh Biên Hùng bắt đầu có từ đó.


Núi Châu Thới chỉ cao 82 met, không cao lắm nhưng rất lý tưởng để lập doanh trại. Từ đây rất thuận lợi để tiến về Phiên Trấn (Sài Gòn) hoặc Trấn Biên (Biên Hòa), hoặc rút lên núi cố thủ.


Nhìn ở góc này, núi Châu Thới giống như một thành trì với hào sâu vây quanh. Ảnh: Phạm Hoài Nhân, 2013.


Từ trên núi, có thể quan sát một vùng rộng lớn. Hiện giờ, khi trời quang từ đây có thể nhìn thấy tòa nhà Bitexco (TPHCM) cách xa 25 km. Ảnh: Phạm Hoài Nhân, 2013.


Không ưa Lý Tài, Đỗ Thanh Nhơn nhiều lần kéo quân sang vùng núi Châu Thới đánh. Nhiều trân thư hùng diễn ra đẫm máu tại đây giữa Nghĩa Hòa đoàn của Lý Tài và quân Đông Sơn của Đỗ Thanh Nhơn.


Trận đánh đẫm máu nhất diễn ra khoảng tháng 8 năm 1776. Trong trận này, khi quân Đông Sơn tiến đánh Lý Tài ở núi Châu Thới thì quân Lý Tài giả thua bỏ chạy. Họ phục binh tại Tân Bản Kiều (cầu ván mới), một chiếc cầu ở thượng nguồn Lộ Khê, tức là suối Lồ Ồ ngày nay, rồi đổ ra đánh quân Đỗ Thanh Nhơn tan tác.


Lúc bấy giờ Đông cung Dương của nhà Nguyễn bỏ Quy Nhơn vào Nam. Lý Tài nhận lời chiêu an của Đông cung và lại... theo phe chúa Nguyễn. Duệ Tông nhường ngôi cho Đông cung Dương, Đông cung trở thành Tân Chính vương. Lý Tài trở thành Bảo giá Đại tướng quân cho vương.(Xin chú ý rằng cùng là nhà Nguyễn, nhưng một đàng là Nguyễn Ánh đang được quân Đông Sơn của Đỗ Thanh Nhơn phò tá, một đàng là Tân Chính vương được Nghĩa Hòa đoàn của Lý Tài "bảo giá").


Sự việc chưa dừng ở đó. Tháng 3 năm 1776, quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy tiến vào Nam. Việc chia rẽ của nhà Nguyễn là miếng mồi ngon cho Tây Sơn. Tại vùng Châu Thới - suối Lồ Ồ, quân Lý Tài bị đánh tơi tả. Lý Tài bỏ chạy về Ba Giồng (Châu Thành, Tiền Giang bây giờ) là nơi Nguyễn Ánh đang đóng với sự phò tá của quân Đông Sơn. Không có gì khó hiểu khi Lý Tài bị quân của Đỗ Thanh Nhơn giết chết tại đây.


Cuộc đời Lý Tài khá trùng khớp với câu Được làm vua - thua làm giặc. Từ Trung quốc tha hương sang Việt Nam có lẽ lúc đầu ông là thảo khấu (hoặc hải tặc), không có phe phái chính thống nào để phò trợ, ông sẵn sàng theo bất cừ phe nào miễn có lợi cho mình, và khi có điều kiện thì tự lập mình làm vua một cõi. Không có tầm nhìn chính trị và cũng không có thời cơ như Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch, Lý Tài quay cuồng trong cuộc chiến và bỏ mạng vô nghĩa.


Cũng cần nói thêm, Đỗ Thanh Nhơn - một trong Gia Định tam hùng, và là kẻ thù không đội trời chung với Lý Tài - chỉ 5 năm sau đã bị giết chết. Không phải bị quân Tây Sơn giết, cũng không phải bị tàn quân của Lý Tài phục hận, mà ông đã bị giết năm 1781 bởi chính tay Nguyễn Ánh. Một thời kỳ lịch sử đầy tối tăm và rối rắm!


Ngày nào đó ngồi uống cà phê bên dòng sông Đồng Nai, bạn hãy nhìn xa bên kia sông là núi Châu Thới để trầm ngâm. Giờ này nơi ấy là ngôi cổ tự yên bình với tiếng chuông, tiếng mõ, nhưng non xanh nước biếc còn đây vẫn ghi dấu bao oán thù chồng chất, bao thăng trầm dâu bể trên đời...


Rồng trên núi Châu Thới. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


Phạm Hoài Nhân

Am Chư vị ở chùa Hóc Ông Che và huyền thoại về vị sư giết cọp

đăng 09:40 04-10-2014 bởi Pham Hoai Nhan

Từ tam quan chùa Hóc Ông Che đi thẳng sâu vào bên trong theo hướng tay phải, bạn sẽ đến một am thờ gọi là Am Chư vị. Câu chuyện về Am Chư vị này khá lý thú.


Cửa Am Chư vị


Theo truyền thuyết được người dân sống gần chùa Hóc Ông Che kể lại, sau thời gian theo học sư Khánh Lâm ở Châu Thới Sơn Tự, sư tổ chùa Hóc Ông Che là Huệ Lâm được thầy mình tặng bộ vật phẩm gồm: Cái rựa, xâu chuỗi và mõ gỗ. Rựa dùng để phát quang rừng rậm, xâu chuỗi dùng để tham thiền, mõ dùng để tụng kinh luyện trừ âm binh. Ngoài ra ông còn được truyền thụ bí kíp về võ bùa.


Cũng theo truyền thuyết, người luyện được võ bùa thì trong khi đấu võ có thể gọi được âm binh, âm tướng đến trợ lực.


Miễu thở phía trước am Chư vị


Thuở ấy, vùng Hóa An (nơi chùa Hóc Ông Che tọa lạc) là khu rừng rậm rạp, đầy thú hoang. Trong rừng có con cọp hung dữ từng hại nhiều người, bắt gia súc. Con cọp này đã hung dữ lại khôn lanh nên không ai trị được. Cọp dữ tạo nên khiếp sợ trong dân làng và khu rừng vốn hoang vắng lại càng hoang vắng hơn, không ai dám bén mảng.


Có một người ở Dĩ An đến đây sinh sống, vốn tinh thông võ nghệ. Ông cùng với thầy Hai (tên thường gọi của sư Huệ Lâm) kết nghĩa anh em, quyết trừ cọp dữ. Lại nghe kể rằng người này cũng giỏi môn võ bùa giống như thầy Hai.


Hai người đưa đồ đệ đến khu rừng tìm diệt hổ dữ. Sau nhiều ngày dò tìm, ông thầy Hai và người em kết nghĩa bắt gặp cọp dữ. Trận chiến kéo dài từ sáng đến tối không phân thắng bại giữa cọp và người. Đám đồ đệ yếu sức sau đó phải dạt ra né tránh nhằm đảm bảo tính mạng. Còn lại hai thầy kiên trì hợp sức quần nhau với cọp. Người ta kể lại rằng: Hai thầy  tay vung roi, miệng hô thần chú, chân tay tả đột hữu xông, đánh nhau với cọp suốt mấy ngày liền, với sự trợ lực của âm binh, âm tướng.

Khi đám đồ đệ gọi thêm người quay lại rừng trợ lực thì trận chiến đã kết thúc. Cọp dữ đã bị giết chết, xác nằm đó nhưng hai thầy cũng đã kiệt sức nằm chết giữa rừng. Vì chủ chết bất đắc kỳ tử nên các âm binh, âm tướng không có ai thu hồi lại, đành bơ vơ vất vưởng nơi rừng hoang. Đ
ồ đệ chùa Hóc Ông Che thấy vậy mới lập am để thờ các vị này, gọi là Am chư vị. 


Các tượng thờ bên trong Am Chư vị, có hình tượng cọp ở giữa


Bức tranh trên vách am kể lại chuyện sư đánh cọp


Hình ảnh cọp dữ cùng âm binh, âm tướng trên vách am


Truyền thuyết về võ bùa có thể có thật hoặc không, chuyện đánh cọp của 2 nhà sư cũng có thể phần nào được thêu dệt, nhưng chắc chắn có một điều có thật mà câu chuyện để lại: đó là xưa kia vùng đất này là nơi hoang sơ nhiều thú dữ, cha ông ta tốn nhiều mồ hôi, xương máu để khần hoang, mở làng, lập ấp.


Phạm Hoài Nhân

Ngôi nhà thờ cạnh làng bưởi Tân Triều

đăng 04:27 01-10-2013 bởi Pham Hoai Nhan

Nhắc đến Biên Hòa người ta hay nhớ tới bưởi. Bưởi Biên Hòa nổi tiếng ngon nhất là bưởi Tân Triều. Tân Triều là một cù lao trên sông Đồng Nai, cách trung tâm thành phố Biên Hòa khoảng 10 km, thuộc huyện Vĩnh Cửu. Nơi đây đã dần trở nên một điểm du lịch sinh thái khá quen thuộc vì có làng bưởi, có sông nước hữu tình, khung cảnh làng quê yên ả. Thế nhưng trong bài viết này tôi không nói về làng bưởi Tân Triều (để dành cho bài khác, hi hi!) mà nói về một ngôi nhà thờ: Nhà thờ Tân Triều.


Nhà thờ Tân Triều


Nhà thờ Tân Triều là một ngôi nhà thờ nhỏ, khiêm tốn nằm gần vườn bưởi Năm Huệ (điểm du lịch sinh thái). Kiến trúc nhà thờ cũng không nổi bật, do đó dễ bị bạn đi ngang qua mà không chú ý, nhất là nếu bạn đang nôn nao bước vào vườn bưởi, và không là tín đồ công giáo. Tuy nhiên, nếu bạn biết vài điều lý thú về lịch sử ngôi nhà thờ này có lẽ bạn sẽ dừng chân để nhớ về quá khứ...


Thứ nhất, đây là một trong những ngôi nhà thở cổ nhất miền Nam. Nhà thờ Tân Triều có từ năm 1778, nghĩa là có trước Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn gần 100 năm! (nhà thờ Đức Bà Sài Gòn xây dựng xong năm 1865). Tuy vậy, ngôi nhà thờ ta thấy hiện nay là đã được xây lại, không còn kiến trúc cổ ngày xưa nữa.


Thứ hai, ở nhà thờ này có một thánh tích vô giá đối với người công giáo. Đó là tượng chúa Jesus trên thập giá trong nhà thờ này có gắn một mảnh thánh giá thật.


Thứ ba, trên tháp chuông nhà thờ có 2 quả chuông, được đúc ở châu Âu từ giữa thế kỷ 19, trong đó có 1 quả chuông được đúc từ năm 1867 đã được dùng tại nhà thờ Đức Bà Sài Gòn. Tháp chuông được xây dựng lại năm 1994.


Thế kỷ 18, Nguyễn Ánh cùng tùy tùng chạy tránh quân Tây Sơn đã lưu lạc đến đây. Ông đã tổ chức một triều đình tạm ở đây, và chính Nguyễn Ánh đã đặt tên vùng đất này là Tân Triều, nghĩa là triều đình mới.


Điều thú vị cuối cùng về nhà thờ Tân Triều lại có liên quan đến... nguồn gốc của bưởi Tân Triều. Người ta nói rằng năm 1869, một cha xứ ở nhà thờ Tân Triều đã mang hai cây bưởi gốc từ Brazil về trồng trong sân nhà thờ, hằng năm cho trái sum suê. Thấy vậy, người dân ở đây xin chiết nhánh bưởi về trồng. Và cứ thế nhân rộng ra cùng với một số giống bưởi khác... Không ngờ, hơn một thế kỷ sau, Tân Triều trở thành làng bưởi nổi tiếng.


Dự thánh lễ ở nhà thờ Tân Triều


Đó là những điều tôi biết về nhà thờ Tân Triều, xin được khơi gợi lại cùng các bạn. Nếu có ghé thăm làng bưởi Tân Triều, bạn hãy bỏ chút thời gian ngắm qua nơi đặc biệt này, cho dù cảnh quan không đặc sắc lắm, nhé bạn!


Phạm Hoài Nhân

Mộ cổ hợp chất Cầu Xéo

đăng 03:46 23-05-2013 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 03:49 23-05-2013 ]

"Di tích mộ cổ hợp chất Cầu Xéo (thị trấn Long Thành, tỉnh Đồng Nai) được nhận định ban đầu là của một nữ quý tộc ở thế kỷ XVIII, với rất nhiều giá trị lịch sử - văn hóa quý giá, nhất là có những chi tiết vô cùng độc đáo và cũng có thể nói là lần đầu tiên được thấy ở dạng mộ cổ hợp chất tại Việt Nam…", PGS.TS. Phạm Đức Mạnh (Trường Đại học KHXH&NV TP HCM), người chủ trì công trình khai quật, thích thú cho biết.


Chữ "Phu nhân chi mộ" và chữ "Hoàng" trên tấm bia.


Mộ cổ đã từng bị đào trộm…

Di tích mộ cổ hợp chất Cầu Xéo tọa lạc trong khuôn viên một nhà dân, thuộc địa phận tổ 24 thị trấn Long Thành, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Di tích này nằm trên khoảnh đất bằng phẳng rộng khoảng 40m2, với kiến trúc có tường thành bao quanh gần như nguyên vẹn và cửa mộ hướng bắc (chếch tây 40o), thuộc khu vực quy hoạch giải tỏa để xây dựng đường cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây.


Từ ngày 5 đến ngày 20/9 vừa qua là đợt 1 trong nhiều đợt của toàn bộ khối lượng công việc bao gồm khai quật, di dời, tôn tạo, thông báo báo cáo khoa học… di tích mộ cổ hợp chất này.

Khi nói về di tích này, PGS.TS. Phạm Đức Mạnh tỏ ra vô cùng hào hứng, ông cho biết ngôi mộ này có rất nhiều chi tiết kiến trúc, hoa văn… tuyệt đẹp, vì thế ngoài phần quan quách âm phần của ngôi mộ thì ông và người đồng chủ trình công trình khai quật - nhà nghiên cứu mộ cổ nổi tiếng Đỗ Đình Truật, đã kiến nghị với UBND tỉnh Đồng Nai phải bảo quản toàn bộ kiến trúc dương phần (khối lượng ước tính ban đầu nặng khoảng mấy chục tấn) di dời về Văn miếu Trấn Biên Đồng Nai để bảo tồn. Công việc này sẽ tiến hành ngay sau đợt 1 vừa qua, đồng thời là những công việc xét nghiệm và hoàn thiện báo cáo khoa học...

Theo khảo sát ban đầu của đoàn khai quật thì ngôi mộ này đã từng bị đào trộm vì nấm quách hợp chất bị đào băm gần chính giữa thân, nền cạnh hông bên trái ngôi mộ địa bị đào sâu một rãnh dài gần 3m, sâu cỡ 1,5-1,8m, tuy nhiên có lẽ do hợp chất của mộ quá cứng nên bọn đào trộm đã phải bỏ ngang. Trong khi đó, nằm cách mộ này khoảng 15m về hướng đông nam còn có một ngôi mộ hợp chất khác cũng đã bị đào phá toàn bộ kiến trúc bề mặt, vật liệu hợp chất vẫn còn nằm rải rác xung quanh.

PGS.TS. Phạm Đức Mạnh cho biết, trong quá trình khai quật, lực lượng Công an Đồng Nai đã phải ngày đêm bảo vệ nghiêm ngặt vì lo sợ có sự phá hoại công trình do một số người đồn đại rằng trong quan tài có nhiều vàng bạc đá quý, ngoài ra còn có một số người có ý định xin hoặc lấy trộm một số miếng gỗ quan tài để về cầu cơ, đánh đề…(!)

Mộ hợp chất này có kiến trúc khép kín tạo hình gần chữ nhật, nếu tính cả phần tường bao, mộ có chiều dài khoảng 8,5m, rộng cỡ 4,5-4,6m, từ nơi đặt huyệt ra cửa được phối trí ghép liền bởi hai phần là phần quách và phần sân tiền.

Trong đó, phần quách là bộ phận bảo vệ ngoài cùng của huyệt mộ được đúc liền khối vững chắc với cấu trúc mui luyện hình voi phục, có bờ bao quanh với hai rìa bờ vát dọc đều. Mặt sau là bờ tường bao phần hậu gồm một khán thờ gấp khúc kiểu bình phong có khuôn hình chữ nhật, xung quanh khuôn tạo vành giật 2 cấp; ở khuôn giữa có đục khắc một số chữ Hán còn khá rõ, theo nhận định ban đầu có thể đó là một bài thơ. Đối xứng hai bên bình phong là cặp khuôn câu đối... Ngoài cùng gắn hai bên bình phong hậu là cặp tượng phù điêu phối trí đối xứng thể hiện mô típ "Lưỡng long chầu nguyệt". Bệ đỡ bình phong hậu xây giả hộc thờ…


Ngôi mộ cổ bắt đầu được khai quật (Hình chụp lại từ tư liệu của PGS.TS. Phạm Đức Mạnh).


Còn phần sân tiền - tiền sảnh có bề mặt hợp chất khá phẳng, phối trí bình phong tiền và cặp trụ cửa đầu sen (hay biểu tượng gọi là "đuốc thiêng"). Bình phong tiền được đặt trên bàn đề đơn giản, hai đầu trên chặt vát góc, khung hình chữ nhật chính giữa trang trí dạng phù điêu tạo hình các mô típ như cặp nai (một đứng, một nằm) dưới gốc cây đa ở mặt hướng ra cửa trước và tứ linh (long - lân - quy - phụng) ở mặt sau hướng về ban thờ bia… Tất cả những chi tiết này cho thấy sự chuẩn bị, xây dựng vô cùng công phu, cầu kỳ cho ngôi mộ của chủ nhân.

Khi được khai quật, có thể thấy rằng, ngôi mộ được chôn theo dạng "trong quan - ngoài quách", quách được làm bằng gỗ sao ghép tấm liền khít bờ bao kim tĩnh hợp chất, với nắp phẳng, ghép bằng đinh sắt hình chữ U cỡ lớn và cỡ trung bình. Áo quan nằm lọt chính giữa quách gỗ, với tấm thiên làm bằng nửa thân cây và khoét rỗng rất nặng, được chế tác kỳ công, toàn bộ vòm cong tấm thiên phủ tấm minh tinh bằng vải mỏng đã bị mủn, mờ gần hết chữ và trang trí dày đặc (hình họa nhận rõ nhất là dây leo và các hàng hoa cúc, hoa 5-6 cánh viền dọc, các hình vòng cung đối xứng rất đều nhau…), đây là đặc trưng của dạng mộ quý tộc ở miền Nam.

Áo quan ghép mộng ở hai đầu rất chắc chắn, tạo gờ viền đều đặn với bốn mấu nhô có trổ thủng đối xứng nhau để chốt gỗ vào tấm thiên. Bốn góc bên ngoài của quan tài có bốn vòng đinh sắt khoen tròn dùng lúc hạ quan vào quách gỗ. Nước màu đen quánh nồng mùi ngập quan và quách gỗ khoảng 25-30cm (rất giống màu nước ngập trong quách cụ bà ở mộ cổ Xóm Cải, quận 5, TP HCM đã khai quật trước đây).

Theo nhận định ban đầu của PGS.TS. Phạm Đức Mạnh, chủ nhân của ngôi mộ cổ này là một nữ quý tộc, tuổi đời dưới 60, cao hơn 1,55m, được chôn ở tư thế nằm ngửa, hai tay bó dọc thân, tóc dài và nhuộm răng đen…

Ngôi mộ cổ có vô số điều độc đáo, hiếm thấy

Dù đã chủ trì và tham gia rất nhiều công trình nghiên cứu, khai quật mộ cổ ở Nam Bộ nói chung và Đồng Nai nói riêng, tuy nhiên với ngôi mộ cổ này, PGS.TS. Phạm Đức Mạnh cho biết ông thực sự ngạc nhiên và hứng khởi vì được thấy quá nhiều điều độc đáo và cả những chi tiết mới lần đầu tiên được thấy tại Việt Nam.

Đầu tiên có thể kể là tấm bia mộ (bia bằng đá sa thạch tím hạt mịn - loại đá này không có ở Đồng Nai, nhiều khả năng được mang từ miền Trung vào). Trên bia có thể đọc được dòng chữ "Phu nhân chi mộ", dù chữ "Phu" không được rõ chi tiết lắm.

Điều độc đáo là sau khi cắt phần bia mộ bên trên để di dời thì lúc khai quật xuống, phần bia mộ vẫn còn kéo dài xuống phía dưới ngay cửa mộ và phần này có khắc chữ "Hoàng". PGS.TS. Phạm Đức Mạnh cho biết, đây là lần đầu tiên ông thấy chi tiết này ở bia mộ hợp chất tại Việt Nam và chữ "Hoàng" có nhiều nghĩa: hoàng tổ, hoàng tộc, hoàng đế… nhưng ở đây có thể được hiểu là "cửa mộ" - nơi đưa quan tài vào.

Một đặc điểm độc đáo nữa khiến nhiều người ngạc nhiên, dù đây là mộ bà nhưng nó lại có hình voi phục dành cho mộ ông. Bình thường nếu là mộ bà thì nó khá nhỏ, hay được gọi là mộ mu rùa, nhưng ngôi mộ này lại rất lớn, khối lượng lên tới hơn mười mấy tấn giống như của mộ ông. Đặc điểm này có thể đưa đến nhận định đây là mộ của một nữ phu nhân, quý tộc có phẩm cách cao quý, vương giả.

Theo PGS.TS. Phạm Đức Mạnh thì đây là ngôi mộ có hợp chất tốt nhất mà ông đã từng khai quật từ trước tới nay, nhất là quách bằng hợp chất cực kỳ cứng, mỗi bên dày tới nửa mét.


Quan tài khi đã được mở ra.


Điều rất đáng chú ý ở ngôi mộ này chưa từng thấy trước đây là người xưa đã bố trí tới hai ban thờ (thờ Thổ địa nơi mộ tọa lạc) ngay trên bờ bao đối xứng nhau ngang với ban thờ bia. Mỗi ban gồm đế đỡ chân quỳ, khán thờ và cặp tượng phù điêu nghê khá tinh xảo đối xứng hai bên ban thờ.

Mộ hợp chất thường có quách hợp chất rồi đổ đầy cát tuyển, nhưng riêng ở ngôi mộ này thì ngoài quách hợp chất còn có một quách bằng gỗ sam cứng, lớn, áo quan để trong không hề có chút cát nào. Điều đặc biệt nữa là khắp áo quan đều được phủ minh tinh dày (đây là tấm vải, trong đó thường ghi họ tên, chức danh… của chủ nhân ngôi mộ) còn khá rõ các hoa văn… Các khóa, chêm, hay các mộng liên kết với nhau của quan tài đều có hình con cá, đây là một dạng kỹ thuật mộc thông dụng của thế kỷ XVIII.

Theo PGS.TS. Phạm Đức Mạnh, phần đặc biệt nhất mà lần đầu tiên ông được thấy là toàn bộ phần bên trên của thi hài cụ bà đều được phủ bằng lá sen (một nét văn hóa Phật giáo rất rõ ràng), sau đó là phần y phục chủ nhân đã bị mủn nát kết dính nhau thành khối, có thể nhận rõ nhiều lớp lụa, đoạn, gấm in hoa cầu kỳ, tinh xảo, các tệp giấy bản dài và hẹp dọc hai bên thân và các đồ bổ khuyết để đầy quan tài. Toàn thân cụ được để nằm trên một chiếu cói, bên dưới chiếu là một lớp tro dày độ 2 tấc để thấm hút. Đặc biệt dưới phần đầu của cụ là một lớp thủy ngân óng ánh, đây là điều khá huyền bí cần phải được nghiên cứu thêm, ngay cả giá trị y khoa cũng cần được tìm hiểu rõ.


Xương cốt còn nguyên vẹn.


Bên cạnh đó, phần ngực cũng có dấu tích của lúa nguyên hạt, bên tai trái của cụ có đặt một cái ngoáy trầu, trong ống ngoáy trầu còn thấy một xác cau (bước đầu xác định đầu cầm của ngoáy trầu và ống ngoáy có thể bằng bạc, tạo hình giống như cái nậm rượu, que ngoáy bằng đồng thau), dưới đó một chút là dây buộc, hột có thể bằng hổ phách, một túi gấm hình tam giác bên trong đựng mấy chiếc răng rụng, và một số phẩm phục màu đỏ có hàng nút bằng vàng tây.


Xương cốt của cụ còn nguyên vẹn và chất lượng sọ và xương rất tốt, cụ được đặt nằm ngửa, hai tay xuôi để dọc sát thân người, đặc biệt hai chân được đặt trên một chiếc gối bọc da màu đen hình vuông - đây cũng là chi tiết mà PGS.TS. Phạm Đức Mạnh thấy lần đầu tiên ở Việt Nam. Hai chân còn được mang hài quý tộc mũi thon cong giống cánh hoa thêu chỉ vàng tinh xảo. Đặc biệt phần dưới chân được đổ khoảng mấy ký hạt tròn đen lạ (?)…


Như vậy, có thể thấy di tích mộ hợp chất cổ Cầu Xéo có khá nhiều chi tiết trang trí, phối trí và kiến trúc độc đáo riêng, lạ, lần đầu tiên được khám phá tại Việt Nam. Vì thế, theo PGS.TS. Phạm Đức Mạnh, di tích mộ này cần được phục hồi nguyên trạng để phục vụ giới nghiên cứu lịch sử - văn hóa vật thể - phi vật thể nói riêng và phục vụ cho công tác đào tạo, giáo dưỡng các thế hệ trẻ "tri ân tiên tổ", phục vụ nhân dân nói chung.


PGS.TS. Phạm Đức Mạnh cho biết, hiện đang tiến hành giám định các mẫu thực vật tại Phòng thí nghiệm thực vật, Khoa Sinh vật Trường Đại học Tự nhiên - ĐHQG TP.HCM, giám định C14 mẫu gỗ quách tại Trung tâm kỹ thuật hạt nhân TP.HCM, mẫu hợp chất tại Trung tâm kỹ thuật đo lường chất lượng và Trung tâm dịch vụ phân tích thí nghiệm TP.HCM, và đang tiếp tục đợt khai quận 2 di dời toàn bộ kiến trúc dương phần độc đáo của di tích mộ hợp chất Cầu Xéo về để phục hồi nguyên trạng tại Văn miếu Trấn Biên (TP Biên Hòa - Đồng Nai).


Phạm Phú Lữ - CSTC tuần số 78

Đọc thêm:

Nước mắt và nụ cười chung quanh bài thơ "Anh thương binh đầu tiên" của Huỳnh Văn Nghệ

đăng 23:46 27-12-2012 bởi Nhân Phạm Hoài   [ đã cập nhật 00:03 28-12-2012 ]

Một trong những người thương binh đầu tiên của tỉnh Biên Hoà là anh Bùi Xuân Tảo, một thanh niên làm công nhân cao su là dân contrat, ký hợp đồng với bọn mộ phu vào Nam Kỳ tham gia bộ đội và bị thương trong trận tấn công thị xã Biên Hoà vào Tết Dương lịch 1/1/1946. Anh được đưa về quân y viện ở Ðất Cuốc trong chiến khu Ð giải phẫu cánh tay bị thương.

Chiến khu Đ

Giám đốc quân y viện Chi đội 10 của tỉnh Biên Hoà là sinh viên y khoa năm chót, Võ Cương nhảy theo kháng chiến. Tuy là sinh viên mới ra trường, Võ Cương nổi tiếng là nhà giải phẫu "mát tay". Chuyên viên gây mê của quân y viện là chị An (sau là vợ giám đốc binh công xưởng Bùi Cát Vũ) được đào tạo ở Sài Gòn. Bấy giờ chiến khu có một ít thuốc tê và mê do bác sĩ Hồ Văn Huê đưa vô khu từ bệnh xá Sở cao su Lộc Ninh.

Do tiết kiệm thuốc mê nên y sĩ Võ Cương bảo anh Tảo:
  • Thuốc mê ít, anh nên hát một bài nào đó để hỗ trợ tinh thần khi tôi bắt đầu giải phẫu.
Anh Tảo chỉ biết có bài Tiến quân ca nên hát Quốc ca. Khi chị An rắc thuốc mê được vài giây thì anh Tảo lịm đi, tiếng hát chìm xuống như máy hát hết dây cót. Anh em y tá cùng ca tiếp với anh. Ðúng vào lúc đó, anh Tám Nghệ cỡi ngựa đi ngang quân y viện. Nghe hát Quốc ca, anh xuống ngựa đứng nghiêm. Nhưng bài Quốc ca cứ hát đi rồi hát lại. Tò mò, anh bước vào thì chứng kiến ca mổ. Anh đứng nhìn khá lâu, xúc động lắm. Sáng hôm sau trong chiến khu có bài thơ mới "ra lò", bài thơ lấy tên Tiếng hát giữa rừng:

Ngựa hồng dừng chân
Bên quân y viện
Giật mình nghe tiếng
Quốc ca vang

Phải chăng giờ chào cờ buổi sáng
Hay hội nghị cơ quan
Sao chỉ một người cất giọng
Hát đi rồi hát lại nhiều lần

Xuống ngựa buộc cương
Hỏi ra mới biết
Bác sĩ đang cưa chân
Một chiến sĩ bị thương
Bằng cưa thợ mộc

Bác sĩ vừa cưa vừa khóc
Chị cứu thương mắt cũng đỏ hoe
Nhìn ảnh Bác Hồ trên tấm vách tre
Anh chiến sĩ cứ mê mải hát

Cưa cứ cưa, xương cứ đứt
Máu cứ rơi từng vết đỏ bông
Hai bàn tay xiết chặt đôi hông
Dồn hết phổi vào trong tiếng hát
"Ðoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc"
Ðã hát đi hát lại bao lần
Vẫn chưa đứt xương chân
Vẫn chưa ngừng máu đỏ

Vừa xong băng bó
Anh lịm đi
Hồi hộp cả núi rừng
Tiếng hát mới chịu ngưng
ẢNH BÁC HỒ NHƯ RƯNG RƯNG NƯỚC MẮT

Trở lên yên ngựa đi từng bước
Cúi đầu nén nỗi đau thương
Nhưng lửa căm hờn
Bỗng dựng cao đầu ngựa dậy
Vang trời ngựa hí
Chí phục thù cháy bỏng tay cương

50 năm sau cuộc giải phẫu anh Bùi Xuân Tảo, năm 1996, tôi tới thăm bác sĩ Võ Cương, nay lấy tên là Mười Năng, đã về hưu sau khi giữ chức Phó Hiệu trưởng trường Ðại học Y Dược TPHCM. Hai anh em bàn chuyện thơ văn Huỳnh Văn Nghệ. Anh Võ Cương cười vang nhà khi tôi nhắc bài thơ Tiếng hát giữa rừng

  • Nhà văn hãy nghe nhà y bắt giò nhà thơ trong bài Tiếng hát giữa rừng nghe. Bài thơ có nhiều điểm sai "đập vào mắt" mà sao tác giả và các thi hữu không trông thấy. Thứ nhất, anh Tảo bị thương ở cánh tay. Chính tôi cắt cánh tay đó. Nhà thơ đã đổi cánh tay thành cái chân. Có lẽ cái chân thuận tiện hơn cánh tay trong việc gieo vần. Thôi cũng được. Mình thông qua đi. Thứ hai, do tác động của thuốc mê, anh Tảo chỉ hát Quốc ca có câu đầu "Ðoàn quân Việt Nam đi..." rồi anh hết hơi, câu thứ hai hạ thấp để rồi tắt hẳn "chung lòng cứu quốc". Những câu sau là do anh em y tá hát tiếp chớ anh Tảo thì đã mê man rồi. Nhà thơ cứ cho anh Tảo hát đi rồi hát lại là sai luật tự nhiên. Nhưng cũng có thể cho qua vì nhà thơ không phải là y bác sĩ. Thứ ba, bác sĩ vừa cưa vừa khóc. Ðây là điểm sai căn bản. Cái nghề cưa tay cưa chân, cặp mắt phải thật tinh, bàn tay cũng phải thật chính xác. Vừa cưa, vừa khóc thì làm sao chỉ huy bàn tay giải phẫu chính xác được? Thứ tư, giải phẫu dứt khoát phải tiến hành nhanh. Làm gì có chuyện "hát đi hát lại bao lần, vẫn chưa đứt xương chân". Như vậy, anh Tám "chê" thằng cha Võ Cương này kém nghiệp vụ chuyên môn.
Võ Cương uống một ngụm UTQ (uống trà quạu), cười nói:
  • Nhà văn nghĩ sao về những điểm tôi vừa nêu?
Tôi gật gù:
  •   Với tư cách là nhà giải phẫu, những nhận xét của anh đều đúng trăm phần trăm. Nhưng với tư cách nhà thơ, anh Tám cũng có những suy nghĩ riêng của mình. Hãy đọc kỹ câu chót của bài thơ:
"Nhưng lửa căm hờn bỗng dựng cao đầu ngựa dậy
Vang trời ngựa hí, chí phục thù cháy bỏng tay cương"

Muốn gây căm thù phải "dramatiser" (bi thảm hoá) tình huống, phải không anh?

Võ Cương gật đầu:
  • Ðồng ý là "dramatiser" nhưng nên tránh những "hư cấu phi lý" như bác sĩ vừa cưa vừa khóc. Ðồng ý chớ? Rất tiếc là anh Tám đã đi xa để nghe mình bắt giò anh ấy hôm nay.

Chiến khu Đ và nghĩa trang không có những nấm mồ

đăng 03:25 27-12-2012 bởi Nhân Phạm Hoài

Nói là nghĩa trang Mã Đà (huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai) nhưng nơi đây không có ngôi mộ nào. Bởi đến nay, người ta vẫn chưa tìm thấy xác các chiến sĩ cách mạng của ta đã hi sinh.

Ông Nguyễn Văn Nhân, Trạm trưởng khu di tích Trung Ương Cục miền Nam cho biết: “Nghĩa trang không bia mộ rộng khoảng hơn 70 hecta. Sở dĩ gọi là nghĩa trang không bia mộ vì nơi đây chôn cất rất nhiều liệt sĩ nhưng chưa tìm được hài cốt. Tuy nhiên, đến thời điểm này, diện tích thực tế của nghĩa trang Mã Đà tới đâu không ai biết được”. Theo ông Nhân, trong khu vực nghĩa trang có hàng trăm thậm chí hàng ngàn liệt sĩ đã hi sinh.

Khu đền thờ liệt sĩ

Chiến khu Đ là di tích nằm giữa đại ngàn. Bốn phía giáp sông tạo nên ưu thế về mặt quân sự và phản ánh được tầm nhìn chiến lược trong việc chọn địa bàn đứng chân của Trung ương Cục miền Nam Việt Nam gia đoạn 1961-1962.

Bí ẩn về nghĩa trang ở chiến Khu Đ

Đã có một số nhà ngoại cảm về nghĩa trang Mã Đà để tìm hài cốt liệt sĩ. Nhưng hiện tại chỉ có chục ngôi mộ được bốc lên và đưa về quê hương an táng. Trong quá trình tuần tra, bảo vệ rừng, lực lượng kiểm lâm mới tìm thấy một số ngôi mộ của các chiến sĩ. Tuy nhiên, những ngôi mộ này đa phần là không thể xác định được danh tính.

Được biết, vào thời chiến, khu nghĩa trang là một trạm quân y. Các chiến sĩ bị thương ở các chiến trường được chuyển về đây chữa trị. Trong thời kỳ chiến tranh loạn lạc, các trạm quân y luôn bị dặt trong tình trạng thiếu thốn thuốc men. Cái thời tiết khắc nghiệt của núi rừng, nhiều anh em chiến sĩ bị những con sốt rét hoành hành.

Ông Nguyễn Văn Nhân cho biết, có thể trong một đêm có hàng trăm chiến sĩ đã hi sinh. Ngoài ra nhiều chiến sĩ bị lọt vào ổ phục kích của địch, bị rắn cắn hay thú dữ tấn công cũng hi sinh. Tất cả đều nằm lại ở nghĩa trang không nấm mồ này.

Theo những người còn sống sót từ chiến trường xưa trở về kể lại, những trận đánh giữa ta và địch, rất nhiều chiến sĩ đã nằm xuống. Họ đã đã đưa đồng đội về đây an táng chờ ngày đất nước toàn thắng. Lúc ấy, đồng đội sẽ đưa liệt sĩ trở về với gia đình. Nhưng hết trận đánh này đến trận đánh khác, nơi các anh nằm cứ thế bị bom đan của kẻ thù dội xuống. Nó đã xóa nhòa dấu vết, bia mộ. Có lẽ cũng từ đó, cái tên “nghĩa trang không mộ” cũng được hình thành.

Sau khi khu di tích được phục hồi nguyên trạng vào năm 2004, đã có rất nhiều người đã từng chiến đấu nơi chiến địa này xuất phát từ trách nhiệm và lòng tri ân đã quay lại tìm đồng đội. Trong số đó có ông Nguyễn Văn Tân, trước kia là Giám đốc Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Đồng Nai. Đã từ lâu, ông thường xuyên cùng đồng đội cũ lên khu nghĩa trang tìm hài cốt chiến hữu ngày nào.

Được biết, thông qua nhiều kênh tìm kiếm, cho đến nay khoảng 60 hài cốt liệt sĩ đã được tìm thấy và qui tập vào các nghĩa trang liệt sĩ ở tỉnh Đồng Nai. Thế nhưng trong ngôi đền thờ trước cổng nghĩa trang Mã Đà chỉ có tên của sáu liệt sĩ và bốn tấm bia được ghi trong ngôi đền tưởng niệm các chiến sĩ đã hy sinh. Bên cạch đó cũng có những hài cốt mãi mãi không thể qui tập được do nước cuốn trôi xuống những dòng suối quanh vùng.

Kỳ lạ loại cây trung quân

Trong cái nắng oi bức của những ngày tháng 7, PV lặn lội 120 km từ TP. HCM về chiến khu Đ, nơi từng được mệnh danh là “ Việt Bắc miền Nam” từ 1961-1962. Dưới sự hướng dẫn nhiệt thành của ông Nhân, men theo con đường đất đỏ quanh co dẫn vào rừng, chúng tôi đã đến được với những cây đa hơn 150 tuổi và khu đất mọc toàn cây trung quân.

Trước mắt PV là những cây đa sừng sững, thân cây bị dây leo bám chằng chịt. Theo quan sát của chúng tôi, gốc cây có đường kính lớn đến chục người ôm không xuể. Những cây đa ở đây chứng kiến việc chôn cất rất nhiều phần mộ của các chiến sĩ đã hi sinh trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ.

Khi chúng tôi thắc mắc về những cây đa này thì được ông Nhân lí giải: “Trước đây, trong thời chiến, rất nhiều chiến sĩ đã hi sinh ở mảnh đất này. Những ngày tháng chống chọi với đạn bom khốc liệt, các chiến sĩ nằm xuống mà không được chôn cất tử tế, chẳng bia mộ, chẳng lấy một nén nhang. Để tránh thất lạc về sau, những người còn sống khi ấy đã chôn đồng đội mình bên những gốc cây đa. Vì họ nghĩ, từ xưa đến giờ chẳng ai khai thác gỗ đa để làm nhà. Chính vì vậy, cái dấu này sẽ còn mãi mãi”.

Ông Nhân cho biết thêm, nếu sau này ai còn sống sót trở về thì cứ thế mà căn cứ vào gốc đa ngày trước để tìm lại phần mộ của đồng đội mình. Hiện tại, vẫn có rất nhiều hài cốt của những liệt sĩ xung quanh những gốc đa này. Tuy nhiên, chưa ai tìm đến cả.

Hướng mắt về phía những cây đa khổng lồ, ông Nhân kể lại cho chúng tôi nghe về câu chuyện tưởng chừng chỉ có trong huyền về liệt sĩ Nguyễn Sỹ Việt. Liệt sĩ này đã hi sinh tại căn cứ địa cách mạng.

Vào năm 2010, theo lời của người thân liệt sĩ Việt, trong một đêm đang ngon giấc thì liệt sĩ Việt về báo mộng với mẹ rằng, thân xác đang nằm ở vùng căn cứ địa cách mạng. Ở nơi đó có đền thờ bên cây đa. Năm nay mà không đưa lên được thì mãi mãi sẽ không tìm thấy nữa.

Trước lời báo mộng đó, gia đình liệt sĩ Việt ở Nghệ An đã tức tốc vào chiến khu Đ tìm gặp lực lượng kiểm lâm nhờ dẫn xuống địa điểm có cây đa và đền thờ. Nhờ quá trình tìm kiếm và sự hỗ trợ của những đồng đội còn sống, họ đã tìm thấy hài cốt liệt sĩ Việt. Cũng nhờ vào dấu tích của những cây đa mà rất nhiều liệt sĩ vô danh được người thân tìm thấy.

Dưới những tán lá rậm rạp của cây đa cổ thụ là những cây thân gỗ nhỏ. Những chiếc lá dài xanh mướt mọc thẳng đứng như vươn lên đón lấy ánh nắng mặt trời. Đó là một loại cây có cái tên cũng rất “cách mạng”: Cây trung quân.

Cây trung quân

Ông Nhân kể lại về truyền thuyết cái tên cây kỳ lạ này: Ngày xưa có một ông Vua bị các quan tham và nịnh thần hãm hại. Một ngày, lợi dụng Vua vào rừng đi săn, bọn quan tham đó đã châm lửa để thiêu chết ông hòng chiếm ngôi. Trong quá trình chạy lửa vô tình vị vua đã lọt vào cánh rừng toàn cây lạ. Tưởng chừng lửa sẽ cháy cả khu rừng, nhưng bỗng nhiên lại dừng lại ở những cây thân nhỏ này.

Sau này Vua mới biết, đặc điểm của lá trung quân là rất khó cháy. Cũng nhờ đó mà vua đã thoát chết trở về cung điện trị tội bọn phản thần, vô lại và đặt tên cho loài cây đó là cây trung thần. Rồi theo câu chuyện truyền thuyết ấy, người ta cứ truyền miệng rồi gọi là lá trung quân cho tới tận ngày nay. Sau này, lá trung quân lại trở thành vật che mưa che nắng cho các vị lãnh đạo cách mạng của ta trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt. Lá trung quân được bộ đội ta kết thành tấm để lợp nhà, lợp lán.

Mái nhà lợp bằng lá trung quân

Đến tận bây giờ, những ngôi nhà lợp bằng lá trung quân ở vùng căn cứ địa cách mạng vẫn hiên ngang tồn tại theo năm tháng. Nó như một chứng nhân lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam.

Trung Nguyên - Quyên Triệu
Người đưa tin -  5/8/2012

1-10 of 19

Comments