Lịch sử và giai thoại đất Đồng Nai

Bài mới

  • Núi Châu Thới, suối Lồ Ồ: Một thời chiến địa Núi Châu Thới nằm cách trung tâm TP. Biên Hòa khoảng 5 km, có thể nhìn thấy khi ngồi uống cafe ở bất kỳ quán cafe nào bên bờ sông ...
    Được đăng 08:48 07-10-2014 bởi Pham Hoai Nhan
  • Am Chư vị ở chùa Hóc Ông Che và huyền thoại về vị sư giết cọp Từ tam quan chùa Hóc Ông Che đi thẳng sâu vào bên trong theo hướng tay phải, bạn sẽ đến một am thờ gọi là Am Chư vị. Câu chuyện ...
    Được đăng 09:40 04-10-2014 bởi Pham Hoai Nhan
  • Ngôi nhà thờ cạnh làng bưởi Tân Triều Nhắc đến Biên Hòa người ta hay nhớ tới bưởi. Bưởi Biên Hòa nổi tiếng ngon nhất là bưởi Tân Triều. Tân Triều là một cù lao trên sông Đồng ...
    Được đăng 04:27 01-10-2013 bởi Pham Hoai Nhan
  • Mộ cổ hợp chất Cầu Xéo "Di tích mộ cổ hợp chất Cầu Xéo (thị trấn Long Thành, tỉnh Đồng Nai) được nhận định ban đầu là của một nữ quý tộc ở thế kỷ XVIII ...
    Được đăng 03:49 23-05-2013 bởi Pham Hoai Nhan
  • Nước mắt và nụ cười chung quanh bài thơ "Anh thương binh đầu tiên" của Huỳnh Văn Nghệ Một trong những người thương binh đầu tiên của tỉnh Biên Hoà là anh Bùi Xuân Tảo, một thanh niên làm công nhân cao su là dân contrat, ký hợp ...
    Được đăng 00:03 28-12-2012 bởi Nhân Phạm Hoài
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 15. Xem nội dung khác »


Núi Châu Thới, suối Lồ Ồ: Một thời chiến địa

đăng 08:46 07-10-2014 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 08:48 07-10-2014 ]

Núi Châu Thới nằm cách trung tâm TP. Biên Hòa khoảng 5 km, có thể nhìn thấy khi ngồi uống cafe ở bất kỳ quán cafe nào bên bờ sông Đồng Nai. Trên núi có Châu Thới sơn tự, ngôi chùa có đông đảo khách thập phương lui tới. Nơi đây không chỉ là điểm du lịch tâm linh mà còn là nơi du lịch sinh thái hữu tình (xem: Núi Châu Thới). Còn suối Lồ Ồ ở cách đó không xa cũng đã từng là nơi ngoạn cảnh thiên nhiên tươi đẹp của bao nam thanh nữ tú (xem: Người hẹn cùng ta đến bên bờ suối).


Thế nhưng cách đây gần 250 năm, chốn thiên nhiên hữu tình ấy là bãi chiến trường đầu rơi máu đổ của một trong những thời kỳ rối ren nhất trong lịch sử Việt Nam.


Cảnh thủy mặc bên sườn núi Châu Thới. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


Nói đến những sự kiện ấy phải nhắc tới một nhân vật khá đặc biệt trong lịch sử Việt Nam: Lý Tài.


Lý Tài là một người Hoa. Có tài liệu nói ông là một thương nhân, có sách lại nói là hải tặc. Sử sách triều Nguyễn thì có sách gọi một cách trân trọng là Lý tướng quân, có sách gọi là giặc Lý Tài. Điều chắc chắn là Lý Tài có đông thủ hạ và có tài chỉ huy. Khoảng năm 1773, Lý Tài cùng với một người Hoa khác là Tập Đình mang quân theo phò tá quân Tây Sơn của Nguyễn Nhạc tại Quy Nhơn và lập được nhiều công trạng. Thế nhưng đến cuối năm 1775 Lý Tài lại bỏ quân Tây Sơn để đi theo nhà Nguyễn, dưới quyền chỉ huy của Tống Phước Hiệp.


Mùa hạ năm 1776, Tống Phước Hiệp vào Nam, đưa Lý Tài ra mắt chúa Nguyễn. Bấy giờ Đỗ Thanh Nhơn (được xưng tụng là một trong Gia Định tam hùng, gồm Võ Tánh, Đỗ Thanh Nhơn và Châu văn Tiếp) đang là bậc công thân của chúa. Đỗ Thanh Nhơn nói thẳng với chúa: Lý Tài là đồ heo chó, dùng làm gì. Ngay từ đó Lý Tài và Đỗ Thanh Nhơn đã không ưa nhau.


Tháng 6/1776, Tống Phước Hiệp qua đời. Mất nơi nương tựa, Lý Tài bỏ nhà Nguyễn mà đi, kéo quân chiếm lĩnh núi Châu Thới, hùng cứ một phương. Lý Tài tự xưng đại vương như một thủ lĩnh Lương Sơn Bạc và truyền đổi tên Biên Hòa thành Biên Hùng trấn. Địa danh Biên Hùng bắt đầu có từ đó.


Núi Châu Thới chỉ cao 82 met, không cao lắm nhưng rất lý tưởng để lập doanh trại. Từ đây rất thuận lợi để tiến về Phiên Trấn (Sài Gòn) hoặc Trấn Biên (Biên Hòa), hoặc rút lên núi cố thủ.


Nhìn ở góc này, núi Châu Thới giống như một thành trì với hào sâu vây quanh. Ảnh: Phạm Hoài Nhân, 2013.


Từ trên núi, có thể quan sát một vùng rộng lớn. Hiện giờ, khi trời quang từ đây có thể nhìn thấy tòa nhà Bitexco (TPHCM) cách xa 25 km. Ảnh: Phạm Hoài Nhân, 2013.


Không ưa Lý Tài, Đỗ Thanh Nhơn nhiều lần kéo quân sang vùng núi Châu Thới đánh. Nhiều trân thư hùng diễn ra đẫm máu tại đây giữa Nghĩa Hòa đoàn của Lý Tài và quân Đông Sơn của Đỗ Thanh Nhơn.


Trận đánh đẫm máu nhất diễn ra khoảng tháng 8 năm 1776. Trong trận này, khi quân Đông Sơn tiến đánh Lý Tài ở núi Châu Thới thì quân Lý Tài giả thua bỏ chạy. Họ phục binh tại Tân Bản Kiều (cầu ván mới), một chiếc cầu ở thượng nguồn Lộ Khê, tức là suối Lồ Ồ ngày nay, rồi đổ ra đánh quân Đỗ Thanh Nhơn tan tác.


Lúc bấy giờ Đông cung Dương của nhà Nguyễn bỏ Quy Nhơn vào Nam. Lý Tài nhận lời chiêu an của Đông cung và lại... theo phe chúa Nguyễn. Duệ Tông nhường ngôi cho Đông cung Dương, Đông cung trở thành Tân Chính vương. Lý Tài trở thành Bảo giá Đại tướng quân cho vương.(Xin chú ý rằng cùng là nhà Nguyễn, nhưng một đàng là Nguyễn Ánh đang được quân Đông Sơn của Đỗ Thanh Nhơn phò tá, một đàng là Tân Chính vương được Nghĩa Hòa đoàn của Lý Tài "bảo giá").


Sự việc chưa dừng ở đó. Tháng 3 năm 1776, quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy tiến vào Nam. Việc chia rẽ của nhà Nguyễn là miếng mồi ngon cho Tây Sơn. Tại vùng Châu Thới - suối Lồ Ồ, quân Lý Tài bị đánh tơi tả. Lý Tài bỏ chạy về Ba Giồng (Châu Thành, Tiền Giang bây giờ) là nơi Nguyễn Ánh đang đóng với sự phò tá của quân Đông Sơn. Không có gì khó hiểu khi Lý Tài bị quân của Đỗ Thanh Nhơn giết chết tại đây.


Cuộc đời Lý Tài khá trùng khớp với câu Được làm vua - thua làm giặc. Từ Trung quốc tha hương sang Việt Nam có lẽ lúc đầu ông là thảo khấu (hoặc hải tặc), không có phe phái chính thống nào để phò trợ, ông sẵn sàng theo bất cừ phe nào miễn có lợi cho mình, và khi có điều kiện thì tự lập mình làm vua một cõi. Không có tầm nhìn chính trị và cũng không có thời cơ như Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch, Lý Tài quay cuồng trong cuộc chiến và bỏ mạng vô nghĩa.


Cũng cần nói thêm, Đỗ Thanh Nhơn - một trong Gia Định tam hùng, và là kẻ thù không đội trời chung với Lý Tài - chỉ 5 năm sau đã bị giết chết. Không phải bị quân Tây Sơn giết, cũng không phải bị tàn quân của Lý Tài phục hận, mà ông đã bị giết năm 1781 bởi chính tay Nguyễn Ánh. Một thời kỳ lịch sử đầy tối tăm và rối rắm!


Ngày nào đó ngồi uống cà phê bên dòng sông Đồng Nai, bạn hãy nhìn xa bên kia sông là núi Châu Thới để trầm ngâm. Giờ này nơi ấy là ngôi cổ tự yên bình với tiếng chuông, tiếng mõ, nhưng non xanh nước biếc còn đây vẫn ghi dấu bao oán thù chồng chất, bao thăng trầm dâu bể trên đời...


Rồng trên núi Châu Thới. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


Phạm Hoài Nhân

Am Chư vị ở chùa Hóc Ông Che và huyền thoại về vị sư giết cọp

đăng 09:40 04-10-2014 bởi Pham Hoai Nhan

Từ tam quan chùa Hóc Ông Che đi thẳng sâu vào bên trong theo hướng tay phải, bạn sẽ đến một am thờ gọi là Am Chư vị. Câu chuyện về Am Chư vị này khá lý thú.


Cửa Am Chư vị


Theo truyền thuyết được người dân sống gần chùa Hóc Ông Che kể lại, sau thời gian theo học sư Khánh Lâm ở Châu Thới Sơn Tự, sư tổ chùa Hóc Ông Che là Huệ Lâm được thầy mình tặng bộ vật phẩm gồm: Cái rựa, xâu chuỗi và mõ gỗ. Rựa dùng để phát quang rừng rậm, xâu chuỗi dùng để tham thiền, mõ dùng để tụng kinh luyện trừ âm binh. Ngoài ra ông còn được truyền thụ bí kíp về võ bùa.


Cũng theo truyền thuyết, người luyện được võ bùa thì trong khi đấu võ có thể gọi được âm binh, âm tướng đến trợ lực.


Miễu thở phía trước am Chư vị


Thuở ấy, vùng Hóa An (nơi chùa Hóc Ông Che tọa lạc) là khu rừng rậm rạp, đầy thú hoang. Trong rừng có con cọp hung dữ từng hại nhiều người, bắt gia súc. Con cọp này đã hung dữ lại khôn lanh nên không ai trị được. Cọp dữ tạo nên khiếp sợ trong dân làng và khu rừng vốn hoang vắng lại càng hoang vắng hơn, không ai dám bén mảng.


Có một người ở Dĩ An đến đây sinh sống, vốn tinh thông võ nghệ. Ông cùng với thầy Hai (tên thường gọi của sư Huệ Lâm) kết nghĩa anh em, quyết trừ cọp dữ. Lại nghe kể rằng người này cũng giỏi môn võ bùa giống như thầy Hai.


Hai người đưa đồ đệ đến khu rừng tìm diệt hổ dữ. Sau nhiều ngày dò tìm, ông thầy Hai và người em kết nghĩa bắt gặp cọp dữ. Trận chiến kéo dài từ sáng đến tối không phân thắng bại giữa cọp và người. Đám đồ đệ yếu sức sau đó phải dạt ra né tránh nhằm đảm bảo tính mạng. Còn lại hai thầy kiên trì hợp sức quần nhau với cọp. Người ta kể lại rằng: Hai thầy  tay vung roi, miệng hô thần chú, chân tay tả đột hữu xông, đánh nhau với cọp suốt mấy ngày liền, với sự trợ lực của âm binh, âm tướng.

Khi đám đồ đệ gọi thêm người quay lại rừng trợ lực thì trận chiến đã kết thúc. Cọp dữ đã bị giết chết, xác nằm đó nhưng hai thầy cũng đã kiệt sức nằm chết giữa rừng. Vì chủ chết bất đắc kỳ tử nên các âm binh, âm tướng không có ai thu hồi lại, đành bơ vơ vất vưởng nơi rừng hoang. Đ
ồ đệ chùa Hóc Ông Che thấy vậy mới lập am để thờ các vị này, gọi là Am chư vị. 


Các tượng thờ bên trong Am Chư vị, có hình tượng cọp ở giữa


Bức tranh trên vách am kể lại chuyện sư đánh cọp


Hình ảnh cọp dữ cùng âm binh, âm tướng trên vách am


Truyền thuyết về võ bùa có thể có thật hoặc không, chuyện đánh cọp của 2 nhà sư cũng có thể phần nào được thêu dệt, nhưng chắc chắn có một điều có thật mà câu chuyện để lại: đó là xưa kia vùng đất này là nơi hoang sơ nhiều thú dữ, cha ông ta tốn nhiều mồ hôi, xương máu để khần hoang, mở làng, lập ấp.


Phạm Hoài Nhân

Ngôi nhà thờ cạnh làng bưởi Tân Triều

đăng 04:27 01-10-2013 bởi Pham Hoai Nhan

Nhắc đến Biên Hòa người ta hay nhớ tới bưởi. Bưởi Biên Hòa nổi tiếng ngon nhất là bưởi Tân Triều. Tân Triều là một cù lao trên sông Đồng Nai, cách trung tâm thành phố Biên Hòa khoảng 10 km, thuộc huyện Vĩnh Cửu. Nơi đây đã dần trở nên một điểm du lịch sinh thái khá quen thuộc vì có làng bưởi, có sông nước hữu tình, khung cảnh làng quê yên ả. Thế nhưng trong bài viết này tôi không nói về làng bưởi Tân Triều (để dành cho bài khác, hi hi!) mà nói về một ngôi nhà thờ: Nhà thờ Tân Triều.


Nhà thờ Tân Triều


Nhà thờ Tân Triều là một ngôi nhà thờ nhỏ, khiêm tốn nằm gần vườn bưởi Năm Huệ (điểm du lịch sinh thái). Kiến trúc nhà thờ cũng không nổi bật, do đó dễ bị bạn đi ngang qua mà không chú ý, nhất là nếu bạn đang nôn nao bước vào vườn bưởi, và không là tín đồ công giáo. Tuy nhiên, nếu bạn biết vài điều lý thú về lịch sử ngôi nhà thờ này có lẽ bạn sẽ dừng chân để nhớ về quá khứ...


Thứ nhất, đây là một trong những ngôi nhà thở cổ nhất miền Nam. Nhà thờ Tân Triều có từ năm 1778, nghĩa là có trước Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn gần 100 năm! (nhà thờ Đức Bà Sài Gòn xây dựng xong năm 1865). Tuy vậy, ngôi nhà thờ ta thấy hiện nay là đã được xây lại, không còn kiến trúc cổ ngày xưa nữa.


Thứ hai, ở nhà thờ này có một thánh tích vô giá đối với người công giáo. Đó là tượng chúa Jesus trên thập giá trong nhà thờ này có gắn một mảnh thánh giá thật.


Thứ ba, trên tháp chuông nhà thờ có 2 quả chuông, được đúc ở châu Âu từ giữa thế kỷ 19, trong đó có 1 quả chuông được đúc từ năm 1867 đã được dùng tại nhà thờ Đức Bà Sài Gòn. Tháp chuông được xây dựng lại năm 1994.


Thế kỷ 18, Nguyễn Ánh cùng tùy tùng chạy tránh quân Tây Sơn đã lưu lạc đến đây. Ông đã tổ chức một triều đình tạm ở đây, và chính Nguyễn Ánh đã đặt tên vùng đất này là Tân Triều, nghĩa là triều đình mới.


Điều thú vị cuối cùng về nhà thờ Tân Triều lại có liên quan đến... nguồn gốc của bưởi Tân Triều. Người ta nói rằng năm 1869, một cha xứ ở nhà thờ Tân Triều đã mang hai cây bưởi gốc từ Brazil về trồng trong sân nhà thờ, hằng năm cho trái sum suê. Thấy vậy, người dân ở đây xin chiết nhánh bưởi về trồng. Và cứ thế nhân rộng ra cùng với một số giống bưởi khác... Không ngờ, hơn một thế kỷ sau, Tân Triều trở thành làng bưởi nổi tiếng.


Dự thánh lễ ở nhà thờ Tân Triều


Đó là những điều tôi biết về nhà thờ Tân Triều, xin được khơi gợi lại cùng các bạn. Nếu có ghé thăm làng bưởi Tân Triều, bạn hãy bỏ chút thời gian ngắm qua nơi đặc biệt này, cho dù cảnh quan không đặc sắc lắm, nhé bạn!


Phạm Hoài Nhân

Mộ cổ hợp chất Cầu Xéo

đăng 03:46 23-05-2013 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 03:49 23-05-2013 ]

"Di tích mộ cổ hợp chất Cầu Xéo (thị trấn Long Thành, tỉnh Đồng Nai) được nhận định ban đầu là của một nữ quý tộc ở thế kỷ XVIII, với rất nhiều giá trị lịch sử - văn hóa quý giá, nhất là có những chi tiết vô cùng độc đáo và cũng có thể nói là lần đầu tiên được thấy ở dạng mộ cổ hợp chất tại Việt Nam…", PGS.TS. Phạm Đức Mạnh (Trường Đại học KHXH&NV TP HCM), người chủ trì công trình khai quật, thích thú cho biết.


Chữ "Phu nhân chi mộ" và chữ "Hoàng" trên tấm bia.


Mộ cổ đã từng bị đào trộm…

Di tích mộ cổ hợp chất Cầu Xéo tọa lạc trong khuôn viên một nhà dân, thuộc địa phận tổ 24 thị trấn Long Thành, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Di tích này nằm trên khoảnh đất bằng phẳng rộng khoảng 40m2, với kiến trúc có tường thành bao quanh gần như nguyên vẹn và cửa mộ hướng bắc (chếch tây 40o), thuộc khu vực quy hoạch giải tỏa để xây dựng đường cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây.


Từ ngày 5 đến ngày 20/9 vừa qua là đợt 1 trong nhiều đợt của toàn bộ khối lượng công việc bao gồm khai quật, di dời, tôn tạo, thông báo báo cáo khoa học… di tích mộ cổ hợp chất này.

Khi nói về di tích này, PGS.TS. Phạm Đức Mạnh tỏ ra vô cùng hào hứng, ông cho biết ngôi mộ này có rất nhiều chi tiết kiến trúc, hoa văn… tuyệt đẹp, vì thế ngoài phần quan quách âm phần của ngôi mộ thì ông và người đồng chủ trình công trình khai quật - nhà nghiên cứu mộ cổ nổi tiếng Đỗ Đình Truật, đã kiến nghị với UBND tỉnh Đồng Nai phải bảo quản toàn bộ kiến trúc dương phần (khối lượng ước tính ban đầu nặng khoảng mấy chục tấn) di dời về Văn miếu Trấn Biên Đồng Nai để bảo tồn. Công việc này sẽ tiến hành ngay sau đợt 1 vừa qua, đồng thời là những công việc xét nghiệm và hoàn thiện báo cáo khoa học...

Theo khảo sát ban đầu của đoàn khai quật thì ngôi mộ này đã từng bị đào trộm vì nấm quách hợp chất bị đào băm gần chính giữa thân, nền cạnh hông bên trái ngôi mộ địa bị đào sâu một rãnh dài gần 3m, sâu cỡ 1,5-1,8m, tuy nhiên có lẽ do hợp chất của mộ quá cứng nên bọn đào trộm đã phải bỏ ngang. Trong khi đó, nằm cách mộ này khoảng 15m về hướng đông nam còn có một ngôi mộ hợp chất khác cũng đã bị đào phá toàn bộ kiến trúc bề mặt, vật liệu hợp chất vẫn còn nằm rải rác xung quanh.

PGS.TS. Phạm Đức Mạnh cho biết, trong quá trình khai quật, lực lượng Công an Đồng Nai đã phải ngày đêm bảo vệ nghiêm ngặt vì lo sợ có sự phá hoại công trình do một số người đồn đại rằng trong quan tài có nhiều vàng bạc đá quý, ngoài ra còn có một số người có ý định xin hoặc lấy trộm một số miếng gỗ quan tài để về cầu cơ, đánh đề…(!)

Mộ hợp chất này có kiến trúc khép kín tạo hình gần chữ nhật, nếu tính cả phần tường bao, mộ có chiều dài khoảng 8,5m, rộng cỡ 4,5-4,6m, từ nơi đặt huyệt ra cửa được phối trí ghép liền bởi hai phần là phần quách và phần sân tiền.

Trong đó, phần quách là bộ phận bảo vệ ngoài cùng của huyệt mộ được đúc liền khối vững chắc với cấu trúc mui luyện hình voi phục, có bờ bao quanh với hai rìa bờ vát dọc đều. Mặt sau là bờ tường bao phần hậu gồm một khán thờ gấp khúc kiểu bình phong có khuôn hình chữ nhật, xung quanh khuôn tạo vành giật 2 cấp; ở khuôn giữa có đục khắc một số chữ Hán còn khá rõ, theo nhận định ban đầu có thể đó là một bài thơ. Đối xứng hai bên bình phong là cặp khuôn câu đối... Ngoài cùng gắn hai bên bình phong hậu là cặp tượng phù điêu phối trí đối xứng thể hiện mô típ "Lưỡng long chầu nguyệt". Bệ đỡ bình phong hậu xây giả hộc thờ…


Ngôi mộ cổ bắt đầu được khai quật (Hình chụp lại từ tư liệu của PGS.TS. Phạm Đức Mạnh).


Còn phần sân tiền - tiền sảnh có bề mặt hợp chất khá phẳng, phối trí bình phong tiền và cặp trụ cửa đầu sen (hay biểu tượng gọi là "đuốc thiêng"). Bình phong tiền được đặt trên bàn đề đơn giản, hai đầu trên chặt vát góc, khung hình chữ nhật chính giữa trang trí dạng phù điêu tạo hình các mô típ như cặp nai (một đứng, một nằm) dưới gốc cây đa ở mặt hướng ra cửa trước và tứ linh (long - lân - quy - phụng) ở mặt sau hướng về ban thờ bia… Tất cả những chi tiết này cho thấy sự chuẩn bị, xây dựng vô cùng công phu, cầu kỳ cho ngôi mộ của chủ nhân.

Khi được khai quật, có thể thấy rằng, ngôi mộ được chôn theo dạng "trong quan - ngoài quách", quách được làm bằng gỗ sao ghép tấm liền khít bờ bao kim tĩnh hợp chất, với nắp phẳng, ghép bằng đinh sắt hình chữ U cỡ lớn và cỡ trung bình. Áo quan nằm lọt chính giữa quách gỗ, với tấm thiên làm bằng nửa thân cây và khoét rỗng rất nặng, được chế tác kỳ công, toàn bộ vòm cong tấm thiên phủ tấm minh tinh bằng vải mỏng đã bị mủn, mờ gần hết chữ và trang trí dày đặc (hình họa nhận rõ nhất là dây leo và các hàng hoa cúc, hoa 5-6 cánh viền dọc, các hình vòng cung đối xứng rất đều nhau…), đây là đặc trưng của dạng mộ quý tộc ở miền Nam.

Áo quan ghép mộng ở hai đầu rất chắc chắn, tạo gờ viền đều đặn với bốn mấu nhô có trổ thủng đối xứng nhau để chốt gỗ vào tấm thiên. Bốn góc bên ngoài của quan tài có bốn vòng đinh sắt khoen tròn dùng lúc hạ quan vào quách gỗ. Nước màu đen quánh nồng mùi ngập quan và quách gỗ khoảng 25-30cm (rất giống màu nước ngập trong quách cụ bà ở mộ cổ Xóm Cải, quận 5, TP HCM đã khai quật trước đây).

Theo nhận định ban đầu của PGS.TS. Phạm Đức Mạnh, chủ nhân của ngôi mộ cổ này là một nữ quý tộc, tuổi đời dưới 60, cao hơn 1,55m, được chôn ở tư thế nằm ngửa, hai tay bó dọc thân, tóc dài và nhuộm răng đen…

Ngôi mộ cổ có vô số điều độc đáo, hiếm thấy

Dù đã chủ trì và tham gia rất nhiều công trình nghiên cứu, khai quật mộ cổ ở Nam Bộ nói chung và Đồng Nai nói riêng, tuy nhiên với ngôi mộ cổ này, PGS.TS. Phạm Đức Mạnh cho biết ông thực sự ngạc nhiên và hứng khởi vì được thấy quá nhiều điều độc đáo và cả những chi tiết mới lần đầu tiên được thấy tại Việt Nam.

Đầu tiên có thể kể là tấm bia mộ (bia bằng đá sa thạch tím hạt mịn - loại đá này không có ở Đồng Nai, nhiều khả năng được mang từ miền Trung vào). Trên bia có thể đọc được dòng chữ "Phu nhân chi mộ", dù chữ "Phu" không được rõ chi tiết lắm.

Điều độc đáo là sau khi cắt phần bia mộ bên trên để di dời thì lúc khai quật xuống, phần bia mộ vẫn còn kéo dài xuống phía dưới ngay cửa mộ và phần này có khắc chữ "Hoàng". PGS.TS. Phạm Đức Mạnh cho biết, đây là lần đầu tiên ông thấy chi tiết này ở bia mộ hợp chất tại Việt Nam và chữ "Hoàng" có nhiều nghĩa: hoàng tổ, hoàng tộc, hoàng đế… nhưng ở đây có thể được hiểu là "cửa mộ" - nơi đưa quan tài vào.

Một đặc điểm độc đáo nữa khiến nhiều người ngạc nhiên, dù đây là mộ bà nhưng nó lại có hình voi phục dành cho mộ ông. Bình thường nếu là mộ bà thì nó khá nhỏ, hay được gọi là mộ mu rùa, nhưng ngôi mộ này lại rất lớn, khối lượng lên tới hơn mười mấy tấn giống như của mộ ông. Đặc điểm này có thể đưa đến nhận định đây là mộ của một nữ phu nhân, quý tộc có phẩm cách cao quý, vương giả.

Theo PGS.TS. Phạm Đức Mạnh thì đây là ngôi mộ có hợp chất tốt nhất mà ông đã từng khai quật từ trước tới nay, nhất là quách bằng hợp chất cực kỳ cứng, mỗi bên dày tới nửa mét.


Quan tài khi đã được mở ra.


Điều rất đáng chú ý ở ngôi mộ này chưa từng thấy trước đây là người xưa đã bố trí tới hai ban thờ (thờ Thổ địa nơi mộ tọa lạc) ngay trên bờ bao đối xứng nhau ngang với ban thờ bia. Mỗi ban gồm đế đỡ chân quỳ, khán thờ và cặp tượng phù điêu nghê khá tinh xảo đối xứng hai bên ban thờ.

Mộ hợp chất thường có quách hợp chất rồi đổ đầy cát tuyển, nhưng riêng ở ngôi mộ này thì ngoài quách hợp chất còn có một quách bằng gỗ sam cứng, lớn, áo quan để trong không hề có chút cát nào. Điều đặc biệt nữa là khắp áo quan đều được phủ minh tinh dày (đây là tấm vải, trong đó thường ghi họ tên, chức danh… của chủ nhân ngôi mộ) còn khá rõ các hoa văn… Các khóa, chêm, hay các mộng liên kết với nhau của quan tài đều có hình con cá, đây là một dạng kỹ thuật mộc thông dụng của thế kỷ XVIII.

Theo PGS.TS. Phạm Đức Mạnh, phần đặc biệt nhất mà lần đầu tiên ông được thấy là toàn bộ phần bên trên của thi hài cụ bà đều được phủ bằng lá sen (một nét văn hóa Phật giáo rất rõ ràng), sau đó là phần y phục chủ nhân đã bị mủn nát kết dính nhau thành khối, có thể nhận rõ nhiều lớp lụa, đoạn, gấm in hoa cầu kỳ, tinh xảo, các tệp giấy bản dài và hẹp dọc hai bên thân và các đồ bổ khuyết để đầy quan tài. Toàn thân cụ được để nằm trên một chiếu cói, bên dưới chiếu là một lớp tro dày độ 2 tấc để thấm hút. Đặc biệt dưới phần đầu của cụ là một lớp thủy ngân óng ánh, đây là điều khá huyền bí cần phải được nghiên cứu thêm, ngay cả giá trị y khoa cũng cần được tìm hiểu rõ.


Xương cốt còn nguyên vẹn.


Bên cạnh đó, phần ngực cũng có dấu tích của lúa nguyên hạt, bên tai trái của cụ có đặt một cái ngoáy trầu, trong ống ngoáy trầu còn thấy một xác cau (bước đầu xác định đầu cầm của ngoáy trầu và ống ngoáy có thể bằng bạc, tạo hình giống như cái nậm rượu, que ngoáy bằng đồng thau), dưới đó một chút là dây buộc, hột có thể bằng hổ phách, một túi gấm hình tam giác bên trong đựng mấy chiếc răng rụng, và một số phẩm phục màu đỏ có hàng nút bằng vàng tây.


Xương cốt của cụ còn nguyên vẹn và chất lượng sọ và xương rất tốt, cụ được đặt nằm ngửa, hai tay xuôi để dọc sát thân người, đặc biệt hai chân được đặt trên một chiếc gối bọc da màu đen hình vuông - đây cũng là chi tiết mà PGS.TS. Phạm Đức Mạnh thấy lần đầu tiên ở Việt Nam. Hai chân còn được mang hài quý tộc mũi thon cong giống cánh hoa thêu chỉ vàng tinh xảo. Đặc biệt phần dưới chân được đổ khoảng mấy ký hạt tròn đen lạ (?)…


Như vậy, có thể thấy di tích mộ hợp chất cổ Cầu Xéo có khá nhiều chi tiết trang trí, phối trí và kiến trúc độc đáo riêng, lạ, lần đầu tiên được khám phá tại Việt Nam. Vì thế, theo PGS.TS. Phạm Đức Mạnh, di tích mộ này cần được phục hồi nguyên trạng để phục vụ giới nghiên cứu lịch sử - văn hóa vật thể - phi vật thể nói riêng và phục vụ cho công tác đào tạo, giáo dưỡng các thế hệ trẻ "tri ân tiên tổ", phục vụ nhân dân nói chung.


PGS.TS. Phạm Đức Mạnh cho biết, hiện đang tiến hành giám định các mẫu thực vật tại Phòng thí nghiệm thực vật, Khoa Sinh vật Trường Đại học Tự nhiên - ĐHQG TP.HCM, giám định C14 mẫu gỗ quách tại Trung tâm kỹ thuật hạt nhân TP.HCM, mẫu hợp chất tại Trung tâm kỹ thuật đo lường chất lượng và Trung tâm dịch vụ phân tích thí nghiệm TP.HCM, và đang tiếp tục đợt khai quận 2 di dời toàn bộ kiến trúc dương phần độc đáo của di tích mộ hợp chất Cầu Xéo về để phục hồi nguyên trạng tại Văn miếu Trấn Biên (TP Biên Hòa - Đồng Nai).


Phạm Phú Lữ - CSTC tuần số 78

Đọc thêm:

Nước mắt và nụ cười chung quanh bài thơ "Anh thương binh đầu tiên" của Huỳnh Văn Nghệ

đăng 23:46 27-12-2012 bởi Nhân Phạm Hoài   [ đã cập nhật 00:03 28-12-2012 ]

Một trong những người thương binh đầu tiên của tỉnh Biên Hoà là anh Bùi Xuân Tảo, một thanh niên làm công nhân cao su là dân contrat, ký hợp đồng với bọn mộ phu vào Nam Kỳ tham gia bộ đội và bị thương trong trận tấn công thị xã Biên Hoà vào Tết Dương lịch 1/1/1946. Anh được đưa về quân y viện ở Ðất Cuốc trong chiến khu Ð giải phẫu cánh tay bị thương.

Chiến khu Đ

Giám đốc quân y viện Chi đội 10 của tỉnh Biên Hoà là sinh viên y khoa năm chót, Võ Cương nhảy theo kháng chiến. Tuy là sinh viên mới ra trường, Võ Cương nổi tiếng là nhà giải phẫu "mát tay". Chuyên viên gây mê của quân y viện là chị An (sau là vợ giám đốc binh công xưởng Bùi Cát Vũ) được đào tạo ở Sài Gòn. Bấy giờ chiến khu có một ít thuốc tê và mê do bác sĩ Hồ Văn Huê đưa vô khu từ bệnh xá Sở cao su Lộc Ninh.

Do tiết kiệm thuốc mê nên y sĩ Võ Cương bảo anh Tảo:
  • Thuốc mê ít, anh nên hát một bài nào đó để hỗ trợ tinh thần khi tôi bắt đầu giải phẫu.
Anh Tảo chỉ biết có bài Tiến quân ca nên hát Quốc ca. Khi chị An rắc thuốc mê được vài giây thì anh Tảo lịm đi, tiếng hát chìm xuống như máy hát hết dây cót. Anh em y tá cùng ca tiếp với anh. Ðúng vào lúc đó, anh Tám Nghệ cỡi ngựa đi ngang quân y viện. Nghe hát Quốc ca, anh xuống ngựa đứng nghiêm. Nhưng bài Quốc ca cứ hát đi rồi hát lại. Tò mò, anh bước vào thì chứng kiến ca mổ. Anh đứng nhìn khá lâu, xúc động lắm. Sáng hôm sau trong chiến khu có bài thơ mới "ra lò", bài thơ lấy tên Tiếng hát giữa rừng:

Ngựa hồng dừng chân
Bên quân y viện
Giật mình nghe tiếng
Quốc ca vang

Phải chăng giờ chào cờ buổi sáng
Hay hội nghị cơ quan
Sao chỉ một người cất giọng
Hát đi rồi hát lại nhiều lần

Xuống ngựa buộc cương
Hỏi ra mới biết
Bác sĩ đang cưa chân
Một chiến sĩ bị thương
Bằng cưa thợ mộc

Bác sĩ vừa cưa vừa khóc
Chị cứu thương mắt cũng đỏ hoe
Nhìn ảnh Bác Hồ trên tấm vách tre
Anh chiến sĩ cứ mê mải hát

Cưa cứ cưa, xương cứ đứt
Máu cứ rơi từng vết đỏ bông
Hai bàn tay xiết chặt đôi hông
Dồn hết phổi vào trong tiếng hát
"Ðoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc"
Ðã hát đi hát lại bao lần
Vẫn chưa đứt xương chân
Vẫn chưa ngừng máu đỏ

Vừa xong băng bó
Anh lịm đi
Hồi hộp cả núi rừng
Tiếng hát mới chịu ngưng
ẢNH BÁC HỒ NHƯ RƯNG RƯNG NƯỚC MẮT

Trở lên yên ngựa đi từng bước
Cúi đầu nén nỗi đau thương
Nhưng lửa căm hờn
Bỗng dựng cao đầu ngựa dậy
Vang trời ngựa hí
Chí phục thù cháy bỏng tay cương

50 năm sau cuộc giải phẫu anh Bùi Xuân Tảo, năm 1996, tôi tới thăm bác sĩ Võ Cương, nay lấy tên là Mười Năng, đã về hưu sau khi giữ chức Phó Hiệu trưởng trường Ðại học Y Dược TPHCM. Hai anh em bàn chuyện thơ văn Huỳnh Văn Nghệ. Anh Võ Cương cười vang nhà khi tôi nhắc bài thơ Tiếng hát giữa rừng

  • Nhà văn hãy nghe nhà y bắt giò nhà thơ trong bài Tiếng hát giữa rừng nghe. Bài thơ có nhiều điểm sai "đập vào mắt" mà sao tác giả và các thi hữu không trông thấy. Thứ nhất, anh Tảo bị thương ở cánh tay. Chính tôi cắt cánh tay đó. Nhà thơ đã đổi cánh tay thành cái chân. Có lẽ cái chân thuận tiện hơn cánh tay trong việc gieo vần. Thôi cũng được. Mình thông qua đi. Thứ hai, do tác động của thuốc mê, anh Tảo chỉ hát Quốc ca có câu đầu "Ðoàn quân Việt Nam đi..." rồi anh hết hơi, câu thứ hai hạ thấp để rồi tắt hẳn "chung lòng cứu quốc". Những câu sau là do anh em y tá hát tiếp chớ anh Tảo thì đã mê man rồi. Nhà thơ cứ cho anh Tảo hát đi rồi hát lại là sai luật tự nhiên. Nhưng cũng có thể cho qua vì nhà thơ không phải là y bác sĩ. Thứ ba, bác sĩ vừa cưa vừa khóc. Ðây là điểm sai căn bản. Cái nghề cưa tay cưa chân, cặp mắt phải thật tinh, bàn tay cũng phải thật chính xác. Vừa cưa, vừa khóc thì làm sao chỉ huy bàn tay giải phẫu chính xác được? Thứ tư, giải phẫu dứt khoát phải tiến hành nhanh. Làm gì có chuyện "hát đi hát lại bao lần, vẫn chưa đứt xương chân". Như vậy, anh Tám "chê" thằng cha Võ Cương này kém nghiệp vụ chuyên môn.
Võ Cương uống một ngụm UTQ (uống trà quạu), cười nói:
  • Nhà văn nghĩ sao về những điểm tôi vừa nêu?
Tôi gật gù:
  •   Với tư cách là nhà giải phẫu, những nhận xét của anh đều đúng trăm phần trăm. Nhưng với tư cách nhà thơ, anh Tám cũng có những suy nghĩ riêng của mình. Hãy đọc kỹ câu chót của bài thơ:
"Nhưng lửa căm hờn bỗng dựng cao đầu ngựa dậy
Vang trời ngựa hí, chí phục thù cháy bỏng tay cương"

Muốn gây căm thù phải "dramatiser" (bi thảm hoá) tình huống, phải không anh?

Võ Cương gật đầu:
  • Ðồng ý là "dramatiser" nhưng nên tránh những "hư cấu phi lý" như bác sĩ vừa cưa vừa khóc. Ðồng ý chớ? Rất tiếc là anh Tám đã đi xa để nghe mình bắt giò anh ấy hôm nay.

Chiến khu Đ và nghĩa trang không có những nấm mồ

đăng 03:25 27-12-2012 bởi Nhân Phạm Hoài

Nói là nghĩa trang Mã Đà (huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai) nhưng nơi đây không có ngôi mộ nào. Bởi đến nay, người ta vẫn chưa tìm thấy xác các chiến sĩ cách mạng của ta đã hi sinh.

Ông Nguyễn Văn Nhân, Trạm trưởng khu di tích Trung Ương Cục miền Nam cho biết: “Nghĩa trang không bia mộ rộng khoảng hơn 70 hecta. Sở dĩ gọi là nghĩa trang không bia mộ vì nơi đây chôn cất rất nhiều liệt sĩ nhưng chưa tìm được hài cốt. Tuy nhiên, đến thời điểm này, diện tích thực tế của nghĩa trang Mã Đà tới đâu không ai biết được”. Theo ông Nhân, trong khu vực nghĩa trang có hàng trăm thậm chí hàng ngàn liệt sĩ đã hi sinh.

Khu đền thờ liệt sĩ

Chiến khu Đ là di tích nằm giữa đại ngàn. Bốn phía giáp sông tạo nên ưu thế về mặt quân sự và phản ánh được tầm nhìn chiến lược trong việc chọn địa bàn đứng chân của Trung ương Cục miền Nam Việt Nam gia đoạn 1961-1962.

Bí ẩn về nghĩa trang ở chiến Khu Đ

Đã có một số nhà ngoại cảm về nghĩa trang Mã Đà để tìm hài cốt liệt sĩ. Nhưng hiện tại chỉ có chục ngôi mộ được bốc lên và đưa về quê hương an táng. Trong quá trình tuần tra, bảo vệ rừng, lực lượng kiểm lâm mới tìm thấy một số ngôi mộ của các chiến sĩ. Tuy nhiên, những ngôi mộ này đa phần là không thể xác định được danh tính.

Được biết, vào thời chiến, khu nghĩa trang là một trạm quân y. Các chiến sĩ bị thương ở các chiến trường được chuyển về đây chữa trị. Trong thời kỳ chiến tranh loạn lạc, các trạm quân y luôn bị dặt trong tình trạng thiếu thốn thuốc men. Cái thời tiết khắc nghiệt của núi rừng, nhiều anh em chiến sĩ bị những con sốt rét hoành hành.

Ông Nguyễn Văn Nhân cho biết, có thể trong một đêm có hàng trăm chiến sĩ đã hi sinh. Ngoài ra nhiều chiến sĩ bị lọt vào ổ phục kích của địch, bị rắn cắn hay thú dữ tấn công cũng hi sinh. Tất cả đều nằm lại ở nghĩa trang không nấm mồ này.

Theo những người còn sống sót từ chiến trường xưa trở về kể lại, những trận đánh giữa ta và địch, rất nhiều chiến sĩ đã nằm xuống. Họ đã đã đưa đồng đội về đây an táng chờ ngày đất nước toàn thắng. Lúc ấy, đồng đội sẽ đưa liệt sĩ trở về với gia đình. Nhưng hết trận đánh này đến trận đánh khác, nơi các anh nằm cứ thế bị bom đan của kẻ thù dội xuống. Nó đã xóa nhòa dấu vết, bia mộ. Có lẽ cũng từ đó, cái tên “nghĩa trang không mộ” cũng được hình thành.

Sau khi khu di tích được phục hồi nguyên trạng vào năm 2004, đã có rất nhiều người đã từng chiến đấu nơi chiến địa này xuất phát từ trách nhiệm và lòng tri ân đã quay lại tìm đồng đội. Trong số đó có ông Nguyễn Văn Tân, trước kia là Giám đốc Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Đồng Nai. Đã từ lâu, ông thường xuyên cùng đồng đội cũ lên khu nghĩa trang tìm hài cốt chiến hữu ngày nào.

Được biết, thông qua nhiều kênh tìm kiếm, cho đến nay khoảng 60 hài cốt liệt sĩ đã được tìm thấy và qui tập vào các nghĩa trang liệt sĩ ở tỉnh Đồng Nai. Thế nhưng trong ngôi đền thờ trước cổng nghĩa trang Mã Đà chỉ có tên của sáu liệt sĩ và bốn tấm bia được ghi trong ngôi đền tưởng niệm các chiến sĩ đã hy sinh. Bên cạch đó cũng có những hài cốt mãi mãi không thể qui tập được do nước cuốn trôi xuống những dòng suối quanh vùng.

Kỳ lạ loại cây trung quân

Trong cái nắng oi bức của những ngày tháng 7, PV lặn lội 120 km từ TP. HCM về chiến khu Đ, nơi từng được mệnh danh là “ Việt Bắc miền Nam” từ 1961-1962. Dưới sự hướng dẫn nhiệt thành của ông Nhân, men theo con đường đất đỏ quanh co dẫn vào rừng, chúng tôi đã đến được với những cây đa hơn 150 tuổi và khu đất mọc toàn cây trung quân.

Trước mắt PV là những cây đa sừng sững, thân cây bị dây leo bám chằng chịt. Theo quan sát của chúng tôi, gốc cây có đường kính lớn đến chục người ôm không xuể. Những cây đa ở đây chứng kiến việc chôn cất rất nhiều phần mộ của các chiến sĩ đã hi sinh trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ.

Khi chúng tôi thắc mắc về những cây đa này thì được ông Nhân lí giải: “Trước đây, trong thời chiến, rất nhiều chiến sĩ đã hi sinh ở mảnh đất này. Những ngày tháng chống chọi với đạn bom khốc liệt, các chiến sĩ nằm xuống mà không được chôn cất tử tế, chẳng bia mộ, chẳng lấy một nén nhang. Để tránh thất lạc về sau, những người còn sống khi ấy đã chôn đồng đội mình bên những gốc cây đa. Vì họ nghĩ, từ xưa đến giờ chẳng ai khai thác gỗ đa để làm nhà. Chính vì vậy, cái dấu này sẽ còn mãi mãi”.

Ông Nhân cho biết thêm, nếu sau này ai còn sống sót trở về thì cứ thế mà căn cứ vào gốc đa ngày trước để tìm lại phần mộ của đồng đội mình. Hiện tại, vẫn có rất nhiều hài cốt của những liệt sĩ xung quanh những gốc đa này. Tuy nhiên, chưa ai tìm đến cả.

Hướng mắt về phía những cây đa khổng lồ, ông Nhân kể lại cho chúng tôi nghe về câu chuyện tưởng chừng chỉ có trong huyền về liệt sĩ Nguyễn Sỹ Việt. Liệt sĩ này đã hi sinh tại căn cứ địa cách mạng.

Vào năm 2010, theo lời của người thân liệt sĩ Việt, trong một đêm đang ngon giấc thì liệt sĩ Việt về báo mộng với mẹ rằng, thân xác đang nằm ở vùng căn cứ địa cách mạng. Ở nơi đó có đền thờ bên cây đa. Năm nay mà không đưa lên được thì mãi mãi sẽ không tìm thấy nữa.

Trước lời báo mộng đó, gia đình liệt sĩ Việt ở Nghệ An đã tức tốc vào chiến khu Đ tìm gặp lực lượng kiểm lâm nhờ dẫn xuống địa điểm có cây đa và đền thờ. Nhờ quá trình tìm kiếm và sự hỗ trợ của những đồng đội còn sống, họ đã tìm thấy hài cốt liệt sĩ Việt. Cũng nhờ vào dấu tích của những cây đa mà rất nhiều liệt sĩ vô danh được người thân tìm thấy.

Dưới những tán lá rậm rạp của cây đa cổ thụ là những cây thân gỗ nhỏ. Những chiếc lá dài xanh mướt mọc thẳng đứng như vươn lên đón lấy ánh nắng mặt trời. Đó là một loại cây có cái tên cũng rất “cách mạng”: Cây trung quân.

Cây trung quân

Ông Nhân kể lại về truyền thuyết cái tên cây kỳ lạ này: Ngày xưa có một ông Vua bị các quan tham và nịnh thần hãm hại. Một ngày, lợi dụng Vua vào rừng đi săn, bọn quan tham đó đã châm lửa để thiêu chết ông hòng chiếm ngôi. Trong quá trình chạy lửa vô tình vị vua đã lọt vào cánh rừng toàn cây lạ. Tưởng chừng lửa sẽ cháy cả khu rừng, nhưng bỗng nhiên lại dừng lại ở những cây thân nhỏ này.

Sau này Vua mới biết, đặc điểm của lá trung quân là rất khó cháy. Cũng nhờ đó mà vua đã thoát chết trở về cung điện trị tội bọn phản thần, vô lại và đặt tên cho loài cây đó là cây trung thần. Rồi theo câu chuyện truyền thuyết ấy, người ta cứ truyền miệng rồi gọi là lá trung quân cho tới tận ngày nay. Sau này, lá trung quân lại trở thành vật che mưa che nắng cho các vị lãnh đạo cách mạng của ta trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt. Lá trung quân được bộ đội ta kết thành tấm để lợp nhà, lợp lán.

Mái nhà lợp bằng lá trung quân

Đến tận bây giờ, những ngôi nhà lợp bằng lá trung quân ở vùng căn cứ địa cách mạng vẫn hiên ngang tồn tại theo năm tháng. Nó như một chứng nhân lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam.

Trung Nguyên - Quyên Triệu
Người đưa tin -  5/8/2012

Chuyện tình nơi đình Tân Lân

đăng 03:55 01-10-2012 bởi Nhân Phạm Hoài   [ đã cập nhật 07:53 08-10-2012 ]



Trong ảnh là đình Tân Lân, một di tích lịch sử nổi tiếng ở thành phố Biên Hòa. 

Tân Lân là xóm mới. Hơn ba trăm năm trước, tướng quân Trần Thượng Xuyên và những lưu dân người Hoa đến vùng đất Biên Hòa. Những con người ấy đã chấp nhận Biên Hòa là xóm làng mới, là quê hương mới, nên đặt cho thôn làng nơi họ đến là thôn Tân Lân. Thời Minh Mạng (thế kỷ 19), nhân dân xây đình Tân Lân để tỏ lòng ngưỡng vọng Trấn Biên đô đốc Trần Thượng Xuyên, người có công khai phá đất Biên Hòa - Đồng Nai. Ngôi đình hiện nay nhìn ra sông Đồng Nai, phong cảnh hữu tình...

Nhưng hãy tạm gác chuyện lịch sử ấy qua một bên nhé bạn. Điều tôi sắp kể cho các bạn nghe là một thiên diễm tình ẩn sau ngôi đình cổ kính, uy nghi ấy.

Đoạn đầu câu chuyện phảng phất chuyện Giọt máu chung tình (Võ Đông Sơ - Bạch Thu Hà), đoạn cuối man mác buồn hơn cả Màu tím hoa sim.

Trước năm 1945, người giữ đình Tân Lân là một ông từ, tuổi ngoài 50. Sống cùng ông tại ngôi đình là cô con gái xinh đẹp, tên Minh Liên. Biết bao nhiêu chàng trai si mê người đẹp đình Tân Lân, nhưng trái tim nàng đã trao cho một người. Đó là anh Sáu, một kép hát cải lương.

Cách mạng Tháng Tám nổ ra, anh Sáu đi kháng chiến. Nơi quê nhà, một tên Việt gian là Phước Tây lai cưỡng ép Minh Liên về làm vợ. 

Như nàng Kiều, Minh Liên nhảy xuống sông Đồng Nai tự vẫn. Và cũng như nàng Kiều, nàng được người dân cứu sống và đi tu ở chùa Hốc Ông Che (ở Hóa An, Biên Hòa ngày nay), nàng trở thành ni cô Hà Vân.

Số phận chưa buông tha cho nàng Minh Liên. Một tên Việt gian khác trong lúc "truy lùng Việt Minh" đến chùa này thì say mê sắc đẹp của ni cô Hà Vân, và bắt cóc nàng về làm vợ.

Một lần nữa, Minh Liên - ni cô Hà Vân được giúp đỡ để trốn đi. Năm 1950, Minh Liên vào chiến khu Đ, làm nữ cứu thương. Cô đổi tên khác thành Sáu Minh.

Năm 1953, chị Sáu Minh bắt được liên lạc với anh Sáu, người yêu cũ. Lúc này anh đang công tác ở miền Tây. Cả cơ quan chờ anh từ miền Tây về để làm đám cưới cho 2 người.

Khi anh Sáu về gần tới quân y viện chiến khu Đ, lòng nôn nao giây phút trùng phùng thì bi kịch xảy ra. Một trân bom giặc đánh vào chiến khu Đ, đánh trúng nơi chi Sáu đang ở, chị ra đi khi chưa kịp gặp người yêu...



Ngày nay, đình Tân Lân vẫn còn đó, tướng quân Trần Thượng Xuyên vẫn còn được người đời ngưỡng vọng, nhưng câu chuyện thương tâm của cô gái Minh Liên - Hà Vân năm nào đang khuất mờ dần theo lớp bụi thời gian....

Phạm Hoài Nhân
Kể lại theo tư liệu của nhà văn Lý văn Sâm

Biên Hòa bắt đền Quy Nhơn

đăng 02:12 16-02-2012 bởi Nhân Phạm Hoài

Hồi năm 1698, chúa Nguyễn sai Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam để lập ra 2 dinh Trấn Biên (tức Biên Hòa) và Phiên Trấn (tức Gia Định). Hai nơi này được thành lập cùng một lượt nên khi Sài Gòn kỷ niệm 300 năm thành lập (năm 1998) thì Biên Hòa cũng kỷ niệm 300 năm luôn.

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh ở Cù lao Phố

Tuy lập cùng một lúc nhưng khi ấy Trấn Biên (Biên Hòa) mới là xịn, còn Phiên Trấn (Sài Gòn - Gia Định) thì... chỉ là đồ xơ-cua thôi!

Ngay khi thành lập (1698), Biên Hòa đã có cù lao Phố lừng lẫy rồi, cù lao Phố được sách Tàu gọi là Nông Nại Đại Phố (Tàu họ đọc Đồng Nai thành Nông Nại!), sách Việt gọi là Giản Phố, Đông Phố... Tóm lại là thành phố lớn. Còn lúc đó Phiên Trấn đâu có cái gì đâu!

Còn nhớ hồi năm 1679, Trần Thượng Xuyên từ bên Tàu chạy qua Việt Nam, chúa Nguyễn đã cho người đưa đến vùng Biên Hòa. Ông cùng tùy tùng 3.000 người đã lập nghiệp ở cù lao Phố, xây dựng nên phố phường sầm uất, kinh doanh nhộn nhịp. (Nhóm còn lại do Dương Ngạn Địch dẫn đầu, về miền Tây, lập nên Mỹ Tho Đại Phố, còn ở Gia Định hổng có cái đại phố nào hết á!). Cù lao Phố nằm cách biển nhưng là nơi sông sâu, nước chảy, có thể ngược lên phía Bắc khai thác nguồn hàng lâm thổ sản, và phía Nam có thể ra biển Cần Giờ hay sang tận Cao Miên. Cùng với nhóm lưu dân người Việt đến trước, Trần Thượng Xuyên và lực lượng của mình tiến hành khai khẩn quy mô lớn. Với biệt tài tổ chức, chẳng bao lâu ông đã biến vùng đất hoang sơ trở thành thương cảng, trung tâm thương mại và giao dịch quốc tế của cả vùng Đàng Trong! Vậy đó, 17 năm sau, khi Nguyễn Hữu Cảnh đến, đất Biên Hòa đã có Đại Phố!

Đại Nam nhất thống chí viết: Trần Thượng Xuyên chiêu nạp được người buôn nước Tàu, xây dựng đường phố, lầu quá đôi từng rực rỡ trên bờ sông, liền lạc năm dặm và phân hoạch ra ba nhai lộ: nhai lớn giữa phố lót đá trắng, nhai ngang lót đá ong, nhai nhỏ lót đá xanh, đường rộng bằng phẳng, người buôn tụ tập đông đúc, tàu biển, ghe sông đến đậu chen lấn nhau, còn những nhà buôn to ở đây thì nhiều hơn hết, lập thành một đại đô hội..

Quả thật xứng đáng là thủ phủ của xứ Đàng Trong - Nam bộ. 

Nếu sự đời cứ êm trôi thì giờ đây Biên Hòa chớ không phải Sài Gòn mới là thủ phủ của miền Nam. Than ôi, Nông Nại Đại Phố chỉ làm đại ca của miền Nam được non một thế kỷ (97 năm). Cù lao Phố kết thúc thời kỳ huy hoàng của mình năm 1776. Vì đâu nên nổi?

Ấy là tại... Quy Nhơn!

Như đã nói, người Hoa ở Cù lao Phố làm ăn rất giỏi, tạo nên trung tâm kinh tế lớn nhất phía Nam, và họ ủng hộ Nguyễn Ánh! Cù lao Phố tạo nên nguồn lực tài chính chủ yếu để hỗ trợ chúa Nguyễn chống lại nhà Tây Sơn.

Vì vậy năm 1776 và 1777, Nguyễn Nhạc kéo đại quân Tây Sơn tràn đến Cù lao Phố tàn sát người Hoa (để trị tội dám ủng hộ chúa Nguyễn) đồng thời phá tan nát Đại Phố này để tiêu diệt đầu não kinh tế của chúa Nguyễn. Sách Gia Định thành thông chí viết: "(Quân Tây Sơn) chiếm dỡ lấy phòng ốc, gạch đá, tài vật chở về Quy Nhơn".

Người chết, phố phường tan hoang, người Hoa lóp ngóp chạy theo chúa Nguyễn về Gia Định. Từ 1776 cho đến sau này, trong suốt thời gian Gia Long tẩu quốc và phục quốc, họ không dám léo hánh về cù lao Phố nữa, Cù Lao Phố dần điêu tàn còn Sài Gòn Gia Định dần dần trở nên lớn mạnh cho đến tận ngày nay để trở thành Thành phố Hồ Chí Minh.

Cù lao Phố bây giờ như thế này nè (ảnh chụp năm 2010):


Hu hu, còn đâu Nông Nại Đại Phố ngày xưa? Bắt đền ai bây giờ đây? Bắt đền Nguyễn Nhạc từ Quy Nhơn vô Nam tàn phá đại phố? Hay bắt đền Nguyễn Ánh chả giữ nổi đất cù lao?

Chẳng biết bắt đền ai, thôi đành bắt đền... Lịch Sử vậy!

Phạm Hoài Nhân

Tại sao dân Biên Hòa kỵ màu đỏ?

đăng 03:33 25-05-2011 bởi Nhân Phạm Hoài   [ đã cập nhật 01:47 13-06-2011 ]

Bây giờ thì điều kiêng kỵ này đã giảm bớt rồi, đi ra đường ở Biên Hòa bạn vẫn thấy những chiếc xe máy màu đỏ chạy tung tăng.Thế nhưng cách đây chưa lâu lắm dân Biên Hòa tuyệt đối không mua xe màu đỏ.

Người ta nói rằng sắm xe màu đỏ thì chắc chắn 100% chủ xe sẽ bị tai nạn bể đầu vỡ óc, chết bất đắc kỳ tử, có nhẹ hơn thì cũng bị gãy tay, gãy chân, gãy xương sườn. Nếu như phước đức ông bà để lại thì nhẹ nhất là... bị mất xe!

Nghe nói rằng những năm 90 thế kỷ trước, khi xe máy bắt đầu thịnh hành lại tại Việt Nam, các hãng xe mang xe tới chào bán tại Biên Hòa đều đau đầu không giải thích được tại sao xe màu nào cũng bán được, chỉ riêng xe màu đỏ là đố bán được chiếc nào tại Biên Hòa!

Dân Biên Hòa còn kỵ mặc quần áo màu đỏ. Người lớn nói rằng mặc đồ đỏ sẽ bị ốm đau bệnh tật, bị tai nạn bất ngờ (có thể dẫn đến tử vong). Người trẻ hơn thì dẫn chứng hùng hồn rằng cứ xem đội bóng Đồng Nai đá banh, trận nào mặc áo đỏ thì chưa đá đã cầm chắc thua rồi, chẳng những thua mà còn thua đậm, thua te tua, thẻ vàng thẻ đỏ tùm lum (lại đỏ!)

Hồi tôi mới đến Biên Hòa, ngạc nhiên lắm về điều này, bởi vì có ai nói màu đỏ là xui bao giờ? Thậm chí đỏ còn là hên nữa kia, ta vẫn nói số đỏ là số hên, vận đỏ là vận may đó sao. Ngày Tết nữa, là ngày màu đỏ tràn đầy (à, ngày Tết có câu đối đỏ, pháo đỏ, dưa hấu đỏ, bao lì xì đỏ... thì không bị cấm).

Hỏi hoài mà chả ai giải thích được tại sao, cuối cùng TS Huỳnh văn Tới giải thích cho tôi như sau:

Chuyện này cũng có liên quan đến ông Trần Thượng Xuyên, đức ông người Hoa đã tham gia mở cõi ở Biên Hòa. Khi quan tổng binh Trần Thượng Xuyên mang theo 3.000 gia tướng sang Việt Nam thần phục chúa Nguyễn, ông được đưa đến mở mang vùng đất Biên Hòa. Nhờ tài năng của ông, vùng đất Cù lao Phố của Biên Hòa trở nên một thương cảng sầm uất.

Với tài năng của mình, Trần Thượng Xuyên được không những lưu dân người Hoa mà cả người Việt kính trọng. Màu đỏ là màu cao sang, quý trọng được dành riêng cho Đức ông Trần Thượng Xuyên. Ông vận phẩm phục màu đỏ, đi xe màu đỏ để tôn sự oai nghiêm và độc nhất của mình. Những người khác, từ binh lính đến dân thường đều không được sử dụng màu đỏ cho trang phục và phương tiện đi lại của mình. Ai trái lệnh sẽ được xem là phạm thượng, là hỗn, và sẽ bị trừng trị đích đáng.

Photobucket
Thất phủ cổ miếu - ngôi miếu cổ của người Hoa ở Cù lao Phố

Chính vì thế, ở thời đó, ai mặc đồ đỏ sẽ bị dính đòn là cái chắc, nên người ta nhắc nhở nhau đừng mặc đồ đỏ, mặc đồ đỏ sẽ rước họa vào thân. Lâu dần thành quen, người ta cứ kiêng màu đỏ mà chả nhớ tại sao lại phải kiêng!

Hơn 300 năm đã trôi qua rồi, nhưng việc kiêng kỵ màu đỏ của dân Biên Hòa chỉ mới giảm bớt trong thời gian gần đây.

Khi viết những dòng này, tôi nhìn ra đường xem có cô nàng áo đỏ nào đi ngang không, nhưng tìm hoài không thấy! À, chắc tại vì mặc áo đỏ nổi quá nên ngại đấy mà, chứ giờ này còn kiêng kỵ gì nữa!

Tại sao dân Biên Hòa không ăn tân gia?

đăng 02:49 24-05-2011 bởi Nhân Phạm Hoài   [ đã cập nhật 03:01 30-05-2011 ]

Nếu bạn là một người dân cố cựu ở Biên Hòa, chắc chắn bạn đã được ông bà, cha mẹ dạy rằng: Đã là dân Biên Hòa, thì khi có nhà mới không được ăn tân gia. Còn nếu bạn là người từ nơi khác đến đây lập nghiệp, chắt chiu xây được một căn nhà, thì trước khi xây xong bạn sẽ được người quen can ngăn: Cất nhà thì cất, nhưng chớ có ăn tân gia!

Nếu ăn tân gia thì sao?

Người lớn bảo rằng: Nếu ăn tân gia thì cơ ngơi sẽ lụi tàn, sẽ phá sản, sẽ... đủ thứ xui xẻo...

Hic, tin hay không tin thì bạn cũng chả dám tổ chức ăn tân gia, vì... cũng sợ chứ!

Khổ nỗi, cất được cái nhà mới thì mừng lắm, muốn mời người thân, bạn bè tới để khao và khoe. Vậy phải làm sao?

Dân Biên Hòa lách luật bằng cách khi xây nhà xong, cố chọn một ngày kỷ niệm nào đó như sinh nhật, kỷ niệm ngày cưới, hoặc mừng thọ chẳng hạn, tổ chức buổi tiệc mời mọi người tới chung vui. Mọi người cũng đều biết tỏng là hắn mời mình tới để ăn tân gia, mừng nhà mới nên đến chung vui, trầm trồ khen nhà đẹp... nhưng cứ giả vờ như là ăn sinh nhật vậy! Hi hi!

Vì đâu có điều kiêng kỵ lạ kỳ như vậy? (Đến giờ, năm 2011, vẫn còn điều kiêng kỵ này!)

Tôi không phải dân Biên Hòa chính gốc nên không biết nguyên do. Hỏi thăm người dân địa phương thì mỗi người trả lời một cách, nhưng tựu trung là: Tại ông bà dặn như vậy!

Cách lý giải sau, theo TS Huỳnh văn Tới - chủ tịch Hội Văn hóa dân gian Đồng Nai, tôi thấy là hợp lý nhất:

Đây là một tục lệ của người Hoa, phát xuất từ cuối thế kỷ 17.

Thuở ấy lưu dân người Hoa theo chân Trần Thượng Xuyên vào đất Biên Hòa. Mang trong lòng hoài bão Phản Thanh phục Minh, Trần Thượng Xuyên khuyến nhũ đồng bào mình rằng vùng đất phương Nam này chỉ là nơi ở tạm, chờ thời cơ quay về cố quốc, chứ quyết không định cư mãi mãi. Vì chỉ là nơi "tạm trú dài hạn" nên quyết không được ăn tân gia, để bày tỏ tấm lòng mong muốn quay về quê hương.

Vì những lý do tế nhị, họ không nói rõ lý do này ra với người Việt bản xứ. Còn người Việt, thấy họ làm thế cũng... bắt chước làm theo, dù không rõ nguyên do. Và cứ thế điều cấm kỵ này lưu truyền mãi đến nay đã hơn 300 năm!


Photobucket
Đình Tân Lân, Biên Hòa - Nơi thờ Trần Thượng Xuyên

Như chúng ta đã biết, năm 1698 Nguyễn Hữu Cảnh đã vâng lệnh chúa Nguyễn vào đất Đồng Nai, hình thành nên Biên Hòa và Gia Định. Trong việc khai mở và giũ gìn vùng đất này, Trần Thượng Xuyên và những lưu dân người Hoa theo chân ông đã đóng góp vai trò không nhỏ. Giờ đây, hậu duệ của họ đã trở thành người dân Việt và gắn bó mãi với mảnh đất này. Vì thế tục lệ không ăn tân gia với nguyên do nêu trên đã thành vô nghĩa.

Thế nhưng dân Biên Hòa vẫn không ăn tân gia, chả cần hiểu tại sao. Và tôi, giả dụ như có cất nhà mới ở Biên Hòa cũng quyết... không ăn tân gia, vì người ta sao mình vậy mà!

1-10 of 15

Comments