Làng nghề và tập quán của dân cư Đồng Nai

Bài mới

  • Dân tộc tại chỗ ở Đồng Nai Trong số các cư dân của Đồng Nai xưa, có 4 dân tộc được xác định là dân tộc tại chỗ, có mặt từ rất lâu đời gồm: Chơro, Mạ ...
    Được đăng 21:15, 27 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Dấu ấn người Hoa ở Đồng Nai Có mặt từ rất sớm tại vùng đất Đồng Nai, khởi đầu là nhóm Hoa kiều của Trần Thượng Xuyên vào năm 1679, cộng đồng người Hoa đóng góp rất ...
    Được đăng 21:06, 27 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Xuân cuối trên làng gốm cổ nhất Nam bộ Nét cổ kính, màu men đặc trưng của làng gốm nằm bên sông Đồng Nai đã trở nên quá quen thuộc với người dân ở Tân Vạn, TP Biên Hòa ...
    Được đăng 18:36, 15 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Độc đáo tập quán dựng nhà của người Chơ Ro Bằng những nguyên liệu của thiên nhiên mà núi rừng ban tặng,với đôi bàn tay khéo léo, người Chơ Ro đã cất lên được những ngôi nhà sàn độc ...
    Được đăng 08:54, 27 thg 5, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Vườn dâu sai trái trĩu cành ở Đồng Nai Những vườn dâu với trái chi chít bao bọc khắp thân và cành cây của vùng miệt vườn Đồng Nai khiến người nhìn phải ồ lên trầm trồ thích thú ...
    Được đăng 05:11, 21 thg 5, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 39. Xem nội dung khác »

Bài trong mục này


Dân tộc tại chỗ ở Đồng Nai

đăng 21:15, 27 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Trong số các cư dân của Đồng Nai xưa, có 4 dân tộc được xác định là dân tộc tại chỗ, có mặt từ rất lâu đời gồm: Chơro, Mạ, S’tiêng và K’ho. Trong đó, 2 dân tộc Chơro, Mạ được đánh giá có nền văn hóa riêng, đặc sắc và có tác động nhất định đến không gian văn hóa vùng Đông Nam bộ. 

Người Chơro Lý Lịch (xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu) biểu diễn cồng chiêng ở nhà dài. 


Trong lịch sử phát triển, dân tộc Chơro là lớp cư dân cư trú từ xa xưa ở vùng đồi núi thấp phía Nam, chủ yếu sinh sống tập trung ở khu vực miền Đông Nam bộ. Theo số liệu điều tra, người Chơro ở Đồng Nai hiện chiếm 56,5% tổng số người Chơro trong cả nước, cao nhất so với các tỉnh, thành trong khu vực (Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Thuận, TP.Hồ Chí Minh, Bình Dương). Còn người Mạ chủ yếu sinh sống tại tỉnh Lâm Đồng - trước đây gọi là vùng Đồng Nai Thượng (chiếm tỷ lệ gần 80%), số còn lại ở Đắk Nông (14,4%) và Đồng Nai, sinh sống tập trung ở 2 huyện Định Quán và Tân Phú. Cả 2 dân tộc đều thuộc ngữ hệ Nam Á, nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer. 

* Tín ngưỡng tâm linh đặc sắc 

Trong Địa chí thành phố Hồ Chí Minh, nhiều học giả có sự đánh giá về tác động của văn hóa tộc người Mạ - Chơro và nhận định ngay cả vùng Sài Gòn xưa cũng thuộc phạm vi không gian văn hóa xã hội của nhóm cư dân này. Theo sách Các dân tộc ít người ở Việt Nam, tên tự gọi của dân tộc là Chrau - Jro, trong đó Chrau có nghĩa là nhóm người, hay tập đoàn người. Tộc danh Chrau Jro còn gắn liền với tên gọi một giống lúa nước cổ truyền mà đồng bào rất thích gieo trồng. Tương tự, cộng đồng người Mạ tự nhận là Cau Mạ (Cau đọc thành Chau, có nghĩa là người, còn Mạ có thể là một phương thức sinh hoạt kinh tế của người làm rẫy). 

Người Mạ và Chơro có tín ngưỡng thờ đa thần theo quan niệm “vạn vật hữu linh”. Những hiện tượng thiên nhiên, sự vật trong môi trường sống đều có linh hồn, thần linh thuộc về thế giới siêu hình, có khả năng chi phối đến đời sống con người. Vì thế, người Mạ có hệ thống thần linh mà cao nhất là Yang N’du - vị thần tạo ra thế giới; bên dưới là các vị thần: Yang Koi (thần lúa), Yang Bri (thần rừng), Yang Dah (thần nước), Yang Bơnơm (thần núi…). Hàng năm người Mạ có các lễ cúng quan trọng là cúng thần núi và thần lúa. Theo quan niệm của người Mạ, con số 7 có tính chất là sự vẹn toàn, thể hiện sự tốt lành. Người Chơro thì có lễ hội cúng thần lúa (Ốp Yang Vá, sau này gọi là Sa Yang Va). 

Cả dân tộc Mạ lẫn Chơro đều không có chữ viết nên lịch sử được truyền miệng trong cộng đồng, qua nhiều thế hệ. Một số “chuyện đời xưa” của người Mạ đề cập đến thần K’Boong tạo nên mặt đất với trái bầu và 3 cái gùi chứa đựng những yếu tố để dựng nên thế gian và sự sống của loài người. Truyện kể Mạ cũng nhắc đến những tổ tiên ban đầu là Paang Kha và Paang Khem “chui ra” từ các bụi cây; 3 người phụ nữ sinh ra các giống loài con người, trong đó Ka Grum sinh ra Kon Chau (nhóm người Thượng, trong đó có người Mạ), Ka Grúp sinh ra Kon Grum (người Chăm) và Ka Grau sinh ra Kon Yoan (người Kinh). 

Người Chơro thì có các chuyện kể về phân bố địa bàn sinh sống. Theo đó, 3 người phụ nữ trong tộc bị lạc nhau, đi về 3 hướng để sinh sống từ đó hình thành cộng đồng gồm: Pôprưng (từ suối Tambung quay ngược đến xã Túc Trưng, huyện Định Quán), Pốptoi (khu vực ấp Lý Lịch, xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu) và Pôplau (vùng đất từ Gia Huynh đến Trảng Táo, nay thuộc huyện Xuân Lộc). 

Giống như nhiều dân tộc thiểu số khác, cách thức tổ chức cư trú truyền thống của người Mạ theo từng buôn (bon), còn người Chơro là làng (plây). Già làng (kwang bon, hoặc voq plây, tức chủ làng) có vị trí rất quan trọng, thường là người lớn tuổi, có uy tín, hiểu biết và được cộng đồng kính trọng. Trước đây người Chơro theo chế độ mẫu hệ, thể hiện qua việc đặt tên con theo họ mẹ, quyền thừa kế tài sản thuộc về con gái… 

Kiến trúc nhà ở của người Mạ và Chơro là nhà sàn bằng vật liệu sẵn có như: gỗ, tre, mây, độ dài ngắn của nhà tùy thuộc vào gia chủ. Trong gia đình có thành viên lập gia đình thì nhà dài được nối tiếp về phía Tây, trước đây có những ngôi nhà sàn dài đến 100m. Điểm khác biệt so với các dân tộc khác là vách nhà của người Mạ, Chơro thường vát nghiêng từ sàn lên mái. Khi bắt đầu làm nhà, già làng đào một hố nhỏ để chôn cột chính, trong hố bỏ một vài cục than hồng rồi mới trồng cột lên, với ý nghĩa than hồng làm ấm áp ngôi nhà đồng thời là dạng “chú yếm” để ma quỷ không xâm nhập. 

Gạo là lương thực chính của người Mạ và Chơro. 2 dân tộc này cũng có tập quán nấu cơm trong ống tre lồ ô (cơm lam, tiếng Chơro là piêng đinh), thuận lợi cho môi trường sống trong rừng nhiều ngày khi đi làm rẫy hoặc săn thú. Gạo nếp thì được nấu thành xôi hay làm bánh dày (piêng puh) trong các dịp lễ tiết. Người Mạ và Chơro cũng ăn lương thực phụ là khoai mì, bắp, củ nần, củ chụp. Về thực phẩm, người Mạ và Chơro khai thác chủ yếu từ môi trường xung quanh như: cá suối, cá sông, ốc, tôm tép, thịt rừng, rau rừng các loại (rau má, rau nhíp, rau dền, đọt rau lang, mướp, bí, bầu, măng, đọt mây) được chế biến đơn giản bằng cách luộc, nấu canh, nướng. 

Người Mạ và Chơro cũng có tập quán chế biến rượu cần để uống và sử dụng trong lễ tiết, lễ hội; là lễ vật dâng lên thần linh và phương thức bày tỏ lòng mến khách. Rượu cần chế biến từ gạo nấu thành cơm, trộn thêm trấu bổi và men rượu làm từ lá, vỏ và rễ một số loại cây rừng (lá cây Gàng, lá cây Vlân, vỏ cây Ktờram…). Theo già làng Năm Nổi ở làng Chơro ấp Lý Lịch, có đến 37 loại lá, vỏ, rễ cây để làm men rượu cần. Nguyên liệu chế biến rượu cần được cho vào ché sành, ủ trong một vài tháng. Khi uống rượu cần thì đổ nước vào ché, hút bằng cần (làm từ ống trúc nhỏ). 

* Đời sống văn hóa phong phú 

Trang phục truyền thống của người Mạ và Chơro khá đơn giản: đàn ông mặc khố, phụ nữ mặc váy, tất cả đều ở trần, trời lạnh thì khoác thêm tấm chăn trần (sau này nam nữ đều mặc áo). Ban đầu, y phục được làm từ vỏ cây rừng lành tính không có độc, đem đập giập, phơi khô rồi kết lại bằng các sợi dây. Sau này, phụ nữ Mạ và Chơro biết xe sợi, dệt vải thổ cẩm và may quần áo. Thổ cẩm của người Mạ lấy màu trắng làm chủ đạo, còn người Chơro là màu nâu đất. Hoa văn thổ cẩm Mạ dạng hình học đơn giản nhưng váy áo được may khá cầu kỳ, thường được trang trí các viền tua len đỏ, đồng tiền bạc, khoen bạc, lục lạc. Trong khi đó, hoa văn trên vải của người Chơro là đầu chà gạc (tong yih), đường viền (tong têch), mắt cú mèo (mat ncau), khung quay sợi (khiya)… 


Không chỉ phụ nữ Mạ, mà đàn ông Mạ cũng thích sử dụng trang sức. Những đồ trang sức truyền thống như: vòng đeo cổ, vòng đeo tay, hoa tai (làm bằng chất liệu ngà voi, đồng, bạc hoặc ống tre), dây quấn đầu dệt từ sợi có hoa văn. Tục đeo hoa tai gắn liền với tục căng tai, căng càng lớn càng thể hiện “bản lĩnh đàn ông”. Đầu tóc đàn ông Mạ để dài, cắt thành riềm ở trán; búi tó ở gáy được giữ chặt bằng kẹp đôi bằng đồng thau, tô điểm thêm những chiếc lược, hạt trai có màu, con dao nhỏ cán cong, lông chim óng ánh, búp tô len đỏ. Phụ nữ Mạ thì thích quấn trên cổ những chuỗi hạt cườm nhiều màu sắc, gắn thêm những đồng bạc hoặc khoen bạc, khoen ngà voi. 

Về âm nhạc, tại khu vực người Mạ từng sinh sống đã phát hiện đàn đá, nhưng chưa xác định chính xác người Mạ là chủ nhân. Người Mạ hiện còn sử dụng các loại nhạc cụ như: đàn tre (ding dut, có 6 dây), kèn mô (tồng), kèn t’diếp (giống tù và), kèn bầu (làm từ trái bầu và 8 ống nứa), cồng, chiêng, chinh. Tương tự, người Chơro có các nhạc cụ: chinh, chiêng, goong k’la, kèn lúa, kèn môi, talood (nhạc cụ gõ làm từ thân gỗ). Cả 2 dân tộc đều có các bài dân ca về đề tài sinh hoạt lao động, tình yêu, hát ru, đồng dao… với đặc điểm là ngắn, ca từ mộc mạc, đơn giản; múa dân gian… 


Có một vương quốc Mạ?


Trên địa bàn của người Mạ sinh sống hiện nay, các nhà khảo cổ đã thu thập được nhiều hiện vật, khai quật di chỉ cho thấy dấu vết của những lớp cư dân cổ. Trong đó, một phát hiện quan trọng vào năm 1986 về một quần thể phế tích kiến trúc chạy dài gần 15km dọc theo bờ Bắc thượng nguồn sông Đồng Nai (thuộc địa bàn huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng). Ngoài chất liệu đá, gạch đa dạng dùng để kiến trúc đền tháp, còn có bộ ngẫu tượng linga - yoni, tượng Ganesa, mảnh vỡ các loại bình, cốc, chân đèn, lọ; các loại hiện vật bằng bạc, đồng, sắt, đặc biệt là 166 hiện vật chế  tác từ kim loại màu vàng (mảnh trang trí các vị thần vũ nữ, thiên tiên theo đề tài tôn giáo và sử thi Ấn Độ, mảnh vàng khắc văn tự, tự dạng Sanskrit thế kỷ 10-11.


Những phát hiện khảo cổ trên đã dẫn đến một số ý kiến phỏng đoán của các nhà dân tộc học: Khu di tích Cát Tiên có thể là một phần của văn hóa Óc Eo. Khi văn hóa Óc Eo bị lịch sử chi phối dần lụi tàn thì nơi đây vẫn tồn tại và độc lập trở thành thánh địa của một tiểu quốc mà lịch sử gọi là Nhà nước Mạ - S’tiêng, một tiểu quốc nằm giữa 2 quốc gia Chămpa và Phù Nam, mà chủ nhân của thánh địa là tộc người Mạ - S’tiêng, phù hợp với những truyền thuyết dân gian để lại trên vùng đất Nam Tây Nguyên về một Nggar Chau Mạ (nước người Mạ) có lãnh thổ nằm trên phần lớn cao nguyên Di Linh, từ Đạ R’Nga (sông La Ngà) kéo dài đến vùng Đức Trọng (tỉnh Lâm Đồng) và Bình Thuận, Bình Phước hiện nay. Khi chúa Nguyễn mở rộng bờ cõi về phía Nam, nước người Mạ không thể tồn tại độc lập nữa vì nằm ngay trên đường giao thông từ Khánh Hòa - Bình Thuận vào Biên Hòa - Gia Định, nên suy tàn và các bộ lạc tản cư lên địa bàn hiện nay.

 

PGS-TS. Lâm Nhân

Dấu ấn người Hoa ở Đồng Nai

đăng 21:06, 27 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Có mặt từ rất sớm tại vùng đất Đồng Nai, khởi đầu là nhóm Hoa kiều của Trần Thượng Xuyên vào năm 1679, cộng đồng người Hoa đóng góp rất quan trọng trong quá trình mở cõi và phát triển kinh tế của Đồng Nai, đồng thời tạo dấu ấn văn hóa độc đáo nơi vùng đất mới. 

Miếu thờ Tam vị tổ sư (còn gọi là miếu Bà Thiên Hậu, phường Bửu Long, TP.Biên Hòa) do người Hoa lập cách đây mất trăm năm 


Trong lịch sử, cộng đồng người Hoa từ Trung Quốc di cư đến Đồng Nai thành nhiều đợt, gồm các nhóm phương ngữ: Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu và Hẹ - Sùng Chính, trong đó có số ít là Hải Nam (còn được gọi là nhóm Hoa bốn bang); sau này còn có thêm nhóm người Hoa từ tỉnh Hải Ninh di cư vào Đồng Nai, hiện chiếm hơn 80% số người Hoa của cả tỉnh. 

* Góp phần xây dựng quê mới phồn thịnh 

Tuy buổi đầu số lượng người Hoa di cư đến Đồng Nai rất ít ỏi so với số lưu dân Việt định cư trước đó, nhưng với thế mạnh và sở trường là thương nghiệp, dịch vụ, người Hoa đã góp phần đưa kinh tế của Đồng Nai khởi sắc, tạo được uy thế và ổn định nơi vùng đất mới. Những người Hoa theo Trần Thượng Xuyên đã xây dựng Cù lao Phố trở thành trung tâm thương mại gọi là Nông Nại đại phố - một trong những thương cảng lớn nhất Nam bộ lúc bấy giờ, thu hút các thương nhân từ Trung Hoa và các nước khác đến. 

Một số người Hoa thuộc nhóm Triều Châu thì thạo nghề trồng rau cải, hoa màu. Sở Cải là địa danh chỉ khu vực trồng rau, hoa màu của người Hoa bang Triều Châu từ Cây Chàm (nay thuộc phường Quang Vinh) lên đến Tân Thành, Bửu Long (phường Bửu Long, TP.Biên Hòa). 


Hơn 320 năm sống trên quê hương mới, cộng đồng người Hoa với truyền thống văn hóa lâu đời luôn ý thức giữ gìn và phát huy đời sống văn hóa xã hội trong cộng đồng các dân tộc. Ngày nay, người Hoa cùng với người Việt và các dân tộc cùng đoàn kết chung sức chung lòng xây dựng quê hương Đồng Nai ngày càng trở nên vùng đất giàu tiềm năng và đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.

Người Hoa ở Đồng Nai làm nhiều nghề thủ công, nhưng có 2 nghề tiêu biểu nổi tiếng một thời, sản xuất có quy mô tập trung và còn tồn tại đến nay. Đó là nghề làm gốm lu ở Tân Vạn (nay thuộc phường Bửu Hòa, TP.Biên Hòa) và nghề đục chạm khắc đá xanh ở Bửu Long. Làng nghề đá Bửu Long từng nổi tiếng một thời với những sản phẩm đá, đặc biệt là sản phẩm đá tiêu biểu trang trí và xây dựng trong các đền, miếu Hoa ở Nam bộ. Một số công trình kiến trúc tín ngưỡng còn lưu lại vết tích của làng nghề như: vách tường, cột bằng đá ở Thất phủ cổ miếu (chùa Ông, xã Hiệp Hòa, TP.Biên Hòa), Thiên hậu cổ miếu (phường Bửu Long). Những cái tên quen thuộc như: Tân Phát Hưng, Đặng Hữu Lợi, Bửu Long, Tín Nghĩa, Tân Vĩnh Quang, Nhật Thành, Ôn Sòi… đã góp phần tạo nên thương hiệu cho làng đá của người Hẹ ở Bửu Long một thời. 


Ngoài ra, người Hoa Đồng Nai mà phần lớn người Hoa bang Hẹ - Sùng Chính còn có nghề chế biến thuốc Bắc gia truyền và trị bệnh theo Đông y. Những hiệu thuốc Bắc nổi tiếng của người Hẹ ở Đồng Nai trước đây như: Vạn An đường, Đồng Tế đường, Đồng Đức đường, Chí Sanh đường... 

Kinh doanh dịch vụ ăn uống cũng là đặc điểm nổi bật trong hoạt động kinh tế của người Hoa. Người Hoa ở các khu đô thị đã tạo nên những dãy phố ăn uống mang thương hiệu riêng. Những tiệm ăn tiêu biểu của người Hoa ở Biên Hòa như: tiệm cơm Bách Lạc, bánh ướt Chú Tàu, tiệm Hảo Hiệp (đường Hà Huy Giáp), quán cơm Siu Siu (đường Hưng Đạo Vương), tiệm vịt quay Hạnh Phước (đường Phan Đình Phùng), tiệm mì Vĩnh Vĩnh, tiệm mì Hào Kiệt (đường 30-4)… đều là những tiệm ăn nổi tiếng của người Hoa với những món ăn truyền thống: bánh bao, hủ tiếu mì, hoành thánh, cháo Tiều, vịt quay, cơm chiên, cơm gà luộc... Tiệm Nghĩa Ký ở TX.Long Khánh và một số địa phương khác cũng có những tiệm ăn nổi tiếng của người Hoa. 

* Giữ gìn bản sắc văn hóa 

Đời sống văn hóa của người Hoa thể hiện trên nhiều mặt: nhà ở, ăn uống, trang phục, phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo, lễ hội… rất phong phú với những sinh hoạt đặc trưng về văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Khi Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh thành lập dinh Trấn Biên đã đưa người Hoa khu vực này vào đơn vị hành chính là xã Thanh Hà. Sau này, người Hoa phân tán sống xen kẽ với người Việt, kiến trúc nhà ở cũng dần dần giống nhà người Việt, tuy nhiên trước cửa nhà của người Hoa thường có dán giấy hồng đều viết chữ bằng tiếng Trung (Phúc, Ngũ phúc lâm môn...), hoặc dán câu đối, hoa mẫu đơn (tượng trưng cho sự giàu có); ngày tết thường treo đèn lồng đỏ. Phần lớn bảng hiệu của người Hoa đều viết chữ song ngữ Việt - Hoa rất dễ nhận biết. 

Người Hoa vốn có truyền thống tổ chức xã hội và giữ quan hệ cộng đồng khá chặt chẽ, ban đầu khi đến vùng đất mới đã sống tập trung theo từng bang hội để bảo bọc giúp nhau làm ăn, đặc biệt là bảo lưu truyền thống văn hóa của bổn tộc. Đặc biệt, cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai tự xây dựng các công trình công cộng như: chùa, miếu, trường học, hội quán, công sở… để tiện sinh hoạt theo phong tục, tập quán truyền thống. Một số cơ sở tín ngưỡng của người Hoa tồn tại hàng trăm năm nay như: Thất phủ cổ miếu, miếu Quan âm, miếu Bà Thiên hậu… thu hút không chỉ cộng đồng người Hoa mà có cả người Việt. Mỗi bang người Hoa đều có nghĩa trang (nhị tì) riêng, người thuộc bang nào thì khi qua đời được an táng trong nhị tì của bang đó. Những nơi đông người Hoa cư trú đều có xây dựng trường học, tổ chức dạy tiếng Hoa cho con em và cả người Việt có nhu cầu với mục đích vừa nâng cao dân trí, vừa giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc. 

Thường ngày, người Hoa mặc quần áo giống người Việt, trang phục truyền thống chỉ dùng mặc trong những dịp lễ tết ở gia đình, đình, miếu hay trong các dịp lễ hội. Món ăn tiêu biểu của người Hoa là: mì, hoành thánh, hủ tiếu, khâu nhục, cháo Tiều, lạp xưởng, vịt quay, xá xíu, bánh bao, bánh bò, há cảo, sủi cảo, mì xào giòn, cơm chiên Dương Châu… 

Đời sống văn hóa tinh thần người Hoa đa dạng, thể hiện trong phong tục tập quán như: đám cưới, đám tang, ma chay, lễ tết, sinh hoạt văn hóa nghệ thuật. Trong số lễ vật cưới của người Triều Châu thường có trái cau duy nhất với ý nghĩa người con gái chỉ là vợ của một người, cô dâu khi về nhà chồng đem theo cặp cây mía biểu thị hạnh phúc ngọt ngào. Người Quảng Đông thì làm bánh bò nổi (pha cú) hoặc có tục lệ ăn chè ỷ (giống bánh trôi viên tròn, không có nhân) tượng trưng cho sự viên mãn, con đàn cháu đống. 

Lễ hội phổ biến của người Hoa ở Đồng Nai đa phần là lễ hội dân gian như: lễ làm chay vía Tổ nghề, lễ vía Thiên Hậu, lễ hội chùa Ông (Thất phủ cổ miếu), lễ Tả Tài Phán, Tết Nguyên tiêu, tiết Thanh Minh, lễ cầu siêu, tiết Trung nguyên, Tết Hạ nguyên, vía Quảng Trạch tôn vương, vía Phước Đức chính thần… Ngoài những dịp tết và vía đầu năm, những lễ hội còn lại gắn với các đối tượng thờ tự ở cơ sở tín ngưỡng tôn giáo. Trong lễ hội thường có tổ chức đấu giá đèn lồng, hát bội và múa lân - sư - rồng. Những đội lân, hẩu nổi tiếng của người Hoa ở Biên Hòa trước đây như: Thạch Sơn Liên Thắng đường, Tân Khánh đường, Đại Khánh đường… phục vụ trong các dịp lễ, tết của bà con người Hoa lẫn người Việt ở địa phương. 


Tản mạn về một danh xưng cũ


Trước đây, trong dân gian người Việt thường gọi người Hoa cư trú ở khu vực Nam bộ là Ba Tàu. Vậy, danh xưng Ba Tàu ở đâu ra?


Nhiều người cho rằng: từ “Ba”, liên quan đến sự kiện chúa Nguyễn cho phép 3 đoàn người Hoa đến nước ta làm ăn sinh sống, gồm đoàn của Trần Thượng Xuyên ở vùng Cù Lao Phố (tỉnh Đồng Nai), đoàn của Dương Ngạn Địch ở Mỹ Tho (tỉnh Tiền Giang) và đoàn của Mạc Cửu ở Hà Tiên (tỉnh Kiên Giang); từ “Tàu” bắt nguồn từ phương tiện đi lại của người Hoa khi sang nước ta là tàu bè.


Danh xưng “Tàu” đã được học giả An Chi trong quyển Chuyện đông chuyện tây (tập 7, Nhà xuất bản Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh) giải thích rõ hơn như sau: trước khi 3 nhóm người Hoa của Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch, Mạc Cửu đến nước ta vào năm 1679, trong Tự điển Việt Bồ La của linh mục Alexander De Rhodes ấn hành tại Roma năm 1651 đã xuất hiện danh xưng “Tàu” (mực Tàu). “Thời Bắc thuộc của nước ta chính thức bắt đầu từ nhà Hán. Từ nhà Hán trở đi, gọi quan đều dùng từ tào, gọi quan giúp việc là thuộc tào, gọi lính là thị tào. Thế là trong thời kỳ này, dân ta khi đi vào cửa quan đều gặp tào (từ tào cho đến thuộc tào, rồi thị tào), mà âm xưa là tàu. Tất cả các ông “tàu” đều là người Hán. Do đó mà trong con mắt của dân ta thì Hán = Tàu. Rồi về sau, những người Hán (Trung Hoa) không làm quan cũng được “ăn theo” mà được gọi là “Tàu” (Chuyện đông chuyện tây). Như vậy, Tàu là danh xưng có trên 2 ngàn năm.


Từ Ba Tàu ban đầu mang nghĩa coi thường, nhưng sau này không còn thấy xuất hiện nữa.


Hà Lam


    TS.Nguyễn Thị Nguyệt

Báo Đồng Nai online - 14/04/2018

Xuân cuối trên làng gốm cổ nhất Nam bộ

đăng 18:36, 15 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Nét cổ kính, màu men đặc trưng của làng gốm nằm bên sông Đồng Nai đã trở nên quá quen thuộc với người dân ở Tân Vạn, TP Biên Hòa. Tết Ất Mùi sẽ là tết cuối ở đây bởi các lò gốm phải di dời vào cụm công nghiệp gốm sứ Tân Hạnh vào cuối năm nay.

Được hình thành khoảng 300 năm từ những cư dân khai phá đất phương nam, làng gốm cổ Tân Vạn nằm nép mình bên dòng sông Đồng Nai hiền hòa thuộc các phường Tân Vạn, Bửu Hòa, TP Biên Hòa. Chính từ làng gốm đầu tiên này mới lan tỏa hình thành các làng gốm vệ tinh xung quanh như Bình Dương, TP HCM. 


Từ những buổi ban đầu, sản phẩm làm ra chủ yếu là lu, hũ, chậu, ghè, bình... xuôi về các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, ra Bình Thuận, vượt sóng đến Phú Quốc để dùng trong các công việc hằng ngày. 


Anh Trương Vĩnh (47 tuổi), một nghệ nhân gốm gắn bó từ nhỏ cho biết hiện nay phần lớn là nghệ nhân lớn tuổi, giới trẻ hầu như không còn mặn mà với nghề của cha ông. "Có lẽ là mùa xuân cuối cùng làng gốm tồn tại, sang năm tất cả các làng gốm phải về cụm công nghiệp gốm sứ Tân Hạnh... Mấy chục năm gắn bó với đất, bàn xoay, gốm và vùng đất Tân Vạn nên cũng cảm thấy buồn buồn", anh Vĩnh tâm sự. 


Để có những tác phẩm đi khắp bốn phương, những nghệ nhân làng gốm cổ nhất Nam bộ tỉ mỉ từng chi tiết, tâm huyết với dòng men để tạo ra những sản phẩm chất lượng. Theo các bậc cao niên ở làng gốm, ngày xưa các dòng men là bí quyết gia truyền rất khó lọt ra ngoài để giữ được hồn của gốm. 


Những ngày cận Tết, không khí làm việc tại các cơ sở gốm mỹ nghệ trở nên lặng lẽ. "Đây là cái Tết cuối cùng chúng tôi làm việc bên những xưởng gốm cổ, gắn bó với cả cuộc đời con gái", một phụ nữ cho biết. 


Gốm mỹ nghệ Biên Hòa hiện nay dù vẫn sáng tạo nhiều kiểu mẫu, màu sắc nhưng màu men thì vẫn luôn giữ được nét đặc trưng của gốm sứ xưa. 


"Nghề làm lu ở Biên Hòa phần lớn vẫn làm bằng thủ công, mỗi công đoạn có một người phụ trách nên năng suất đã dần cải thiện. Ngoài yếu tố đặc trưng về mẫu mã mới thì chất lượng luôn được những người làm gốm chúng tôi đặt lên hàng đầu", chú Minh Tuấn nói. 


Với việc nung gốm, lu bằng thủ công củi lửa khiến hạn chế lớn nhất của các lò gốm Tân Vạn là ô nhiễm môi trường. Đây cũng chính là nguyên nhân buộc UBND tỉnh Đồng Nai phải quy hoạch khu gốm sứ quy hoạch một chỗ để áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm hạn chế ô nhiễm. 


Màu men luôn là điểm mạnh của gốm Biên Hòa khó lẫn với tất cả các dòng sản phẩm ở địa phương khác. Các sản phẩm gốm mỹ nghệ Biên Hòa từng tham gia các triễn lãm lớn, được nhiều huy chương bằng khen danh dự của Pháp, Nhật, Thái Lan... 


Làng gốm cổ nằm bên sông Đồng Nai thơ mộng từ lâu là điểm đến tham quan của tuyến du lịch đường sông từ TP HCM, Bình Dương. 


Đường làng khoác lên vẻ đẹp cổ kính với đất đỏ, những chiếc lu gốm bắt mắt hai bên đường cuốn hút du khách mỗi độ xuân về. 


Hoàng Trường

Độc đáo tập quán dựng nhà của người Chơ Ro

đăng 08:54, 27 thg 5, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Bằng những nguyên liệu của thiên nhiên mà núi rừng ban tặng,với đôi bàn tay khéo léo, người Chơ Ro đã cất lên được những ngôi nhà sàn độc đáo mang bản sắc riêng. Việc dựng một ngôi nhà sàn đòi hỏi không ít thời gian và nhân công, đặc biệt là khâu chuẩn bị nguyên vật liệu. 

Tập quán dựng nhà của người Chơ Ro

Các loại gỗ rừng, để nguyên cây dùng làm cột nhà; các loại tre, nứa, lồ ô,..dùng đan vách và sàn nhà; Lá trung quân,cỏ tranh dùng để lợp mái,dây mây để buộc. Đặc biệt, về nguyên liệu gỗ làm cột nhà phải thẳng, không có các dây leo bám tren thân cây. 

Theo quan niệm của người Chơ Ro, nếu chọn cây có dây leo bám xung quanh để làm cột nhà thì cuộc sống gia đình sẽ không thoải mái hay bị ràng buộc. Việc quan trọng trong tập quán dựng nhà của người Chơ Ro chính là phải chọn đất để xem hướng nhà. Đất được chọn thường là nơi gần suối, tiện cho việc sinh hoạt thường ngày của gia đình sau này. 


Theo tục lệ, trước khi dựng nhà người dân vạch một đường thẳng nhỏ, xếp bảy hạt gạo trên đường thẳng đó rồi lấy bát úp lại. Sáng hôm sau, nếu bảy hạt còn nguyên vẹn, không xê dịch thì đất đó tốt, dựng nhà được. Người Chơ Ro cho rằng đất ở đó yên ổn, không có các côn trùng gây hại như mối mọt và là điềm báo sự đồng ý của thần linh. 

Người Chơ Ro thường làm nhà vào mùa khô để ngôi nhà được chắc chắn, thuận lợi trong việc tiến hành làm nhà. Trong vòng 4 tuần, với những dụng cụ đơn giản như chà gạc, dao côi, búa, những bàn tay khéo léo của những người thợ không chuyên nơi đây đã tạo dựng được một ngôi nhà sàn. 


Hướng của cửa nhà là hướng bắc hoặc hướng nam, để hàng ngày, mặt trời đi qua ngang nhà. Nhà ở thường vuông góc với hướng di chuyển của mặt trời. Người Chơ Ro không làm cửa hướng tây hoặc hướng đông, vì như vậy, mặt trời sẽ đi dọc theo chiều dài căn nhà, các gia đình trong nhà sẽ nóng bức, đau ốm thường xuyên... 

Trong nhà là sự quần trú của đại gia đình nhiều thế hệ. Sự phân chia chỗ ở cho thành viên được quyết định bởi người chủ gia đình, thường theo thứ tự đầu nhà phía đông hay phía đầu tiên cho người lớn tuổi.Nhà bếp thường đặt phía trái cửa vào của nhà sàn. Khi bước vào nhà là gian bếp, phòng chung (tụ họp gia đinh và đón khách), kế đến là các gian buông của các thành viên được chia ngăn. 

Những biến đổi trong tập quán dựng nhà của người Chơ Ro hiện nay

Tập quán ngày nay có nhiều thay đổi. Ngôi nhà sàn của người Chơ Ro thường được dựng theo hai công đoạn. Công đoạn đầu tiên là dựng mái nhà. Khi dựng bộ khung mái nhà, người dân nối các thanh tre tạo thành những vì kèo bằng dây mây chằng khít, chặt và đẹp. Kèo trên mái nhà phải được buộc đều theo một phía: hoặc cùng bên phải, cùng bên trái, nếu không mọi người trong gia đình hay mâu thuẫn. 

Số lượng lớp lá lợp mái phải là số lẻ, không được chẵn. Người dân quan niệm “sinh, thọ, lão, tử”, vì vậy số lượng lớp mái phải tránh số chẵn. Sau đó là việc lắp ráp bộ khung nhà trên nền đất bằng phẳng, tiếp đó kèo của mái nhà được đặt khớp với các đầu cột đã được dựng sẵn. 

Khi khung nhà đã tương đối hoàn chỉnh, người ta tiến hành hoàn thiện các phần còn lại của ngôi nhà. Sàn nhà được làm bằng thân tre đập dập, trải ngang đều trên khung sàn nhà, dùng dây mây buộc cho chắc chắn. Dọc theo chiều dài của sàn nhà, ngoài các đà ngang, dọc đã được dựng sẵn, người ta đặt một thanh gỗ lớn, phẳng lệch về phía Tây, mọi người trong dòng họ và gia đình đi lại trên thanh gỗ này để tránh tiếng động, làm phiền đến người khác. 


Vách nhà cũng được làm bằng thân tre, đập dập và cột bằng dây mây. Vách nhà của người Chơ Ro khá độc đáo, thường được đặt nghiêng khoảng 15 độ, mục đích đặt nghiêng như vậy để làm chỗ dựa lưng khi ngồi. Trên nhà sàn của người Chơ Ro không có bàn ghế, họ dựa lưng vào vách nhà để ngồi nói chuyện, uống nước. Đồng thời, dọc theo vách ngang tầm mắt người ngồi được để hở để đón nhận ánh sáng, lưu thông không khí và nhìn ra phía ngoài. 

Bàn thờ thần thường được bố trí ở giữa ngôi nhà, hướng mặt trời mọc. Bếp của mỗi gian nhà được đặt ở góc bên trái, phía Tây Đặc biệt, phía cửa ra vào của mỗi ngôi nhà thường treo tổ ong vò vẽ khô (không còn ong). Theo lý giải của người dân, khi con ma định vào nhà làm hại gia đình, nó sẽ nhìn thấy tổ ong đầu tiên. Con ma sẽ đếm các lỗ của tổ ong trước, tổ ong có nhiều lỗ nên con ma sẽ khó đếm và dẫn đến việc đếm nhầm, phải đếm đi đếm lại nhiều lần, đến khi trời đã sáng vẫn đếm chưa xong, không vào nhà quấy phá gia đình được. 

Trong suốt quá trình làm nhà, gia đình chủ nhà thường có 2 lần làm lễ cúng thần đất và tổ tiên. Lần thứ nhất và lần thứ hai là khi việc cất nhà hoàn thành. Nhà sàn dài là nơi sinh sống của các dòng họ trong cộng đồng người Chơ Ro. 

Đối với đồng bào Chơ Ro, ngôi nhà sàn không chỉ mang giá trị vật chất mà con ẩn chứa trong đó nếp ăn, nếp nghĩ, nếp sinh hoạt tạo nên một nét văn hóa nhà sàn mang tính cộng đồng, độc đáo.

Mỹ Bình

Vườn dâu sai trái trĩu cành ở Đồng Nai

đăng 05:11, 21 thg 5, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Những vườn dâu với trái chi chít bao bọc khắp thân và cành cây của vùng miệt vườn Đồng Nai khiến người nhìn phải ồ lên trầm trồ thích thú. 

Đã mắt với vẻ đẹp trĩu cành của vườn dâu ở vùng miệt vườn Đồng Nai


Những ngày này, các nhà vườn ở xã Tam An, Lộc An, An Phước (H.Long Thành), Long Tân, Phú Hội (H.Nhơn Trạch) của tỉnh Đồng Nai, đang bước vào mùa thu hoạch trái dâu. Trước đây, các hộ dân chỉ trồng một vài cây để lấy bóng mát và trái để ăn chơi. 

Những năm gần đây, dâu bán được giá nên nhiều hộ đã trồng với diện tích lớn để kinh doanh. Những vườn dâu với trái dày đặc bao bọc từ gốc lên cành tạo thành từng chùm dài buông xoã xuống như bức rèm khiến người nhìn phải trầm trồ thích thú.

Mùa dâu ở Đồng Nai bắt đầu từ tháng giêng cho đến hết tháng 6, nhưng chính vụ vào tháng 4, lúc cả cây dâu chín vàng rực bao phủ kín mít khắp thân và cành. 


Ông Huỳnh Văn Lang (63 tuổi, ấp 2, xã An Phước, H.Long thành), chủ của vườn dâu hơn 1ha cho hay, trước kia địa phương chỉ có giống dâu rừng, ra trái rất chua nên ít người mua. Người dân đã tìm cách cấy ghép gốc dâu rừng với giống dâu xiêm để cho cây dâu ra trái sớm, sai và thanh ngọt cho hiệu quả kinh tế khá cao gấp chục lần. 


Cây dâu xiêm rất sai và trái lớn. Mỗi dây trái thường dài từ 25 cm đến 35cm, thậm chí có dây dài tới 50cm, cân nặng tới gần 1kg. 


Trái dâu khi chín chuyển màu ngả vàng rất bắt mắt. Lúc thu hoạch dâu, người ta phải dùng kéo cắt từng chùm và đặt nhẹ nhàng vào giỏ. Nếu làm va đập mạnh thì trái dâu sẽ đứt khỏi chùm và vỏ thâm đen rất khó bán. 


Cây dâu xiêm chỉ cần trồng khoảng 3 năm là bắt đầu ra trái, trung bình mỗi cây cho từ 2 - 2,5 tạ trái/vụ. 


Mỗi vụ, cây dâu có thể ra tới 3 lứa trái xen kẽ nhau nên nhà vườn có thể thu hoạch liên tục trong nhiều tháng liền. Hoa dâu màu trắng bám theo cuống thành từng sợi dài như bức rèm đong đưa trong gió. Cây dâu đực khá nhỏ, chỉ ra hoa mà không đậu trái. Theo nhà vườn, tuỳ theo mật độ cây mà trồng xen vào một vài cây dâu đực và chăm sóc cho bông nở cùng dịp với cây dâu cái để thụ phấn thì năng suất mới cao. 



Trái dâu thường bị chuột, dơi cắn phá nhưng ít ảnh hưởng. Mối nguy hại lớn nhất đến từ ruồi vàng đục quả, do đó người dân phải dùng thuốc treo lên cây để nhử bắt ruồi vàng. 


Theo nhà vườn, cây dâu sinh trưởng phát triển mạnh là vậy nhưng cũng rất khó tính, phải trồng ở vùng mát đất như: đất gò và đất thịt và vùng đất thấp có con nước từ các nhánh sông, kênh rạch lên xuống chảy vào. Nhiều nơi trồng cây dâu vẫn phát triển ra hoa nhưng không đậu trái hoặc ra ít trái, bị lép và ăn không ngon. Ngoài ra cây dâu cũng rất kị ô nhiễm, chỉ cần nguồn nước bị ô nhiễm, có hoá chất, thuốc diệt cỏ,... là cây dâu không ra trái, héo úa rồi chết dần. 


Các vườn dâu ở xã Phú Hội, An Phước được trồng tới nay cũng hơn chục năm, có vườn toàn cây cổ thụ tuổi từ 15- 20 năm. Cây dâu càng lớn, càng lâu năm thì trái càng nhiều, cành lá xum xuê xanh tươi quanh năm. 


Cây dâu được người dân quan tâm chăm chút, tỉa tán, chăm bón nên càng sai trái đến trĩu oằn cành lá. 


Mấy năm nay trái dâu được mùa được giá nên nhà vườn rất phấn khởi. Trái dâu đầu vụ được bán tại vườn với giá 25 ngàn đồng/kg, chính vụ giá từ 10 đến 15 ngàn đồng/kg. 


Trái dâu hái xuống được nhà vườn bó thành từng chùm khoảng 2kg và được mối đến thu mua ngay tại vườn. 


Cây dâu xiêm trồng ở vùng miệt vườn Đồng Nai cho trái to tròn, thịt dày và thanh ngọt đậm đà hơn dâu trồng các vùng khác nên có giá đắt hơn từ 2- 3 ngàn đồng/kg. 


Trung bình mỗi ha dâu cho thu nhập từ 150 - 200 triệu đồng, nhờ trồng dâu mà người dân có thêm chi phí để chăm lo cuộc sống no đủ và sung túc hơn. 


Tiểu Thiên

Nuôi gà thảo mộc ở Định Quán

đăng 19:25, 3 thg 1, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Nuôi gà thảo mộc, hay còn gọi là thảo dược, khác với những mô hình nuôi khác ở chỗ người nuôi bổ sung vào khẩu phần thức ăn nhiều loại thảo dược tốt có lợi cho sức khỏe của gà, góp phần thay thế hoàn toàn các loại kháng sinh và chất kích thích tố tăng trọng thường sử dụng trong quy trình nuôi gà bình thường.


Nuôi gà thảo mộc là mô hình chăn nuôi kiểu mới không sử dụng kháng sinh, giúp cho thịt gà có hương vị thơm ngon, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng. Bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) là người tiên phong trong việc nuôi gà thảo mộc ở tỉnh Đồng Nai.

Từ lâu, ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm đã hướng tới nền chăn nuôi sạch, bền vững và xu hướng này trở nên khá phổ biến trên thế giới. Nắm bắt được xu thế đó và nhận biết nhu cầu thị trường luôn ưu tiên sử dụng sản phẩm sạch, chất lượng, từ năm 2011, bà Cao Thị Ten đã tiến hành nuôi thử nghiệm lứa gà thảo mộc đầu tiên.


Trang trại nuôi gà thảo mộc của bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai).


Cây hương thảo, một trong những loài thảo mộc được chế biến sử dụng làm thức ăn nuôi gà.


Thức ăn thảo mộc được sử dụng trong chăn nuôi gà ở Định Quán.


Nuôi gà bằng thảo mộc hiện là mô hình chăn nuôi kiểu mới không sử dụng kháng sinh.


Tiêm vacxin phòng bệnh cho gà thảo mộc.


Từ tháng thứ hai, gà giống mới được cho ăn thức ăn trộn thảo mộc.


Với kinh nghiệm và tâm huyết sau 20 năm làm nghề chăn nuôi, bà Cao Thị Ten, một trong những người đi tiên phong và thành công trong việc nuôi gà thảo mộc.


Gà đạt trọng lượng trung bình từ 1,3-1,8kg thì có thể xuất chuồng.


Trang trại nuôi gà thảo mộc của bà Cao Thị Ten đã được cấp chứng nhận VietGAP và giấy chứng nhận chuỗi an toàn thực phẩm. 


Theo bà Ten, để chất lượng thịt gà thảo mộc đạt tiêu chuẩn đòi hỏi phải có một quy trình nuôi công phu. Gà giống ban đầu để nuôi thảo mộc là loại gà ta được chăm sóc và tiêm chủng theo quy định nghiêm ngặt. Từ tháng thứ hai, gà mới được cho ăn thức ăn trộn thảo mộc và giảm thức ăn sao cho gà đạt trọng lượng trung bình từ 1,3-1,8kg chứ không được lớn hơn. Điều quan trọng là nguồn thức ăn phải đảm bảo đúng tỉ lệ theo công thức: Thảo mộc (dạng bột) được trộn đều với cám theo tỉ lệ 5/1.000, nghĩa là 5kg thảo mộc trộn với 1.000kg thức ăn.


Sau gần 5 năm nuôi gà thảo mộc, từ năm 2015, trang trại nuôi gà thảo mộc của bà Cao Thị Ten đã đạt chứng nhận VietGAP (Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam) và được cấp giấy chứng nhận chuỗi an toàn thực phẩm.


Đến nay, dù đầu ra đã ổn định nhưng bà Ten vẫn luôn có trách nhiệm trong việc đảm bảo nguồn sản phẩm đầu ra, đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp tiêu thụ. Có thời điểm, trang trại nuôi gà thảo mộc của bà Ten đạt số lượng đàn gà lên đến 50.000 con, cung cấp cho thị trường 250-350 con gà/ngày. Giá gà thảo mộc luôn ổn định ở mức 68.000VND/kg. Bà Ten cho biết, ngoài việc chăm lo cho đàn gà, bà còn phải tính toán hợp lý việc nhập thêm các đợt giống mới, thường thì 20 ngày bà cho nhập một lần để số lượng sản phẩm gà thảo mộc xuất ra luôn đảm bảo cung cấp đủ cho thị trường.


Để mô hình nuôi gà thảo mộc đạt hiệu quả, bà Cao Thị Ten đã thành lập trang trại chăn nuôi quy mô lớn, đầu tư máy móc tự chế biến thức ăn. Hiện bà Ten cũng đang hướng đến việc sử dụng nguồn thảo mộc trong nước nhằm giảm chi phí và chủ động hơn khi mở rộng sản xuất.


Bài: Nguyễn Vũ Thành Đạt - Ảnh: Thông Hải

Làm giàu từ nấm linh chi đỏ

đăng 03:01, 12 thg 9, 2016 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 03:02, 12 thg 9, 2016 ]

Với khí hậu và thổ nhưỡng thích hợp trong quá trình sinh trưởng của các loại nấm, đặc biệt là nấm thảo dược, mô hình trồng nấm linh chi đỏ ở xã Đông Hòa (huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai) hiện có quá trình sản xuất thực hiện theo chuỗi khép kín từ phối giống đến nuôi trồng, chế biến. 

Đến thăm trang trại nấm linh chi đỏ (một loại giống linh chi dược liệu) của ông Trần Hồng Thủy, người đã mạnh dạn đầu tư trên 400 triệu đồng từ năm 2013 mới thấy việc trồng nấm linh chi đỏ không mất nhiều công chăm sóc mà chỉ cần người trồng tuân thủ nghiêm túc quy trình kỹ thuật với các công đoạn từ cắt bầu, hấp, cấy giống, ủ cùng nhiều kỹ thuật chăm sóc khác.

Trại nấm cũng phải tuyệt đối sạch sẽ, thông thoáng, đảm bảo nhiệt độ từ 22-280C và độ ẩm từ 80-90%; nhà trồng nấm linh chi đỏ phải được trang bị hệ thống tưới tự động, nền nhà được tráng xi măng để duy trì độ ẩm cho nấm phát triển; bao lưới xung quanh nhằm ngăn chặn côn trùng xâm nhập gây hại cho nấm.

Thành công ban đầu với 3 trại, ông Trần Hồng Thủy mạnh dạn đầu tư thêm 2 trại nấm linh chi đỏ. Kết quả đạt được là trang trại nấm của ông Thủy thu hoạch và cung cấp ra thị trường trên 100kg nấm thành phẩm mỗi tháng. Giá của nấm linh chi đỏ dao động từ 800 ngàn đồng đến 1 triệu đồng/kg, mang lại doanh thu doanh thu khoảng 1 tỷ đồng/năm cho ông Thủy. Điều đặc biệt, nếu tiêu thụ chưa hết, nấm linh chi đỏ có thể được sấy khô và bảo quản với thời hạn sử dụng dài từ 3-5 năm.

Công đoạn làm đất ươm nấm linh chi...


... và chuẩn bị các bịch ươm để cấy phôi nấm.


Các bịch gía thể cấy phôi nấm linh chi tại các trại trồng nấm ở xã Đông Hòa.


Phòng ươm nấm linh chi.


Bên trong một trại nấm linh chi dược liệu phát triển của gia đình ông Trần Hồng Thủy.


Sau khoảng 5 tháng, nấm linh chi dược liệu cho thu hoạch một lần thành phẩm.


Nấm linh chi dược liệu bắt đầu cho thu hoạch.


Nhà trồng nấm linh chi dược liệu phải đảm bảo đủ các yêu cầu khắt khe để nấm sinh trưởng tốt và phòng chống các vi khuẩn gây hại.


Phơi khô nấm linh chi dược liệu sau khi thu hoạch.


Nấm linh chi dược liệu được coi là loài thảo dược có nhiều công dụng tốt cho sức khỏe.


Hiện mô hình trồng nấm linh chi dược liệu đang mang lại hiệu quả kinh tế cao cho bà con nông dân ở xã Đông Hòa. 


Khoảng 5 tháng nấm linh chi đỏ cho thu hoạch một lần. Nấm thành phẩm sau khi thu hoạch để đảm bảo đúng tiêu chuẩn vệ sinh phải phơi khô, hoặc sấy ở nhiệt độ từ 40-450C. Nấm linh chi dược liệu có tác dụng kháng ung thư và điều tiết miễn dịch, ức chế sự phát tán các tế bào ung thư, ổn định huyết áp, hạ mỡ máu, giảm cholesterol trong máu, giải độc gan, làm mạnh gan và ức chế sự phóng thích histamine, cải thiện dị ứng…
Mô hình trồng nấm linh chi đỏ ở xã Đông Hòa hiện có quá trình sản xuất thực hiện theo chuỗi khép kín từ phối giống đến nuôi trồng, chế biến. Ở trang trại nấm linh chi dược liệu của chị Lê Thị Hương, nguồn phế thải sau khi thu hoạch linh chi còn được tận dụng làm nguyên liệu bịch phôi để sản xuất các loại nấm ăn. Trang trại nấm linh chi dược liệu của chị Hương hiện có 12 trại, trồng, chế biến nấm linh chi Nhật Bản, linh chi Hàn Quốc. Đặc biệt, chị Hương đã cho sản xuất thành công linh chi đỏ, linh chi hồng, nấm vân chi, đồng thời chế biến bột và phấn nấm linh chi đáp ứng nhu cầu dược liệu cho thị trường. Từ đây, các loại sản phẩm nấm linh chi dược liệu được phân phối tại nhiều tỉnh, thành như: Tp. Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Đà Nẵng…

Trước hiệu quả kinh tế mang lại từ việc trồng nấm linh chi dược liệu, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Đồng Nai và Trạm Khuyến nông huyện Trảng Bom đã tổ chức hội thảo để đánh giá mô hình trồng nấm linh chi dược liệu tại địa phương. Hội thảo thu hút sự tham gia của đông đảo cán bộ, hội viên nông dân 17 xã, thị trấn trên địa bàn huyện Trảng Bom. Theo ông Nguyễn Viết Thê, Trưởng trạm Khuyến nông huyện Trảng Bom, hội thảo là điều kiện để mô hình trồng nấm linh chi dược liệu ngày càng được nhân rộng khi bà con thấy được việc áp dụng mô hình này là không quá khó khăn. Thực tế, trồng nấm linh chi không cần nhiều diện tích và vốn đầu tư quá lớn so với các loại nấm khác.

Với hiệu quả đã đạt được từ các mô hình, trạm Khuyến nông Trảng Bom sẽ tiếp tục mở các lớp tập huấn, hội thảo kỹ thuật trồng nấm trong thời gian tới tại các trại nấm làm ăn có hiệu quả, đạt năng suất, chất lượng tốt. Qua đó, bà con nông dân tham gia tập huấn, hội thảo sẽ có cơ hội được học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, để việc thực hiện mô hình trồng nấm linh chi dược liệu ngày càng hiệu quả, mang lại nguồn thu ổn định cho gia đình.

Bài: Nguyễn Vũ Thành Đạt - Ảnh: Thông Hải

Nghề nuôi thủy sản ở Phước An

đăng 03:37, 30 thg 8, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Vùng nước lợ trên dòng sông Đồng Kho (một nhánh của sông Đồng Nai) thuộc xã Phước An (huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai) từ lâu vốn đã là môi trường vô cùng thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản. Những năm gần đây, Phước An còn được biết đến với nghề nuôi hàu với hàng trăm bè nuôi, mang lại thu nhập ổn định cho người dân.

Theo ông Phạm Thanh Tuấn, Chủ tịch Hội Nông dân xã Phước An thì địa phương có thế mạnh về nuôi trồng thủy sản vì không chỉ người dân nơi đây mà người dân từ các địa phương khác cũng về đây lập nghiệp với nghề này.

Nghề nuôi hàu đã được dân chuyên nuôi trồng thủy sản ở Phước An biết đến gần chục năm nay. Lúc đầu, số người nuôi chưa nhiều nên người dân phải chở hàu sau khi thu hoạch đi hàng chục km lên tận vùng Long Sơn (tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) mới tìm được đại lý tiêu thụ. Phần lớn người dân Phước An lúc này chủ yếu nuôi tôm công nghiệp, hoặc nuôi tôm thâm canh; nhiều hộ nuôi cua, cá chẽm… Tuy nhiên, trong vòng hai năm trở lại đây nghề nuôi hàu đang phát triển một cách nhanh chóng khi rất nhiều người dân đã chuyển sang nuôi hàu. Việc thu mua theo đó cũng trở nên thuận tiện cho người dân khi thương lái đã tìm về tận bè để thu mua hàu. 

Cũng theo ông Phạm Thanh Tuấn, từ vài hộ đầu tư nuôi hàu ban đầu, sau gần 2 năm, hiện toàn xã Phước An có khoảng 50 hộ với 250 bè nuôi hàu. Không chỉ vậy, mô hình nuôi hàu nước lợ còn đang được nhân rộng tại xã Long Thọ, huyện Nhơn Trạch.

So với nuôi các loại thủy sản khác, mô hình nuôi hàu cần ít vốn đầu tư, không mấy rủi ro lại cho lợi nhuận tốt. Hàu từ lúc ương, thả xuống bè đến lúc thu mua thường khoảng 12 đến 14 tháng. Các hộ dân thường gối vụ nên có thể thu quanh năm, tiện cho việc xoay vòng vốn. Ở đây, một hộ nuôi chỉ cần đầu tư khoảng một bè (6x6m) với số vốn 20 triệu đồng là sau 12-14 tháng có thể thu lãi khoảng 30 triệu đồng.

Các bè nuôi hàu thả trôi trên dòng sông Đồng Kho ở Phước An.


Hàu được ươm giống trước khi thả xuống bè.


Hàu nuôi trên sông Đồng Kho sống hoàn toàn trong môi trường tư nhiên, người dân chỉ cần đầu tư các bè nuôi.


Hàu sau khi thu hoạch có giá dao động 20.000-25.000đ/kg (3 con/kg).


Hàu từ lúc ương, thả xuống bè đến lúc cho thu mua thường có thời gian khoảng 12 đến 14 tháng.


Nuôi hàu hiện đang là nghề mang lại thu nhập ổn định cho người dân ở Phước An.


Ngoài nghề nuôi hàu chiếm 90% sản lượng nuôi trồng thủy sản, ở Phước An còn phát triển nuôi tôm nước lợ.


Kiểm tra tôm giống ở mô hình nuôi tôm công nghiệp ở Phước An. 


Với nguồn nước lợ của sông Đồng Kho thích hợp cho việc phát triển nghề nuôi hàu, thời gian qua, chính quyền địa phương hiện đang rất quan tâm và tạo điều kiện để khuyến khích người dân đầu tư nuôi hàu. Sắp tới, địa phương sẽ tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật nuôi hàu cho người dân để đạt hiệu quả cao trong quá trình nuôi. Ở đây, chương trình tập huấn ngoài việc giúp đỡ người dân về kỹ thuật chăm sóc, thu hoạch… mà ngay từ đầu, người dân có kế hoạch đầu tư, đặt lồng bè hợp lý để không ảnh hưởng đến môi trường nước. Ngoài ra, địa phương cũng quy hoạch lại vùng nuôi hàu trên sông Đồng Kho, đảm bảo mật độ lồng bè đặt trên sông, có kế hoạch quản lý các hộ dân nuôi hàu để nghề nuôi hàu ở Phước An đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.

Chúng tôi đến thăm bè nuôi hàu rộng khoảng 900 m2 trên sông Đồng Kho của ông Nguyễn Văn Tuấn (ấp Ba Tường, xã Phước An) đầu tư đã được 3 năm nay. Cả một khoảng sông rộng bên cánh rừng ngập mặn xanh ngắt thực sự là môi trường lý tưởng để con hàu sinh trưởng tốt. Ông Tuấn chia sẻ, nghề nuôi hàu ở đây thuận lợi vì con hàu dễ nuôi mà ít vốn vì không cần đầu tư giống cũng như chi phí thức ăn. Hiện sản lượng bình quân từ nuôi hàu của gia đình ông là 10 tấn/năm, cho lãi khoảng 50 triệu đồng.

Với bà Trần Phương Loan, người gắn bó với nghề nuôi hàu ở Phước An suốt 9 năm qua và đã được dân trong nghề đặt biệt danh là “bà Năm Hàu”. Lúc đầu, bà chỉ đầu tư 4 bè hàu, nhưng thấy con hàu mang lại lợi nhuận ổn định, bà đã bán hết đất nhà để mở rộng đầu tư và chuyển hẳn gia đình lên bè sinh sống. Hiện gia đình bà và người em đã có tới 20 bè nuôi, mang lại nguồn thu hàng trăm triệu đồng mỗi năm.

Theo những người dân có kinh nghiệm trong nghề nuôi hàu, hàu có hai thời điểm lấy giống là giai đoạn tháng 3-4 và tháng 8-9 âm lịch hàng năm. Ở các giai đoạn này, ấu trùng hàu sống phù du, người nuôi chỉ cần làm giá thể, thả vào trong nước hoặc đặt trên bãi để con giống bám vào. Lúc đó, hàu non chỉ nhỏ như hạt mè, để yên trong vòng 4 tháng cho hàu con đủ độ lớn thì đưa giá thể cột vào bè, nuôi thêm 8 tháng là thu hoạch.

Với môi trường nuôi ở xã Phước An, dù là hàu nuôi nhưng vẫn phát triển hoàn toàn trong môi trường tự nhiên, ăn các loại sinh vật phù du nên người nuôi không phải cho ăn và cũng không hề sử dụng một loại thuốc hay kháng sinh nào trong suốt quá trình nuôi. Nhờ vậy, việc nuôi hàu còn góp phần xử lý làm sạch các cặn bã hữu cơ, bảo vệ môi trường…

Bài: Nguyễn Vũ Thành Đạt - Ảnh: Thông Hải

Xen canh cây cacao - mô hình kinh tế bền vững ở Trảng Bom

đăng 16:23, 23 thg 8, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Với 17 câu lạc bộ, tổ hợp tác trồng cacao và 426 hội viên tham gia, mô hình xen canh cacao với các loại cây trồng khác hiện phát triển nhanh tại huyện Trảng Bom (Đồng Nai). Đây là một mô hình kinh tế bền vững, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân địa phương thời gian qua. 

Huyện Trảng Bom hiện đã hình thành tổng cộng 17 câu lạc bộ, tổ hợp tác trồng cacao với 426 hội viên tham gia. Phong trào trồng xen canh cây cacao phát triển mạnh khi các hộ nông dân nhờ sự quan tâm của Trung tâm Khuyến nông tỉnh Đồng Nai cũng như Trạm Khuyến nông huyện Trảng Bom, nơi đã hỗ trợ giống, vật tư và kỹ thuật để các nông hộ canh tác, đặc biệt là chương trình hỗ trợ vay vốn 25 triệu đồng/hộ. Ngoài ra, giá cacao liên tục tăng thời gian gần đây cũng là nguyên nhân thu hút người nông dân đầu tư xen canh và mở rộng diện tích. 

Theo ông Nguyễn Viết Thê, Trưởng Trạm Khuyến nông huyện Trảng Bom thì mô hình xen canh cacao ở đây đã được áp dụng nhiều năm nay và phát triển nhanh khoảng 4 năm trở lại đây. Với lợi thế của loài cây này là cho thu hoạch quanh năm, tận dụng diện tích để xen canh với các cây trồng khác bởi tính sinh trưởng tốt trong điều kiện bóng che.

Trong điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu phù hợp, diện tích cacao trên địa bàn huyện Trảng Bom đến nay đã lên tới 79ha. Đặc biệt, loại cây cacao có đặc điểm là càng lớn tuổi thì năng suất trái càng cao. Đây thực sự là một điều tích cực để các hộ nông dân ở Trảng Bom kiên trì với loại cây này và coi việc xen canh cây cacao là một mô hình kinh tế bền vững.

Bón phân đạm xung quanh gốc ca cao.


Được trồng theo đúng hướng dẫn kĩ thuật của Trung tâm khuyến nông Trảng Bom, cây ca cao hiện cho năng suất và chất lượng quả tốt.


Cây cacao có thể trồng xen canh với các loại cây khác trên cùng một diện tích canh tác.


Quả cacao chủ yếu mọc sai ở thân và gốc cây.


Cây cacao sinh trưởng và phát triển tốt cho năng suất thu hoạch trái tươi rất cao, đạt 30 tấn/ha.


Thu hoạch quả cacao tại một gia đình ở huyện Trảng Bom.


Quả cacao được thu hoạch với nhiều màu sắc khác nhau do áp dụng kĩ thuật cấy, ghép.


Hạt cacao trong thân quả sau thu hoạch.


Trung bình hạt cacao khô sẽ có giá dao động từ 26.000 đồng/kg trở lên.


Hạt cacao thu hoạch được sấy khô sử dụng làm nguyên liệu sản xuất chocolate .


Sản xuất chocolate từ nguyên liệu ca cao thu hoạch tại các vùng ở Việt Nam như Trảng Bom tại

công ty Marou Faiseurs de Chocolat ở quận Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh. 

Một trong những yếu tố quan trọng khiến mô hình xen canh cacao được nhân rộng nhanh chóng chính là nhờ đầu ra được đảm bảo, giúp bà con nông dân yên tâm canh tác. Đa số cacao sau thu hoạch đều được bán trái tươi cho Công ty Ca cao Trọng Đức (huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai) và Công ty TNHH Đầu tư phát triển nông nghiệp Nguyên Lộc (thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai). Đây là các doanh nghiệp đặt các điểm thu mua ngay tại câu lạc bộ, tổ hợp tác để thuận tiện việc thu gom cacao tươi về sơ chế xuất khẩu.

Mới thu hoạch mùa thứ hai nhưng 600 cây cacao trồng xen canh với nhiều loại cây ăn trái khác trên diện tích 1ha của gia đình anh Huỳnh Hải (ấp 3, xã Sông Trầu) đã cho thu 10 tấn/năm và dự kiến sẽ tăng năng suất trong nhiều năm tới. Còn mô hình cacao của ông Phạm Văn Lập (ấp An Bình, xã Trung Hòa) lại mang đến năng suất vượt trội. Nhờ sự hỗ trợ giống vật tư và kỹ thuật xây dựng mô hình xen canh cacao với diện tích 0,3ha của địa phương, ông Lập mạnh dạn tự bỏ vốn đầu tư thêm 1,1ha. Kết quả đạt thu được còn hơn cả mong đợi khi sau 4 năm trồng và chăm sóc, hiện nay vườn cacao xen canh với cây điều của ông Lập sinh trưởng, phát triển và cho năng suất thu hoạch trái tươi rất cao, đạt 30 tấn/ha. Với giá 6.000đ/kg trái tươi được Công ty Cacao Trọng Đức cam kết thu mua, mỗi năm gia đình ông thu về khoảng 155 triệu đồng tiền lãi sau khi trừ chi phí sản xuất. Thêm cả nguồn thu từ cây điều, hiệu quả kinh tế trên cùng một diện tích canh tác đã mang lại cho gia đình ông cuộc sống ổn định nhờ việc áp dụng mô hình xen canh cacao.

Hiện Trung tâm tỉnh Khuyến nông Đồng Nai đã tổ chức tập huấn được 70 lớp hướng dẫn kỹ thuật, phòng trị bệnh trên cây cacao cho hơn 2.800 lượt nông dân tham gia. Ngoài ra, nhiều cuộc hội thảo tại các mô hình điển hình về trồng và chăm sóc, thu hoạch cacao cũng thu hút 600 lượt nông dân; tổ chức 12 cuộc tham quan các các điển hình tiên tiến trong và ngoài tỉnh giúp bà con nông dân có cơ hội được học hỏi, tích lũy kinh nghiệm trong quá trình canh tác cacao. Và để hỗ trợ nông dân trồng cây ca cao đạt hiệu quả, vừa qua ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Nai cũng đã biên soạn hoàn tất tài liệu “Quy trình trồng, chăm sóc ca cao xen với cây điều và cây lâm nghiệp” để cấp phát hàng ngàn cuốn cho nông dân áp dụng.

Bài: Nguyễn Vũ Thành Đạt - Ảnh: Thông Hải

Nét Huế ở chợ Quảng Biên

đăng 20:46, 16 thg 8, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Không ồn ào náo nhiệt như những cái chợ khác, chợ Quảng Biên được người ta gọi một cách thân mật là chợ Huế. Trước khi, khu chợ Huế này chỉ nhỏ như một cái chợ cóc mọc dọc quốc lộ 1A, nhưng đó lại là nơi mà khi bước vào, bạn có cảm giác như đang đứng ở một góc chợ Bến Ngự hay chợ An Cựu, bởi lẽ cả người bán lẫn người mua đều nói giọng Huế. 

Chợ Quảng Biên nằm ở xã Quảng Biên, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai là một huyện có rất đông người Huế sinh sống. Vào những năm 80, thực hiện chủ trương chính sách của Nhà nước, người Huế đi kinh tế mới, vào đây họ lập nên những làng mới và nhanh chóng hoà với nhịp sống công nghiệp của Đồng Nai. Những năm sau này, thấy đất lành làm ăn được nên làn sóng di dân tự do vào Đồng Nai cũng khá đông. Người Huế vốn cần cù và chịu khó nên nhiều người đã thành đạt nơi đất khách quê người, đặc biệt vốn xuất thân từ miền đất hiếu học, nên đa phần các gia đình đều tạo điều kiện học hành cho con em mình. 

Những người Huế vào Đồng Nai dù là trước đây hay sau này vẫn luôn giữ được nếp ăn, nếp nghĩ của người chốn Thần kinh - Điều này dễ nhận thấy khi bước chân vào chợ nơi ghi đậm dấu ấn văn hoá cũng như đời sống sinh hoạt của mỗi vùng.
 
Từ những chiếc nón bài thơ, đôi guốc gỗ của xứ Huế: 

“Ai ra xứ Huế mộng mơ 
Mua về chiếc nón bài thơ làm quà”. 


Vẫn chỉ những nguyên liệu là lá, tre, cước cộng thêm một chút khéo léo tỉ mẩn, người Huế đã làm cho chiếc nón vốn chỉ là vật che mưa che nắng trở thành một đề tài bất tận cho thơ ca nhạc, hoạ. Gian hàng nón được đặt một vị trí thật đẹp trong chợ. Những chiếc nón lá được treo bán một cách điệu nghệ kèm với một dãy quai nón từ quai lụa đến quai voan, quai nhung. Có rất nhiều màu song màu chủ đạo vẫn là màu tím: tím hồng, tím xanh, tím trắng, tím than, tím biếc... Có lẽ màu tím muốn nhắc nhở mọi người nhớ về Huế với sắc màu lãng mạn vốn có của nó. 


Vào các shop thời trang bạn hay gặp những đôi quốc gỗ đã được cách điệu, song ở chợ Huế có hẳn một sạp toàn guốc gỗ do chính tay thợ Huế đóng gửi vào. Một chiếc nón bài thơ, một đôi guốc gỗ, cô nữ sinh trường phổ thông trung học Thống Nhất trở nên thanh thoát hơn trong tà áo dài trắng so với các bạn đồng trang đồng lứa. Người Huế là vậy, ăn mặc bao giờ cũng điệu đà đúng cách và họ luôn dạy con cái giữ được nếp nhà. 

...đến hương vị Huế trong các món ăn... 

Đi vào phía Nam, bất cứ nơi nào bạn cũng có thể bắt gặp quán ăn đề chữ "Bún bò Huế" thật to. Nhưng là người Huế, bạn sẽ nhận ra ngay cái vị ngòn ngọt của đường khiến người ăn cảm thấy lơ lớ khó chịu, và cái váng màu vàng đỏ nổi lên phía bên trên kia chỉ là bột điều chứ không phải cái thứ ớt cay đến tha thít của người Huế. Vậy mà vào chợ Huế, không chỉ có món bún bò chính hiệu không thôi, bạn còn được thưởng thức các loại bánh của Huế từ ram ít, bánh lọc, bánh bèo, bánh ú cho đến cả loại bánh lưỡi mèo như cách gọi bánh nậm của một số người thích đùa. Các loại bánh khác có thể làm bằng các phương pháp hiện đại công nghiệp, duy chỉ có bún bò Huế và bánh Huế là trung thành với lối làm tỉ mĩ, thủ công. 


Rời hàng bánh bạn sẽ thấy hàng chè cũng của Huế. Những cái ly trắng muốt nằm cạnh nhau dưới lớp vải lưới trắng để tránh bụi và ruồi. Ở đây, bạn sẽ được thưởng thức chén chè xanh, gợi kỷ niệm về những ngày rằm cúng xôi chè, chén ăn chén để dành đến mốc. Cung cách Huế được đặt vào những chén chè xinh xinh khiến bạn có thể làm một lèo vài chén mà không ngán. Khác với món bánh xèo cuốn rau cải, kinh giới, rau diếp cá chấm nước mắm chua ngọt, ở đây vẫn chấm với nước lèo - một thứ nước chấm đặc biệt của Huế và kèm thêm cái vị chan chát của quả vả. 

Tiếp đó là các gian hàng bán các loại cá khô và mắm, đặc biệt là tôm chua và ruốt Huế. Đi giữa hàng rau, bạn sẽ nhận ra cái mùi quen thuộc của măng chua ở các chợ khác không có. Người Nam nấu canh chua có đủ vị: cay ngọt, chua với các phụ liệu: thơm, gà, giá, đậu que và rau ngổ, còn tô canh chua của Huế chỉ với nước cá và măng chua thôi nhưng sẽ để lại cho bạn hương vị khó quên bởi các ngọt của cá và vị chua thanh thanh của măng. 

Cũng như các chợ khác, chợ Huế cũng đa dạng chủng loại từ trái cây miệt vườn Long Khánh về, gạo thơm chợ Đào, cá biển từ Phan Thiết đưa vào, cá sông từ Vĩnh Cửu đưa sang, cả những con mắm chuồn từ Huế cũng có mặt ở đây khiến cho chợ đáp ứng được mọi nhu cầu của khách. 

Lệ thường ở chợ có sự cạnh tranh gay gắt nhất là cùng bán những mặt hàng cùng chủng loại, song có lẽ ý thức được việc sinh tồn giữa nơi đất khách quê người, nên người bán hàng ở đây rất nhường nhịn nhau trong mua bán. Khi bạn hỏi tiếng một món hàng nào đó, dù hàng mình đã hết hoặc không có, bạn cũng sẽ được tận tình chỉ dẫn. Một điều đặc biệt là phương châm bán hàng ở chợ Huế là “buôn chín bán mười”, nên bạn sẽ không phải mua hớ vì nói thách rất ít. Tâm lý của người mua bao giờ cũng muốn được mua đúng giá và được bớt chút ít. Chợ Huế đã đáp ứng được điều đó nên sức mua ở đây rất mạnh. 

Quê hương là một điều vô cùng thiêng liêng đối với mỗi người, nhưng ý thức việc giữ gìn bản sắc của mỗi miền là điều hoàn toàn không dễ. Giữa thời buổi kinh tế thị trường đầy sôi động, ngôi chợ nhỏ bé này là bảo tàng sống để những thế hệ sau của người Huế xa xứ giữ được cách sống của Huế , quả là một điều đáng trân trọng.

1-10 of 39

Comments