Làng nghề và tập quán của dân cư Đồng Nai

Bài mới

  • Lao xao mùa ngâu chín Trong mâm ngũ quả chưng trên bàn thờ gia tiên ngày tết của nhiều người dân cố cựu ở Biên Hòa, Vĩnh Cửu (tỉnh Đồng Nai), Tân Uyên, Dĩ An ...
    Được đăng 00:44, 20 thg 5, 2016 bởi Pham Hoai Nhan
  • Mùa săn nấm mối Nấm mối là đặc sản do thiên nhiên ban tặng. Mỗi năm, nấm mối chỉ xuất hiện 2 đợt vào giữa tháng 6 và đầu tháng 7, và những “thợ ...
    Được đăng 17:14, 10 thg 5, 2016 bởi Pham Hoai Nhan
  • Kiếm tiền từ trứng kiến Có màu trắng đục, kích cỡ như hạt gạo nếp, giàu chất dinh dưỡng, trứng kiến thường được người nuôi chim, cá ...
    Được đăng 16:38, 9 thg 5, 2016 bởi Pham Hoai Nhan
  • Rộn ràng mùa chem chép Cách nay trên chục năm, trong một lần cùng đồng nghiệp xuống xã Phước An (huyện Nhơn Trạch) để tìm hiểu cơ sở thực tế của câu ca dao Đồng ...
    Được đăng 16:49, 5 thg 5, 2016 bởi Pham Hoai Nhan
  • Lược sử nghề chế biến rượu ở Bến Gỗ Vào cuối thế kỷ 16, đất Đồng Nai còn hoang sơ chưa được khai phá, dân cư thưa thớt, sản xuất thô sơ, trình độ xã hội thấp. Cuộc phân ...
    Được đăng 16:56, 4 thg 5, 2016 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 28. Xem nội dung khác »

Lao xao mùa ngâu chín

đăng 00:44, 20 thg 5, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Trong mâm ngũ quả chưng trên bàn thờ gia tiên ngày tết của nhiều người dân cố cựu ở Biên Hòa, Vĩnh Cửu (tỉnh Đồng Nai), Tân Uyên, Dĩ An (tỉnh Bình Dương) ngoài thứ không thể thiếu là bưởi Tân Triều, còn có một loại trái cây rất được ưa chuộng là ngâu. Cho đến giờ, trong cả nước không ghi nhận được nơi đâu có loại trái này. Ngâu gần như là đặc sản chỉ có ở vùng Đại An (nay là xã Tân An, huyện Vĩnh Cửu). Trái ngâu chín tỏa một mùi thơm đặc trưng và để được lâu ngày không thua kém gì bưởi. Mùi thơm của ngâu trong mâm ngũ quả kết hợp với mùi bông vạn thọ tạo thành hương sắc độc đáo cho cái Tết Nguyên đán của một thời chưa xa lắm trên vùng đất Biên Hòa.

Trái gì lạ quá!

Bà Nguyễn Thị Trung Hiếu, 43 tuổi, nhà ở phường Quang Vinh (TP. Biên Hòa) chuyên nghề bỏ mối bánh kẹo, có chồng người xã Tân An (huyện Vĩnh Cửu) 4 năm nay cũng tham gia vào việc bán trái ngâu tết. Bà mua ngâu tại nhà vườn ở Tân An, dú khí đá rồi chở lên Biên Hòa bán ngay bên lề đường trước nhà mẹ ruột. Bà Trung Hiếu cho biết, ngâu năm nay chín sớm và bán rất được giá (40-45 ngàn đồng/kg, năm rồi chỉ 30-35 ngàn đồng/kg). Là người bán ngâu kém thâm niên nhất, không ít lần phải nghe những nam nữ thanh niên đi chơi ngang qua nhìn đống ngâu chất bên đường, ngừng xe lại hỏi: “Trái gì lạ quá vậy? Và ăn làm sao?”… Ấy vậy, bà Trung Hiếu cũng có khá đông khách hàng là mối quen đặt mua mỗi người 10kg để ngâm rượu, còn lại là khách đến mua ngâu chín đập vỏ ăn tại chỗ. Với số vỏ bỏ lại, bà cân bán cho người sành rượu ngâu với giá trên 200 ngàn đồng/kg, tùy theo việc thu được nhiều ít.

Chùm ngâu còn xanh trái trên cành. 


Mấy năm bán ngâu mùa tết, bà Trung Hiếu có được một vị khách hàng rất đặc biệt với tuổi đời khoảng 70, mái tóc bạc phơ, mỗi ngày ông mua và ăn sống hết 3kg trái ngâu. Hôm nào không đi được, ông cho vợ đến mua và cho biết là ăn ngâu trị đau lưng, nhức mỏi tay chân rất công hiệu.Tôi cũng từng gặp ông Phước ”ruồi”, một thương lái lúa gạo ở Tân An, cho rằng ông khỏe mạnh là nhờ ăn trái ngâu và đã dứt được chứng đau bao tử đã giày vò ông nhiều năm.

Tôi đã quá tuổi lục tuần và cũng may là không dính mấy loại bệnh vừa nêu, mà lại rất thích ăn trái ngâu, kể cả ngâu còn sống nhớt nhớt có vị nhẫn nhẫn, hoặc trái ngâu nướng thơm phức mùi khoai lang lùi, nhưng mê nhất là uống rượu ngâu. Cách chỗ bà Trung Hiếu bán ngâu chừng 100m, phía đầu phố đi bộ chợ đêm Biên Hùng có quán ngâu đã nổi tiếng đến vài mươi năm ỏ Biên Hòa với rượu ngâu pha sôđa đá, nặn tắc cùng chút xíu muối. Thứ cốc-tai ngâu này mà nhắm với món bò tả tơi, bù tọt chiên giòn... có thể nói là ngon thấu trời. Tôi đã từng đưa rất nhiều đồng nghiệp trong Nam ngoài Bắc đến quán này để thưởng thức những món ”lần đầu mới biết”, ai cũng khen và lần nào gặp lại nhau cũng còn nhắc.

Trái ngâu chín đập vỡ đôi. 


Người có bí quyết ngâm rượu ngâu ngon không thua kém gì với các loại rượu ngoại danh tiếng, đến nỗi đem ra đãi nhiều dân nhậu khen nức nở là ông Phan Hùng, Bí thư Chi bộ ấp Bình Ý (xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu), nguyên Trưởng đài Truyền thanh huyện. Suốt gần 30 năm công tác, gần như mỗi ngày ông đều đi ngang qua xã Tân An nên chỉ cần nhìn mấy hàng ngâu bên đường hoặc trong vườn nhà người quen là xác định trúng phóc ”bây giờ tháng mấy”. Không những có kinh nghiệm ”xem ngâu thay lịch”, ông Phan Hùng còn biết cả vườn nhà ai có loại ngâu ngon nhất để chọn mua ngâm rượu. Theo ông, ngâu có đến mấy loại: ngâu sẻ: trái bằng nắm tay, vỏ mỏng, dẻo, ngon; ngâu trâu: trái bự hơn, vỏ dày và cứng. Ngon nhất và cũng hiếm nhất là ngâu giấy: vỏ mỏng, mềm, trái nhỏ và rất thơm. Vỏ ngâu giấy chín vàng còn tươi đem ngâm cho ra loại rượu ngâu thượng hạng. Ông Phan Hùng còn cho biết, cách đây hơn 20 năm, thời ngành mía đường Vĩnh Cửu còn đang thịnh, đến mùa ngâu nhiều ông chủ lò đường mua ngâu giấy đem về bỏ vô chảo mật đường tạo ra một món ăn ”cực ngon” chỉ dùng đãi thượng khách.

Biết đâu nguồn cội

Về xuất xứ của cây ngâu cũng có nhiều luồng thông tin khác nhau. Tìm đến Đại An (nay là xã Tân An, huyện Vĩnh Cửu), nơi duy nhất hiện nay có trồng loại cây này, qua sự giới thiệu của ông Tư Cò (Hồ Minh Quang, Chủ tịch Hội Nông dân xã), tôi gặp ông Lương Văn Năm có vợ là bà Lâm Thị Nữ (Hai Nữ) ở nhà số 463, ấp Bình Chánh là người trồng ngâu nhiều nhất và lâu đời nhất ở đây. Bà Hai Nữ cho biết, bà ngoại của bà là cụ Năm Tú (Nguyễn Thị Bảy, sinh năm 1894, mất năm 1987) là người đầu tiên trồng ngâu ở Đại An. Bà Hai Nữ năm nay 77 tuổi còn quả quyết là ”hồi nhỏ xíu tôi đã biết cây ngâu do ngoại tôi trồng rồi, nhưng hổng biết là trồng lúc nào và kiếm giống ở đâu. Cây ngâu đầu tiên có cả trăm năm tuổi đó cao hơn 30m đã bị đổ ngã năm 2004”.

Có một chuyện cũng rất lạ là những cây ngâu con phát sinh từ rễ cây ngâu cổ thụ này cho trái mỏng vỏ, thơm nồng nàn; còn cũng chính trái ngâu của cây này lấy hạt đem gieo ươm lại cho trái ngâu vỏ dày, cứng ngắc, ruột nhiều xơ và có vị hơi đăng đắng. Do đó dân buôn bán trái cây chuyên nghiệp thường ”bắt mối” trước những nhà vườn có ngâu ngon; trong số đó có tiếng nhất là vườn bà Hai Nữ, ông Tám Tiên, bà Hai Báu, bé Bảnh, Tư Thẳng..

Lần đầu ăn thử ngâu trong ngày tết. 



Trước đây, tôi có biết đến bà Chín Thọ (tên đầy đủ là Lê Thị Thọ, nhà ở Đại An, đã mất cách đây vài năm) với nửa thế kỷ chuyên nghề mua bán trái cây theo thời vụ, biết một cách rành rẻ ngâu nhà nào ngon, dở, trúng thất ra sao. Vào mỗi mùa tết, bà thu gom đến vài thiên (mỗi thiên: 1.200 trái) ngâu loại ngon đem lên Biên Hòa bỏ mối cho các tiệm thuốc Bắc và bán cho khách hàng quen. Ngoài thương lái mua mão, đến mùa ngâu chín, các nhà xứ ở vùng Hố Nai, mấy quán nhậu đặc sản còn đưa xe về tận vườn chọn mua ngâu ngon đem về ngâm rượu.


“Am hiểu về ngâu đến như vậy, thế nhưng khi hỏi về nguồn gốc cây ngâu ở Đại An, ông Phan Hùng cũng như nhiều lão nông tri điền khác ở huyện Vĩnh Cửu đều nói một cách khá mơ hồ: Nghe đâu mấy ông cha ở nhà thờ đem giống ở đâu đó về trồng!”.

 Gặp chủ vườn Trần Văn Thạch, một ”thổ địa” đất Đại An, có vợ chuyên mua bán trái cây nên ông chẳng những thông thạo mọi ngóc ngách địa bàn, mà còn được cập nhật thường xuyên về giá cả nông sản. Ông Thạch cho biết: ”Ngâu năm nay chín sớm, do thời tiết có một số trái ngâu bị bệnh thúi đầu, nhưng không nhiều lắm. Ngâu năm nay trúng, phần lớn ngâu thu hoạch được đều ngon và bán được giá. ”Nghề” ngâu này cực nhất là khâu thu hoạch, do hầu hết cây ngâu ở Đại An đã già cỗi và cao, trái ngâu lại mọc ở đầu cành nhánh có gai nhọn và dài nên rất khó bẻ. Trước đây, dân bẻ ngâu thiện chiến lắm một ngày leo bẻ cũng không tới một thiên trái. Nay số người bẻ ngâu giỏi này không còn nữa. Khoảng 3 năm trước, đến mùa kiếm không ra người bẻ ngâu, chủ vườn mướn được người bẻ thì bán ngâu trả tiền công bẻ tính ra không đủ sở hụi. Hai mùa ngâu gần đây nhờ ngâu có giá, thương lái đến vườn mua mão thường đưa theo người bẻ. Dân bẻ ngâu trẻ dùng lồng bẻ từng trái, chứ không dùng sào tre đập, giật như lớp đàn anh trước đây, tuy thu hoạch có chậm hơn, nhưng bảo đảm cho trái ngâu không bị bể, dập”.


Chiều 29 tết rảo một vòng từ Thiện Tân (huyện Vĩnh Cửu) về Biên Hòa, tôi thấy bưởi, ngâu bày bán hai bên đường 768 khá nhiều. Hỏi giá, các điểm bán ngâu ở Bình Hòa, Bửu Long đều đòi 50 ngàn đồng/kg. Nghe tôi chê mắc, mấy bà bán ngâu liền nói: ”Về chợ Biên Hòa mua thử đi. Bữa nay họ bán một ký phải từ 62-65 ngàn đồng!”. 

Mùng 6 tết vừa rồi, đến ấp Bình Ý tôi lại bất chợt nghe thoang thoảng mùi thơm của ngâu, khó lầm lẫn với bất cứ loại trái cây nào khác. Hỏi ra mới biết, ngoài Tân An, chỉ ở Bình Ý là có ngâu, nhưng chỉ còn một cây duy nhất trồng khoảng 20 năm ở vườn nhà ông Phó trưởng ban ấp Ngô Văn Dũng.

Bùi Thuận

Mùa săn nấm mối

đăng 17:14, 10 thg 5, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Nấm mối là đặc sản do thiên nhiên ban tặng. Mỗi năm, nấm mối chỉ xuất hiện 2 đợt vào giữa tháng 6 và đầu tháng 7, và những “thợ săn” phải rất nhanh nhạy, dạn dày kinh nghiệm mới thu hoạch được loại đặc sản đắt tiền này.

Nhiều năm qua, nấm mối đã trở thành món đặc sản quý hiếm được nhiều người ưa thích. Do mọc tự nhiên trong các vườn cây nên việc tìm kiếm khá công phu. Vào mùa, rất nhiều người rủ nhau đi săn nấm mối và rỉ tai nhau khá nhiều chuyện ly kì xung quanh việc tìm nấm mối.

Gian nan tìm đặc sản

Chúng tôi tìm đến nhà ông Đinh Văn Hùng ở ấp 4, xã Bình Sơn (huyện Long Thành) - người có thâm niên hơn nửa thế kỷ săn tìm nấm mối. Tiếp chúng tôi là lão nông dáng người cao gầy, gương mặt khắc khổ đầy những nếp nhăn, dường như ông đã trải qua cuộc sống khá vất vả. Hỏi về chuyện tìm nấm mối, ông Hùng nói: “Năm nay mưa ít, nấm mối có trễ, tôi đã đi tìm 4-5 đêm liền nhưng chưa gặp được ổ nấm mối nào. Người nào may mắn cũng chỉ tìm được ổ nhỏ khoảng 1-2 kg”.

Cả ngày chị Nguyễn Xuân Thảo, ấp 10, xã Bình Sơn (huyện Long Thành) mua gom được hơn 1kg nấm mối. 


Ông Hùng nói mình đã biết đi tìm nấm mối từ khi 6 tuổi, nay đã qua tuổi 59, ông vẫn theo nghề. Cả mùa nấm, năm nào ít ông cũng tìm được vài chục kg, năm nhiều thì hơn 1 tạ. Dần dần, việc tìm nấm mối trở thành niềm đam mê của ông Hùng. Từ vùng Long Thành đến TX.Long Khánh, nơi nào thường mọc nấm mối thì đều ghi dấu chân ông. Giới “săn nấm” chuyên nghiệp hầu hết đều biết tên ông.

Ông Lê Đình Phán, Phó chủ tịch Hội Nông dân xã Bình Sơn (huyện Long Thành), cho biết: “Phải là những người đam mê mới có thể săn tìm nấm mối vì phải đi tìm vào nửa đêm, từ 1-4 giờ sáng. Săn nấm còn phải lội bộ từ vườn này qua các vườn khác giữa đêm tối, khá nguy hiểm”.

Vậy mà những người mê tìm nấm mối vẫn cứ háo hức đợi vào mùa rủ nhau đi. Mỗi đêm đi tìm nấm, họ phải đi bộ 30-40km. Có người săn được rất nhiều, nhưng cũng có người cả mùa nấm mối không tìm được ổ nấm nào. Nhiều lời đồn thổi cho rằng, phải có duyên mới gặp được nấm mối. Những người săn nấm còn kể lại giai thoại rằng có người bỏ xe trong lô cao su, mải miết đi tìm hết từ vùng này qua vùng khác mà không hề thấy tai nấm nào. Gần sáng, mệt mỏi thất vọng quay về thì ngay cạnh nơi để xe mọc lên một ổ nấm mối lớn. Đào nấm cũng phải có nghề, phải dùng một đoạn tre vót nhọn, nếu dùng dao hay cuốc thì sang năm, nấm mối sẽ không mọc lại.

Săn nấm cũng phải theo “luật”

Nấm mối là quà tặng từ thiên nhiên, vậy nên giới tìm nấm chuyên nghiệp tự đặt ra “luật bất thành văn” là ai nhìn thấy ổ nấm mối trước thì ổ nấm là của người đó, những người nhìn thấy sau không được tranh chấp.

Nấm mối là đặc sản đắt hàng với giá bán hàng trăm ngàn đồng/kg. 


Với kinh nghiệm nhiều năm tìm nấm, ông Hùng chia sẻ: “Nấm mối nhanh mọc nhưng cũng chóng tàn. Thường mọc 1-3 giờ sáng và khi trời sáng là tàn. Loại nấm này phải đi tìm ban đêm là vì khi gặp ánh đèn pin, nấm phát sáng rất dễ thấy”. Theo đó, nấm mối hay mọc trong các lô cao su mới bắt đầu cạo mủ, các vườn chôm chôm và điều.

Ông Nguyễn Văn Hòa (xã Bình An, huyện Long Thành) cho biết: “Tôi tìm nấm mối nhiều năm nên có thể phân biệt được thời gian nấm mọc. Vào mùa, nấm mối mọc ở đất đen trước, rồi đến đất cát và sau cùng đất đỏ. Nấm mối mọc ở đất đen, đất cát trông đẹp nhưng mùi vị không ngon bằng nấm mọc ở đất đỏ”. Có lẽ vì vậy mà giới sành ăn nấm mối thường chọn loại nấm mọc trên đất đỏ.
Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, nấm mối là loại nấm chỉ mọc trong tự nhiên, không thể nhân giống. Nguồn gốc nấm mối từ một loài thực vật cộng sinh lẫn trong đất, được con mối ăn vào sau đó nhả ra theo tuyến nước bọt và mọc thành nấm mối. Nấm mối sau khi chế biến có mùi thơm, vị dai, giòn và rất ngọt được nhiều người ưa thích.


Giá nấm mối đầu mùa hiện khá cao, từ 350-400 ngàn đồng/kg. “Dịp này nhiều thương lái ở Biên Hòa, TP. Hồ Chí Minh về đặt mua nấm mối với giá cao nhưng chưa có hàng. Thi thoảng mới có người tìm được nhưng chỉ trên dưới 1kg. Năm trước vào dịp này, có ngày tôi thâu vào cả hơn 1 tạ nấm” - chị Nguyễn Xuân Thảo, một đầu mối gom nấm ở ấp 10, xã Bình Sơn (huyện Long Thành) nói.

Theo các đầu mối chuyên gom nấm, nấm mối có nhiều nhất ở vùng Bình Sơn, Bình An (huyện Long Thành) còn các nơi khác cũng có nhưng số lượng không nhiều.

Hương Giang

Kiếm tiền từ trứng kiến

đăng 16:38, 9 thg 5, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Có màu trắng đục, kích cỡ như hạt gạo nếp, giàu chất dinh dưỡng, trứng kiến thường được người nuôi chim, cá cảnh tìm mua làm thức ăn cho chim, cá.

Đi lùng trứng kiến

Mùa mưa là thời điểm loài kiến rủ nhau kéo đàn xây tổ trên khắp cành cây, ngọn lá. Những người săn trứng kiến phải phá lớp vỏ lá cây, hoặc mùn khô bên ngoài mới lấy được những hạt trứng kiến trắng, tròn như hạt gạo nếp. Công việc săn lùng trứng kiến khá thú vị, khiến chúng tôi cũng bị cuốn theo bước chân của những người săn trứng kiến vào những vạt rừng sâu.

Người lấy trứng kiến phải dùng vợt đưa vào dưới tổ rồi lay nhẹ cành cây để trứng rơi vào bên trong. 


Dường như nơi nào cây cối rậm rạp, ít có sự tác động của con người, thì nơi ấy loài kiến càng sinh sôi mạnh mẽ. Cây có tán lá rộng 7-8m có thể chứa đến hơn 10 tổ kiến, đeo lủng lẳng khắp các cành cây. Những “pháo đài” bất khả xâm phạm của loài kiến khiến không con vật nào dám bén mảng, phá đám.

“Thú nuôi chim, cá cảnh rầm rộ đã sinh ra cái nghề lạ lẫm này. Kiến có nhiều loại lắm, nhưng tôi thường gọi chung là kiến vàng và đen. Loại kiến vàng thường làm tổ trên cây, còn kiến đen làm tổ và sống dưới đất, gốc cây, nhưng hễ trời có mưa lớn, đất ủ nước lâu thì chúng sẽ “di cư” lên trên. Tổ kiến đen làm chắc lắm, thường bằng mùn và lá cây khô, nên lấy trứng hơi khó” - anh Phạm Ngọc Tuấn (28 tuổi, ngụ xã Quang Trung, huyện Thống Nhất) cho hay.

Chui vào khu vực Soklu đất đá lởm chởm có những vườn chuối xanh tốt che hết tầm mắt người, chúng tôi bày tỏ băn khoăn với anh Tuấn: “Toàn chuối thế này thì kiếm đâu ra tổ kiến?”. Đôi chân vẫn thoăn thoắt bước nhanh qua những bậc đá, anh Tuấn lên tiếng: “Ở mé ngoài không có cây lớn, phải đi sâu vài cây số nữa mới đến “thủ phủ” của loài kiến”.

Cuốc bộ chừng hơn 1km nữa, thấy một tổ kiến vàng khá to đang treo lủng lẳng trên cành cây, anh Tuấn dùng cây vợt bằng vải (hoặc lưới) miệng rộng khoảng 20-30cm đưa từ từ lên vị trí lũ kiến đang ở. Thủng thẳng đứng dưới đất, anh Tuấn chỉ cần lắc nhẹ cây vợt vào tổ là kiến kéo nhau bỏ đi hết. Sau khi dụ chúng ra khỏi tổ, anh Tuấn chọc một khe nhỏ bằng nắm tay rồi lắc thật mạnh. Cứ thế, chỉ khoảng vài phút, trứng kiến bắt đầu rụng khỏi tổ, rơi hết vào cây vợt anh Tuấn đang hứng sẵn ở phía dưới.

Nếu như chỉ nghe kể lại thì công việc này giản đơn, ai cũng có thể làm được, nhưng các thợ săn kiến phải rất vất vả, chuyện bị kiến đốt bỏng rát, leo cây không may bị ngã thường như cơm bữa. Kiến cũng như ong, rất hung dữ, mỗi khi có kẻ lạ xâm phạm đến tổ, chúng túa ra tấn công.

“Lấy trứng xong, công đoạn làm sạch là quan trọng nhất. Trong vợt, kiến thợ còn nhiều lắm, dùng tay nhặt thì chúng cắn, mà lắc mạnh chúng chẳng đi, có khi trứng lại giập nát. Phải cầm lá cây cho kiến bám vào và đưa ra xa, rũ sạch để kiến không ở lại với trứng nữa. Nhưng như vậy chưa đủ, khi mang về, trứng kiến được đổ vào trong chậu nước to. Lúc đó, trứng kiến sẽ chìm xuống đáy, rồi gạn nước. Bằng cách này, ta sẽ có một mẻ trứng sạch, mà trứng không bị giập” - anh Tuấn cho biết.

Để kiến nhanh hồi sinh

Không chọn những vạt rừng có cây lớn và rậm rạp, anh Lê Văn Lâm (ngụ xã Long Đức, huyện Long Thành) thường vào những vườn nhãn, chôm chôm bỏ hoang để săn trứng kiến. Các vườn cây bị bỏ hoang lâu ngày, không có hơi người và mùi thuốc trừ sâu, nên loài kiến vàng ở đây đẻ trứng to hơn nơi khác. Trứng nào cũng bóng nhẫy và mập mạp, trên một thân cây có đến 2-3 tổ trứng kiến to bằng cái nón lá.

Anh Lâm chia sẻ: “Hễ thấy bầy kiến tha lá khô, tha rác lên cây làm tổ ở vị trí nào thì theo dõi, đợi đến khi thấy chắc ăn là thu hoạch. Chúng tôi chỉ bắt lấy trứng, chứ không hề bắt những con kiến trưởng thành. Làm nghề này, phải biết duy trì sự sống cho kiến thì mới có nguồn trứng thu hoạch lâu dài. Chứ bắt theo kiểu tận diệt, chẳng bao lâu nguồn kiến sẽ bị tuyệt chủng. Nhiều người lấy trứng kiến chặt luôn đoạn cây có tổ kiến, nhưng tôi chỉ cần chọc dưới tổ là có thể lấy trứng mà không sợ phá nơi cư trú của kiến”.

Dùng lá cây để dụ kiến ra khỏi trứng vừa thu hoạch. 


Anh Võ Anh Tuấn (ngụ xã Bình Hòa, huyện Vĩnh Cửu) cho biết, làm nghề này chỉ có vài người theo, dù thu nhập đem lại khá cao. Mỗi ngày, chỉ cần bỏ ra 5-6 tiếng đồng hồ, chịu khó cuốc bộ là anh có thể bỏ túi số tiền 200 - 300 ngàn đồng. “Trứng kiến đem bỏ cho các cửa tiệm bán cá, chim cảnh ở Biên Hòa. Vì ít ai làm nghề này, nên tôi cứ thủng thẳng mà làm. Hết vườn này, tôi chuyển qua nơi khác mà không lo hết trứng kiến, loài này sinh sôi nhanh lắm. Khi thu hoạch, mình chỉ đừng phá tổ và để lại ít trứng để chúng nở cho mùa sau là được” - anh Tuấn nói.

Chìa cánh tay và bàn chân lấm tấm những nốt đỏ như muỗi đốt của mình do bị kiến cắn, chúng tôi hỏi anh Tuấn có cách nào để không bị kiến tấn công. Anh chậm chạp gạt lũ kiến khỏi người mình, rồi buông lời: “Cứ bình tĩnh và nhẹ nhàng xua chúng đi. Làm công việc này không thể vội vàng, mạnh bạo được, càng nhẹ nhàng thì kiến càng dễ bỏ đi. Với người khác thì không biết, chứ tôi không bao giờ dùng thuốc xịt để diệt kiến mà lấy trứng. Mình phải để kiến sinh sôi, đồng thời không làm ảnh hưởng đến chất lượng trứng. Chim, cá ăn vào mà bị làm sao thì ai mua trứng kiến của mình nữa”.

Theo những người bắt kiến, phải mất cả tháng tổ kiến mới hồi sinh và tạo ra lứa trứng mới. Vậy nên, việc thu hoạch được một mẻ trứng kiến ngon còn tùy thuộc vào kinh nghiệm của người lấy. Họ phải nắm được quy luật này để canh thời gian quay lại tổ kiến. Nếu tổ còn non, thì không thu được trứng; còn nếu để tổ quá già, trứng nở gần hết thì chỉ lấy mỗi kiến con.

Võ Nguyên

Rộn ràng mùa chem chép

đăng 16:48, 5 thg 5, 2016 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 16:49, 5 thg 5, 2016 ]

Cách nay trên chục năm, trong một lần cùng đồng nghiệp xuống xã Phước An (huyện Nhơn Trạch) để tìm hiểu cơ sở thực tế của câu ca dao Đồng Nai: “Cá buôi, sò huyết Phước An/Gạo thơm Phước Khánh, tôm càng Tam An”… tôi được nghe ông Tư Nhu (Hồ Văn Nhu, Chủ tịch Hội Nông dân xã lúc bấy giờ, nay đã nghỉ hưu) nói một câu mà tôi cứ nhớ hoài: “Hình như ông trời thương dân vùng này nên mùa điều chín cũng là mùa chem chép ngon nhất. Chem chép thời điểm này, bắt được con có vỏ cỡ nào thì ruột gần cỡ nấy. Nấu canh chem chép cứ lựa trái điều già (đào lộn hột), giòn mà không chát để nấu thì không cần nêm nếm thêm gia vị gì cả. Cứ vậy mà ăn đến no cũng không muốn thôi!”.

* Món… “trời thương”!


Liền sau đó tôi được ông Ba Trá (Lý Văn Mười) ở ấp Vũng Gấm là một “thổ địa” của vùng sông nước Phước An, lòng chảo Nhơn Trạch tự tay nấu đãi món canh chem chép nấu điều. Nước canh nóng hổi, đậm đà vị ngọt, thơm, béo của thịt chem chép hòa cùng vị chua chua, chát chát của trái điều già tạo ra một hương vị thật độc đáo. Nước canh này chan vào bún, mới vừa húp mấy muỗng đã túa mồ hôi. Gắp vài con chem chép trắng ngần chấm vào dĩa nước mắm sống dằm ớt hiểm hườm hườm, đưa vào miệng nhai lại tiếp tục ứa mồ hôi, vì... quá đã. Ít có món nào ăn trong mùa nóng mà ngon đến không biết no như canh bún chem chép nấu với điều.


Mua bán chem chép ở vựa Tư Lớn. ảnh: B.Thuận


Vợ chồng ông Ba Trá là một trong những đầu bếp khéo tay “chuyên trị” chem chép nấu điều, chem chép hấp cuốn bánh tráng... Ông Ba Trá cho rằng: “Cái món canh chem chép nấu điều ở đây không nhà nào mà hổng nấu được và nấu ngon, vì ông trời thương cho dân Phước An cái “lộc” là hễ đến mùa điều thì chem chép mập, ngon. Bí quyết là ở chỗ nấu canh nên chọn trái điều già, chớ điều chín quá thịt nhão lại mất đi vị chát, hổng ngon!”.

Cũng như nhiều người dân sống “hai chân” (làm vườn trên đất giồng kết hợp đánh bắt thủy sản) hoặc dân chuyên nghề hạ bạc ở vùng ven rừng Sác này, những năm gần đây, ông Ba Trá cải tiến việc nấu món truyền thống của vùng sông nước này trở nên hiện đại hơn bằng cái lẩu điện bóng loáng, sạch sẽ, gọn gàng, đặt một cách trang trọng trên bàn làm cho việc thưởng thức món lẩu chem chép nấu điều luôn được nóng sốt, đậm đà, hấp dẫn. Sau đó, tôi đã rất nhiều lần về lại Phước An vào mùa điều để thưởng thức cái món... ”trời thương” này với nỗi thèm nhớ thật sự, dù sau này số phận con chem chép ở Phước An trở nên long đong, lận đận và có lúc gần như tuyệt tích do nạn ô nhiễm môi trường sinh thái quá trầm trọng. Do vậy, hương vị món “trời thương” này phôi pha nhiều lắm.

Hình như người dân khắp vùng Phước An, Long Thọ đều rất mê và biết nấu món này. Nhưng cũng lạ, ở 2 xã nằm trong hệ thống sông rạch thông thương với rừng ngập mặn có khá nhiều các quán đặc sản “nghêu sò ốc hến”, trong đó quán “Bác chưa say” (chiết tự từ tên ông chủ Tám Đúng) là lâu đời và có tiếng ở Phước An, quán Ba Lai ở Long Thọ... đều không có bán món lẩu chem chép nấu điều, trong khi các món chem chép nướng mỡ hành, chem chép nướng chấm muối tiêu chanh, chem chép hấp rau răm... thì quán nào cũng có. Tôi cũng đã tò mò gõ vào Google thì thấy nhiều câu hỏi và cãi nhau loạn xạ quanh chuyện “chem chép là con gì?”, nhưng cũng đọc được mấy ý kiến khen nức nở món chem chép nướng mỡ hành. Có lẽ món canh chem chép nấu điều bình dân quá, lại mang tính thời vụ nên các quán không nghĩ đến việc khai thác kinh doanh.

* Thất điều nhiều chem chép

Mùa điều năm nay, tôi trở lại Phước An vào giữa tháng 3, lọt vào những ngày trời nắng như đổ lửa, ngồi trong nhà mà nhiệt độ đã 38 độ C. Ông Nguyễn Việt Lâm, Chủ tịch Hội Nông dân xã Phước An, báo cho biết một thông tin có vui mà có cái cũng không vui. Đó là chem chép năm nay nhiều, lại bán được giá nên bà con kéo nhau đi đào chem chép đông lắm. Còn cây điều thì giảm mạnh cả về diện tích lẫn năng suất, vài năm gần đây hầu như vườn điều nào trong xã cũng đều bị chặt hạ, tém dẹp bớt để chuyển sang trồng tràm hứa hẹn có thu nhập cao hơn. Nhà nào cũng chỉ để lại chừng một vài cây trước nhà để có bóng mát và trái ăn chơi lai rai.


Nồi lẩu chem chép nấu điều.


Đến nhà nông dân cố cựu Nguyễn Văn Năm, người duy nhất còn giữ lại vườn điều rộng trên 1,2 hécta với phần lớn là giống điều cao sản nằm trên mảnh đất giồng khô cằn ở ấp Quới Thạnh, ông vui vẻ cho biết: “Điều cao sản trồng là để lấy hột, còn để ăn với chem chép phải là điều giống cũ, trái to, hột nhỏ mới ngon. Nên khi chuyển vườn điều sang giống mới là loại trái chùm nhiều hột to, tôi vẫn để lại vài cây điều bản địa để hái trái cúng đình và dành để ăn sống, nấu canh chem chép!”.

Nghe theo lời mách bảo của người dân Phước An, là “muốn biết cụ thể tình hình thu hoạch chem chép thất, trúng ra sao cứ hỏi mấy chủ vựa thu mua thủy hải sản”, tôi tìm đến vựa Tư Lớn ở ấp Bàu Bông, do bà Nguyễn Thị Lớn làm chủ. Người đàn bà 57 tuổi đã có hơn 15 năm chuyên nghề mua bán thủy hải sản sốt sắng xác nhận: “Đúng là 2 năm nay chem chép được mùa. Đặc biệt là năm nay chem chép rộ, dân đi đào chem chép đông lắm. Được mùa mà cũng được giá. Trời nắng thì chem chép ngon, thịt ngọt mà chắc. Trời đổ mưa xuống thì chem chép ốp, thịt lạt nhách, ăn hết ngon”.


3 ấp: Vũng Gấm, Bà Trường và Bàu Bông là nơi có dân sống nghề đào chem chép nhiều nhất trong xã Phước An, nên cũng có đến hàng chục vựa thu mua chem chép, phần lớn là cung cấp cho thị trường TP.Hồ Chí Minh. Tại vựa bà Tư Lớn, bán ra 1kg chem chép loại 1 (lớn nhất): 50 ngàn đồng, loại 2: 40 ngàn đồng, loại 3: 30-35 ngàn đồng.


Cả một vùng ngập mặn thuộc lưu vực sông Thị Vải, như: Bà Hào, Ba Gioi, ngọn Bát, ngọn Ruột Ngựa... từ sau khi Vedan ngừng xả nước thải đã có chem chép trở lại, nên cũng xuất hiện thêm một dịch vụ mới là dùng ghe máy chở người đi đào chem chép. Người đầu tiên sắm ghe máy làm dịch vụ này là anh Huỳnh Văn Dũng ở ấp Bàu Bông. Ghe anh Dũng chở được 15 người, thu mỗi người 15 ngàn đồng cho một chuyến đi. Sau khi rải khách xuống địa điểm họ yêu cầu, anh bèn tranh thủ đào chem chép, bắt đồm độp. Nước bắt đầu lớn, anh thu quân và đứng ra cân toàn bộ số chem chép của người đi đào được với giá sa cạ là 30 ngàn đồng/kg. Chở số chem chép thu mua và tự đào được về, anh lựa ra theo từng loại để bán lại cho vựa mối. Một số người ở Vũng Gấm, Bà Trường và xã Long Thọ thấy cách làm này ngon ăn liền sắm ghe làm theo...

Trả lời câu hỏi của tôi là có chừng bao nhiêu người ở Phước An tham gia và sống với công việc đào chem chép, ông Nguyễn Việt Lâm lắc đầu chịu. Vậy mà qua Long Thọ gặp ông Trần Tiến Nhạn, Chủ tịch Hội Nông dân xã, hào hứng thông báo: “Mùa chem chép năm nay được lắm, có những ngày rộ, cả xã Long Thọ có đến 300-400 người, phần lớn là phụ nữ kéo nhau đi đào chem chép. Còn bình thường có chừng 150 người, trong đó rất nhiều là lao động ở các công ty quay trở lại làm nghề đào chem chép chuyên nghiệp. Bà con sống nghề đào chem chép ở Long Thọ từng bị điêu đứng, khổ sở vì nạn nước thải làm ô nhiễm môi trường, hủy hoại nguồn lợi thủy sản phong phú này. Chỉ sau khi Công ty Vedan ngưng xả thải, con chem chép rồi cả vộp, hến cùng nhiều loại cá, tôm có trở lại. 2 năm nay thì chem chép rộ nhiều, người đào chem chép có thu nhập bình quân từ 250-300 ngàn đồng/ngày nên chúng tôi cũng rất mừng!”.

Bùi Thuận

Lược sử nghề chế biến rượu ở Bến Gỗ

đăng 16:56, 4 thg 5, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Vào cuối thế kỷ 16, đất Đồng Nai còn hoang sơ chưa được khai phá, dân cư thưa thớt, sản xuất thô sơ, trình độ xã hội thấp. Cuộc phân tranh Trịnh Nguyễn làm cho đời sống nhân dân lầm than cơ cực đã tạo ra làn sống di cư từ miền Thuận Quãng vào Đồng Nai sinh sống, sau đó vào năm Kỉ Mùi (1679) nhà Minh ở Trung Quốc sụp đổ, tổng binh Trần Thượng Xuyên không khuất phục nhà Thanh đã đem chiến thuyền, binh lính và gia quyến đến xin thuần phục chúa Nguyễn ở Thuận Hóa. Chúa Nguyễn đã thu nhận họ và cho vào khai khẩn, mở mang vùng đất phương nam (Đồng Nai). Cuộc di cư của người Việt và người Hoa vào đất phương nam (Đồng Nai) đầu tiên định cư sinh sống sản xuất và buôn bán ở Bến Gỗ (nay thuộc xã An Hòa - huyện Long Thành - tỉnh Đồng Nai). Dần dần Cù Lao Phố có vị trí thuận lợi hơn cho việc buôn bán nên ngày càng phồn thịnh và trở thành trung tâm thương mại của cả vùng Nam bộ và Bến Gỗ trở thành nơi buôn bán vệ tinh của Cù Lao Phố với việc buôn bán gỗ, tre nứa từ rừng đi khắp xứ Biên hòa, Gia định. Vì vậy có thể nhận định rằng, làng Bến Gỗ được hình thành trên 300 năm cùng với các ngành nghề xuất hiện từ thời gian đó, trong đó có nghề chế biến rượu.

Rượu trắng Bến Gỗ


Xuất phát từ phong tục, tập quán, văn hóa và nhu cầu mưu sinh cuộc sống, nghề chế biến rượu ở làng Bến Gỗ đã được hình thành như đã nêu (khoảng cuối thế kỷ 16). Bằng những kinh nghiệm với những nguyên liệu thiên nhiên kết hợp với những bí quyết tinh hoa và sự cần cù chịu thương chịu khó của người dân làng Bến Gỗ đã tạo ra những giọt rượu thơm ngon tinh khiết, không chỉ nức tiếng ở địa phương mà còn lan rộng đến các vùng lân cận, tạo nên một danh hiệu đi vào lịch sử của đất Đồng Nai: “Rượu Bến Gỗ”. Tuy nghề chế biến rượu ở làng Bến Gỗ cũng có những bước thăng trầm theo dòng lịch sử, trải qua nhiều giai đoạn biến động của lịch sử nhưng người dân ở làng Bến Gỗ vẫn gìn giữ được những nét đặc trưng truyền thống về nghề chế biến rượu của tổ tiên để lại.

Cùng với những điều kiện thuận lợi ở địa phương sẵn có, hưởng ứng và thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về việc phát triển và khôi phục lại các ngành nghề truyền thống ở địa phương và hướng sản phẩm (rượu Bến Gỗ) của địa phương ra thị trường Quốc tế trong thời kỳ hội nhập.... Trên cơ sở đó, Đảng ủy, UBND xã, các ngành, các cấp trong tỉnh đã tạo điều kiện và hỗ trợ cho người dân ở đây (xã An Hòa) thành lập một tổ chức nhằm để khôi phục nghề, phát triển nghề truyền thống và gìn giữ danh hiệu từ xưa để lại với tên gọi là Hợp tác xã Bến Gỗ.

Rượu nếp than Bến Gỗ


Hợp tác xã Bến Gỗ được thành lập vào năm 2007, với khoảng 50 xã viên tham gia góp vốn và làm việc cho Hợp tác xã, đa số là dân địa phương. Hiện nay do mới đi vào giai đoạn sản xuất thử nghiệm, do đó sản phẩm chỉ mới tiêu thụ thị trường trong tỉnh, bình quân một ngày Hợp tác xã đưa ra thị trường tiêu thụ khoảng từ 800 chai đến 1.000 chai (loại 500 ml/chai) với giá bán lẻ khoảng 38.000 đồng/ chai.

Với một qui trình sản xuất nghiêm ngặt chặt chẽ từ khâu chọn lựa nguyên liệu cho đến công đoạn chế biến và cho ra thành phẩm, được kiểm tra giám sát theo dõi của các kỹ sư khoa hóa thực phẩm của Trường Đại Học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh trước khi đưa sản phẩm đi kiểm tra tại Trung tâm đo lường chất lượng sản phẩm tỉnh Đồng Nai và sau đó mới xuất ra thị trường tiêu thụ. Sản phẩm rượu Bến Gỗ rất đa dạng và phong phú về hình thức, kiểu dáng. Thành phần chính của rượu Bến Gỗ được làm từ gạo, nếp, nước sạch đã được lọc kỹ và xử lý ủ men theo tiêu chuẩn của qui trình sản xuất, vì thế rượu Bến Gỗ đảm bảo được hương vị thơm ngon tinh khiết đặc biệt là không có cồn công nghiệp, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng.

Theo ông Sang (Chủ nhiệm HTX) cho biết, về cách thức chế biến rượu hiện nay so với cách chế biến rượu thời xưa cơ bản là giống nhau, chỉ khác nhau về thiết bị sản xuất, các vật liệu dùng trong quá trình chế biến rượu và việc áp dụng các tiến bộ khoa học để kiểm tra, phân tích các thành phần trong rượu nhưng không làm ảnh hưởng đến mùi vị, hương thơm đặc trưng của rượu Bến Gỗ.

Theo khoa học đã chứng minh, rượu có tác dụng hữu ích cho sức khỏe (nếu chúng ta biết cách dùng điều độ), rượu còn dùng để ngâm các loại thuốc nam, bắc để bồi bổ sức khỏe và chửa các bệnh trong dân gian..., ngoài ra rượu còn dùng trong các hoạt động văn hóa mang tính truyền thống dân tộc (Cưới, hỏi, cúng đình, cúng miểu...). 

Rượu trong dân gian nông thôn phải nói đến Long An có rượu Gò Đen, Bà Rịa có rượu Hòa Long thì rượu đế Bến Gỗ cũng nổi tiếng xứ Đồng Nai. Việc khôi phục một thương hiệu rượu đế có uy tín với qui trình sản xuất chặt chẽ, ổn định về chất lượng và kiểu dáng công nghiệp trong giai đoạn này, không chỉ để giữ vững danh tiếng cho Rượu đế Bến Gỗ mà còn góp phần vật chất vào kỷ niệm Biên Hòa - Đồng Nai 310 năm.

TTKC Đồng Nai

Nghề đúc gang ở Thạnh Phú

đăng 20:41, 11 thg 3, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Hơn 200 năm nay, những lò đúc ở làng nghề đúc gang Thạnh Phú luôn đỏ lửa là minh chứng cho sức sống của một làng nghề truyền thống trên vùng đất Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

Nghề đúc gang tại xã Thạnh Phú (trước đây là làng Bình Thạnh thuộc tổng Phước Vĩnh Hạ) được ông tổ nghề tên là Đào Văn Tham truyền lại qua bao thế hệ. Hàng năm, cứ đến ngày 2 tháng 2 âm lịch, các nghệ nhân và những thành viên của làng nghề lại tập trung tại nhà thờ tổ để cúng giỗ và ôn lại truyền thống làng nghề. Chỉ với 1 đôi bễ thổi lửa, 1 lò nấu gang, một số khuôn đất sét, nhiên liệu dùng để đốt lò nấu gang là than gỗ, ông tổ họ Đào đã làm ra những sản phẩm gang đầu tiên để hình thành nên làng nghề. Những sản phẩm gang Thạnh Phú ban đầu đều gắn với cuộc sống của người dân nơi đây như: lưỡi cày, lưỡi mai, nồi gang, chảo gang… 

Theo thời gian, nghề đúc gang Thạnh Phú ngày càng phát triển và lan rộng sang các làng bên như Tân Phong, Bình Thành, Bình Lợi, Bình Ý… với hàng trăm lò hàng ngày luôn đỏ lửa. Qua nhiều thế hệ, nghề truyền thống đúc gang được gìn giữ và ngày càng phát huy được bản sắc của mình với các sản phẩm gang đặc trưng. Đây cũng là nghề mang lại nguồn thu nhập chính của một bộ phận lớn dân cư ở đây.

Sắt phế thải, nguyên liệu sử dụng để nấu gang.


Đúc khuôn, một công đoạn rất quan trọng trong sản xuất gang.


Công đoạn làm khuôn đổ gang.


Đặt khuôn.


Đổ gang đã nóng chảy vào khuôn đúc.


Đưa gang đã nóng chảy vào lò đổ khuôn.


Thử chất lượng sản phẩm gang.


Gang Thạnh Phú luôn đảm bảo chất lượng cao với các quy trình sản xuất chặt chẽ.


Sản phẩm gang mới lấy từ khuôn.


Làng nghề đúc gang Thạnh Phú vẫn còn nhiều nghệ nhân say mê với nghề.


Sản phẩm gang Thạnh Phú phục vụ cho các cơ sở sản xuất công nghiệp trong và ngoài nước.


Những lò đúc gang luôn đỏ lửa chính là minh chứng cho sức sống của làng nghề đúc gang Thạnh Phú. 


Theo các nghệ nhân cao niên kể lại, thời kỳ chiến tranh chống Pháp và Mỹ, người dân làng nghề đúc gang Thạnh Phú còn bí mật đúc vỏ lựu đạn cho cách mạng, góp phần làm nên nhiều chiến công của quân và dân huyện Vĩnh Cửu trong chiến thắng chung của dân tộc. Sau ngày giải phóng miền Nam 4/1975, kỹ thuật sản xuất của các lò đúc gang ở Thạnh Phú ngày càng tiến bộ, công việc sản xuất kinh doanh nhờ vậy cũng được tiến triển. Để nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, nhiều chủ lò ở đây còn về Sài Gòn học thêm kỹ thuật, rồi về cải tiến, xây dựng lại các lò thổi theo kỹ thuật mới để có thể sản xuất ra được các loại phụ tùng gang cho các cơ sở công nghiệp ở thành phố.

Theo ông Lê Văn Út, Chủ nhiệm Hợp tác xã (HTX) Trọng Nghĩa ở làng nghề đúc gang Thạnh Phú thì thời điểm những năm 90 của thế kỷ trước, làng nghề đã tạo ra được những sản phẩm đạt chất lượng cao, không chỉ đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước mà còn xuất khẩu nhiều nước trên thế giới. Sản phẩm gang Thạnh Phú nhiều khi còn không đủ hàng để cung ứng cho thị trường khiến nhiều lò gang của làng nghề phải đặt trong tình trạng sản xuất liên tục, không ngơi nghỉ. Làng nghề lúc này đã thu hút hàng trăm lao động tham gia sản xuất, tạo cuộc sống ổn định cho người dân nơi đây.

Theo xu thế hiện đại hóa của xã hội, các sản phẩm thủ công truyền thống ngày càng bị cạnh tranh bởi các sản phẩm công nghiệp. Với mong muốn bảo tồn và phát triển làng nghề, HTX đúc gang Trọng Nghĩa đã được thành lập vào năm 2006, quy tụ rất nhiều thợ có tay nghề giỏi của làng nghề. Sản phẩm đúc gang của HTX thường là nắp ga gang, puli xay lúa, phụ tùng máy ép gạch, máy nổ, máy bơm nước, nhông gang, trục cầu… Các sản phẩm này chủ yếu theo đơn đặt hàng của các xí nghiệp cơ khí máy nông nghiệp như Công ty Vikyno, Công ty Vinappro, công ty Thành Nhân xuất khẩu, công ty công nghệ cao… và còn được tiêu thụ mạnh ở Chợ Lớn - Tp. Hồ Chí Minh.

Ông Nguyễn Văn Minh, chủ một lò gang ở ấp 2, xã Thạnh Phú cho biết, bình quân cơ sở của ông với hơn 10 nhân công mỗi ngày đúc được khoảng 2 tấn sản phẩm. Nhiều người thợ giỏi có thể đúc được 400-500kg/ngày, tiền công là 1.000 đồng/kg sản phẩm gang, tính ra đạt thu nhập 400.000-500.000 đồng/ngày.

Theo ông Lê Văn Út, HTX đúc gang Trọng Nghĩa hiện đang mở rộng mặt bằng, đầu tư các thiết bị hiện đại như máy tiện, máy phu bi, máy khoan, đào tạo thêm thợ kỹ thuật, quản lý… Thực tế, HTX có thuận lợi là sản phẩm của làng nghề là mặt hàng truyền thống, lao động có tay nghề đảm bảo đáp ứng được nhu cầu thị trường. Sắp tới, HTX sẽ nhận thêm các khâu đúc, tiện để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh. Có như vậy giá thành sản phẩm của HTX mới được nâng cao và đạt lợi nhuận tốt hơn, góp phần thúc đẩy làng nghề đúc gang Thạnh Phú có thể phát triển một cách bền vững.

Bài: Nguyễn Vũ Thành Đạt - Ảnh: Thông Hải

Độc đáo mô hình mỹ nghệ từ gỗ tái chế

đăng 16:33, 27 thg 2, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Làng nghề gỗ mỹ nghệ xã Bình Minh, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai gần 40 năm qua là nơi nổi tiếng tái chế những mảnh gỗ vụn để tạo nên những mô hình gỗ mỹ nghệ độc đáo, mặt hàng xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới những năm gần đây.

Xuất hiện từ hơn nửa thế kỷ qua, nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống ở xã Bình Minh bắt nguồn từ các làng nghề mộc truyền thống của miền Bắc do người dân di cư mang theo. Đó là những làng nghề nổi tiếng như Đồng Kỵ (Bắc Ninh), La Xuyên (Nam Định)... Tuy vậy, tái chế những mảnh gỗ vụn phế thải trở thành đồ mỹ nghệ tinh xảo chỉ bắt đầu từ đầu thập niên 80.

Mọi chuyện khởi đầu khi một người thợ mộc tên là Kỳ Vân ở ấp Trà Cổ, xã Bình Minh có cây mít bị chết trong vườn nhà. Vứt đi thấy lãng phí nên ông Vân đã tìm cách dùng gỗ mít để tạo hình một con thuyền có các họa tiết tinh xảo. Con thuyền này được ông Vân mang lên Tp. Hồ Chí Minh bán và được một du khách người Nga rất thích mua đem về nước làm kỷ niệm. Đây được coi là sự khởi đầu cho việc hình thành nghề sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ là các mô hình cho khách du lịch đến Việt Nam ở xã Bình Minh.

Hàng loạt các sản phẩm mô hình phong phú và đa dạng từ xe xích lô, ô tô, xe tăng, máy bay Boeing, trực thăng, tàu thuyền, tàu chiến đến mô hình các vũ khí, vật dụng trang trí... có giá từ vài chục đến vài triệu đồng/sản phẩm được các Nghệ nhân ở làng nghề gỗ mỹ nghệ Bình Minh chế tác theo yêu cầu của khách hàng.

Một cơ sở sản xuất ở làng nghề gỗ mỹ nghệ xã Bình Minh, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.


Hiện nay nghề gỗ mỹ nghệ Bình Minh phát triển nhanh chóng nhờ một lượng lớn gỗ phế phẩm thải ra

từ các nhà máy chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

Các sản phẩm mô hình của làng nghề gỗ mỹ nghệ Bình Minh được khách hàng quốc tế ưa chuộng.


Mô hình ô tô, một trong những sản phẩm được sản xuất nhiều ở Làng nghề gỗ mỹ nghệ Bình Minh.


Công đoạn tiện phần bánh xe cho xe ô tô mô hình.


Công đoạn dán keo tạo độ kết dính cho sản phẩm.


Chà giấy nhám tạo độ bóng cho sản phẩm.


Các sản phẩm gỗ mỹ nghệ đòi hỏi sự tỉ mỉ, cẩn thận trong các công đoạn để có những mô hình tinh xảo.


Công đoạn phun sơn PU cho sản phẩm. 


Kể từ khi có các nhà máy chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, nghề gỗ mỹ nghệ Bình Minh phát triển nhanh chóng nhờ một lượng lớn gỗ phế phẩm thải ra. Chúng tôi đến Cơ sở đồ gỗ mỹ nghệ Thành Nhân (ấp Tân Bắc, xã Bình Minh), cơ sở sản xuất gỗ mỹ nghệ lớn nhất với hàng trăm mẫu mã đồ gỗ trang trí trong nhà và có lượng sản phẩm xuất khẩu chiếm trên 90% sản phẩm gỗ mỹ nghệ huyện Trảng Bom. Mỗi sản phẩm mô hình của Thành Nhân đều được các nghệ nhân hoàn thiện tỉ mỉ tới từng chi tiết nên khách hàng luôn yên tâm về chất lượng khi đặt hàng. Ngoài việc sản xuất ở xưởng, sản phẩm mô hình được đưa về gia công cho phần lớn những người biết nghề ở xã Bình Minh làm tại nhà, qua đó, có thể tận dụng cả những lao động dư thừa là người già và trẻ em trong gia đình.

Đồ gỗ Việt Nam đã và đang ngày càng được ưa chuộng ở các thị trường lớn trên thế giới vì lý do có chất lượng tốt, giá cả cạnh tranh. Hiện nhu cầu tiêu thụ đồ gỗ, đồ thủ công mỹ nghệ gia tăng cả trong và ngoài nước cũng là cơ hội cho ngành chế biến đồ gỗ trong nước phát triển, trong đó có làng nghề gỗ mỹ nghệ Bình Minh. Theo ông Nguyễn Thành Nhân, chủ cơ sở gỗ mỹ nghệ Thành Nhân, mặt hàng gỗ mỹ nghệ của cơ sở Thành Nhân luôn trong tình trạng sản xuất không đủ xuất khẩu sang các thị trường Hoa Kỳ, Pháp, Đức và một số nước khác. Có thời gian cơ sở Thành Nhân phải làm tới 2 container sản phẩm cung cấp cho tập đoàn Wal Mart (tập đoàn bán lẻ lớn nhất thế giới của Hoa Kỳ). Gần 30 công nhân trong xưởng của anh đã phải tăng ca liên tục cho kịp tiến độ giao hàng. Khối lượng sản phẩm sau khi hoàn thành đã được khách khen ngợi vì giá thành vừa rẻ, sản phẩm lại có mẫu mã đẹp, chất lượng đồng đều. Sau đó, đích thân đại diện của Wal Mart đã liên hệ trực tiếp với anh Thành Nhân, đặt hàng với số lượng lớn, trung bình 5.000 sản phẩm/tháng, trong khi năng lực của cơ sở chỉ là 2.000 sản phẩm/tháng mà còn phải phân phối đều cho khách hàng trong nước và ở các nước khác.

Hiện nay, cơ sở Thành Nhân có trên 500 mặt hàng mỹ nghệ với đủ các chất liệu gỗ khác nhau cho các mặt hàng trang trí từ bình dân đến cao cấp. Theo anh Nguyễn Thành Nhân, chủ cơ sở thì ngoài việc luôn đảm bảo chất lượng, cơ sở của anh cũng như các cơ sở khác tại làng nghề gỗ mỹ nghệ Bình Minh phải thường xuyên thiết kế các mẫu mã mới để khách hàng lựa chọn

Trước mắt chúng tôi, nhìn đống gỗ vụn tưởng như là phế phẩm, có ai ngờ qua qua bàn tay khéo léo của người nghệ nhân đã có thể biến thành những mô hình gỗ mỹ nghệ độc đáo, phục vụ du khách khắp nơi trên thế giới.

Một số sản phẩm mô hình đẹp và độc đáo của làng nghề gỗ mỹ nghệ Bình Minh:










Bài: Nguyễn Vũ Thành Đạt - Ảnh: Thông Hải

Bưởi ngọt trên cù lao Tân Triều

đăng 00:52, 28 thg 12, 2015 bởi Pham Hoai Nhan

Cách trung tâm Tp. Biên Hòa khoảng 10km, cù lao Tân Triều (xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai) hiện là vùng chuyên canh cây bưởi và trở thành thương hiệu trái cây nức tiếng khắp Nam Bộ. 

Xưa kia, vùng đất Tân Triều chủ yếu trồng trầu. Vào năm 1869, vị cha xứ nhà thờ Tân Triều mang hai cây bưởi giống từ Brazil về trồng, khi quả chín bổ ra thấy múi đều và vàng ươm, khi ăn rất ngọt. Từ đó, người dân chiết cành đem trồng và nhân rộng ra trong vùng. Đến nay, cù lao này đã trở thành vùng chuyên canh cây bưởi và thương hiệu bưởi Tân Triều là đặc sản trái cây nức tiếng khắp Nam Bộ. 

Từ năm 2006, Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ đã cấp giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm bưởi Tân Triều. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển giá trị thương hiệu bưởi Tân Triều, góp phần nâng cao giá trị cạnh tranh cho loại nông sản này trên thị trường trong và ngoài nước.

Ngoài ra, Hợp tác xã nông nghiệp - dịch vụ Tân Triều được thành lập để hướng dẫn bà con nông dân áp dụng khoa học - kỹ thuật vào trồng bưởi chuyên nghiệp để cho ra trái đồng đều, sản lượng lớn và có hương vị đặc thù. Sản phẩm bưởi Tân Triều theo đó cũng được sản xuất theo tiêu chuẩn Gap để cung cấp sản lượng ổn định, bền vững.

Bưởi Tân Triều hiện là đặc sản trái cây nức tiếng khắp vùng Nam Bộ.


Hai giống bưởi đường lá cam và bưởi đường cao núm rất phù hợp với thổ nhưỡng của vùng cù lao Tân Triều.


Hệ thống tưới nước tự động giúp các hộ dân giảm chi phí nhân công trong quá trình chăm sóc cây bưởi.


Người dân thu hoạch bưởi Tân Triều.


Nhờ áp dụng các khoa học kỹ thuật trong chăm sóc nên giống bưởi Tân Triều cho quả rất sai trên đầu cành.


Dán tem bảo vệ thương hiệu cho bưởi Tân Triều.


Bưởi Tân Triều hiện là thương hiệu nổi tiếng cả trong và ngoài nước.


Sản phẩm bưởi Tân Triều được sản xuất theo tiêu chuẩn Gap.


Bưởi Tân Triều cho múi ngọt, vỏ mỏng và rất mọng nước.


Khách du lịch đến thăm các vườn bưởi Tân Triều.


Sắp đặt mô hình bưởi Tân Triều ở huyện Vĩnh Cửu, một cách quảng bá và thu hút du khách đến tham quan những vườn bưởi. 

Tỉnh Đồng Nai đã quy hoạch phát triển trồng giống bưởi Tân Triều ở những vùng đất khác có thổ nhưỡng phù hợp như: xã  Bình Hòa, xã Tân Bình, xã Bình Lợi, xã Thiện Tân, xã Tân An thuộc huyện Vĩnh Cửu với diện tích lên đến hàng ngàn ha.

Hiện cả Tân Triều có khoảng 400ha bưởi, chủ yếu là giống bưởi đường lá cam, bưởi xiêm ruột đỏ, bưởi da xanh ruột hồng, bưởi ổi, bưởi da láng… Giá bưởi Tân Triều dao động theo từng năm, bình quân giá bưởi đường lá cam, bưởi ổi bán tại vườn khoảng 280 - 300 ngàn đồng/chục (1 chục là 12 trái). Đặc biệt, vào dịp Tết Nguyên đán, giá có thể lên đến 1 - 1,2 triệu đồng/chục. Bưởi Tân Triều không chỉ tiêu thụ ở khắp các tỉnh, thành trong cả nước mà đang được xuất đi nhiều nước châu Âu như: Hà Lan, Đức…

Ngoài việc mang lại hiệu quả kinh tế cao, bưởi Tân Triều còn phát huy tiềm năng du lịch khi đón tiếp hàng nghìn lượt du khách đến tham quan mỗi năm và thưởng thức các món ẩm thực độc đáo được chế biến từ trái bưởi như: gỏi bưởi, rượu bưởi, chè bưởi, nước ép, mứt bưởi, gà nướng trái bưởi…

Đến Tân Triều, du khách sẽ được nghỉ dưỡng trong khu du lịch sinh thái Làng bưởi Tân Triều của ông Năm Huệ, người tiên phong cho mô hình du lịch làng bưởi. Đích thân ông Năm Huệ sẽ giới thiệu các món ẩm thực có vị bưởi để du khách có thể tận hưởng hết hương vị ngọt ngào của quê hương làng bưởi.

Ngon và đặc trưng nhất ở Tân Triều phải kể đến là món gỏi bưởi. Ngoài thành phần chính là tép bưởi, gỏi bưởi còn có đậu phộng, mè rang, tôm luộc, thịt ba rọi, ngó sen, cà rốt xắt sợi... Gỏi bưởi thường ăn kèm với bánh phồng tôm hoặc bánh tráng mè chấm với nước mắm cay rất ngon.

Dưới vườn cây rợp bóng và từng chùm bưởi lúc lỉu quả trên đầu, bên rạch nước với không khí mát lành, được thưởng thức món gỏi bưởi chắc chắn sẽ là một trải nghiệm khó quên cho mỗi du khách khi đến với cù lao Tân Triều.

Bài: Nguyễn Vũ Thành Đạt - Ảnh: Thông Hải

Nghề điêu khắc đá Bửu Long

đăng 16:45, 11 thg 10, 2015 bởi Pham Hoai Nhan

Với hơn 300 năm tồn tại, làng nghề điêu khắc đá Bửu Long (phường Bửu Long, Tp. Biên Hòa) được coi là làng nghề thủ công lâu đời nhất của vùng đất Đồng Nai đang ngày đêm sáng tạo nên những tác phẩm nghệ thuật tinh xảo từ đá.

Theo "Gia Định thành thông chí" của Trịnh Hoài Đức (1765 -1825) ghi rằng, nhóm Cao, Lôi, Liêm của Trần Thượng Xuyên do không chịu sự thuần phục của nhà Thanh (Trung Quốc) đã vượt biển đến sinh sống tại xứ Bàn Lân (Biên Hòa ngày nay). Những cư dân này mang theo nghề làm đá đã cùng với người Việt bản địa lập nên làng nghề điêu khắc đá.

Đá nguyên liệu để làm sản phẩm đá mỹ nghệ Bửu Long là đá tấm, đá phiến. Những người thợ tìm đá nguyên liệu được gọi là thợ làm “đá sống”, phải lên núi tìm những tảng đá đạt yêu cầu mang về. Từ đây, những người thợ điêu khắc đá bắt đầu công việc chế tác sản phẩm, gọi là thợ làm “đá chín”.

Nguyên liệu đá thô (đá sống) làm nên các sản phẩm điêu khắc đá.


Đá nguyên liệu sử dụng làm sản phẩm đá mỹ nghệ Bửu Long thường là các loại đá tấm, đá phiến.


Những người thợ chế tác nguyên liệu thô được gọi là thợ làm “đá sống”.


Tất cả các khối đá lớn đem về được chia nhỏ sử dụng chế tác sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng.


Những người thợ có thâm niên lâu năm mới làm ra được những sản phẩm điêu khắc có tính nghệ thuật.


Sự tỉ mỉ và cẩn thận là yếu tố không thể thiếu trong nghề điêu khắc đá.


Để đạt được độ tinh xảo cho sản phẩm phụ thuộc vào đôi bàn tay khéo léo, lành nghề của người thợ đá.


Để một khối đá sống trở thành sản phẩm mỹ nghệ trải qua rất nhiều công đoạn.


Các sản phẩm đều được người thợ đá sáng tạo trở thành các tác phẩm độc đáo, có giá trị. 


Đến cơ sở Nhật Thành trong lúc từng nhóm thợ đang say mê làm “đá chín” mới biết để khối đá trở nên sinh động và có hồn, người thợ phải sử dụng nhiều thủ thuật với nhiều loại công cụ khác nhau như đục nhảy, đục phá, đục láng, đục rãnh, đục khớp, đục vòng…

Một khối đá sống muốn thành một sản phẩm cần qua bốn công đoạn tạo tác của người thợ làng đá Bửu Long bao gồm: vạt mảng tạo dáng, vẽ chi tiết trên đá đã tạo dáng (bằng mực nho), đục hoàn chỉnh và tạo hình, đánh bóng sản phẩm (bằng đá mài). Trong đó, công đoạn tạo hình và đánh bóng được coi là khó nhất.

Ngày nay, làng nghề điêu khắc đá Bửu Long đã áp dụng công nghệ vào sản xuất, đá nguyên liệu được cắt, gọt, giũa bằng hệ thống máy cưa, cắt hiện đại. Tuy vậy, để đạt được độ tinh xảo cho sản phẩm thì vẫn cần đến đôi bàn tay khéo léo, lành nghề của người thợ. Các sản phẩm: tháp sen, tượng rồng, lân hay sư tử dũng mãnh… đều được người thợ thổi hồn vào để trở thành những tác phẩm độc đáo, có giá trị.

Làng điêu khắc đá còn làm ra nhiều sản phẩm khác như: khám thờ, lư hương, bát nhang, đèn, linh vị, bia, cối xay, cối giã gạo, ly chén, bình đựng, bộ cờ…

Một số sản phẩm điêu khắc đá độc đáo của làng nghề Bửu Long:






Hơn ba thế kỷ với nhiều thăng trầm, làng nghề điêu khắc đá Bửu Long đã sản sinh ra nhiều nghệ nhân tài hoa như Hà Kiều, Dương Văn Hai, Ngụy Đức Mỹ, Phạm Thành Đầu… Hiện những cơ sở làm đá ở Bửu Long như Tân Phát Hưng, Tín Nghĩa, Tân Vĩnh Quang, Nhật Thành... với quy mô khá lớn đã góp phần tạo nên thương hiệu cho làng nghề. Sản phẩm đá Bửu Long có mặt khắp nơi trong cả nước và đang vươn ra thị trường nước ngoài như: Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc, Nhật Bản…

Bài: Nguyễn Vũ Thành Đạt - Ảnh: Thông Hải

Quan niệm về hôn nhân của người Mạ ở Đồng Nai

đăng 07:59, 3 thg 1, 2015 bởi Pham Hoai Nhan

Người Mạ ở Đồng Nai có nhiều nét văn hóa độc đáo về phong tục, tập quán từ xa xưa. Trong đó, thú vị nhất chính là quan niệm của họ về hôn nhân.


Hôn nhân của người Mạ ở Đồng Nai theo chế độ phụ hệ, một vợ một chồng và tuyệt nhiên không có quan niệm trọng nam khinh nữ. Đặc biệt, khi con cái trong nhà đến tuổi trưởng thành, khoảng 15-17 tuổi được thoải mái tự do tìm hiểu. Ngoại trừ những trường hợp bố mẹ có hôn ước cho con từ thuở nhỏ, đứa trẻ lớn lên sẽ phải tuân theo và không được tự do lựa chọn bạn đời.

Khi hai người đồng ý sống cùng nhau, chàng trai sẽ về thông báo với gia đình để chuẩn bị sính lễ đến nhà cô gái làm đám nói. Người con trai muốn đính hôn với một người con gái thì phải biếu bố mẹ vợ tương lai nhiều món quà quý, thường là một ché rượu, một con gà, một số tặng phẩm như chuỗi hạt đeo cổ, lục lạc, lược sừng và một số đồ trang sức nhỏ khác theo ý thích của người vợ tương lai.

Cùng với những lễ vật đã được sắm rất chu đáo, bên nhà trai sẽ nhờ một người có uy tín trong họ hàng để làm ông mai dẫn đến nhà gái. Khi đi hỏi vợ, chàng trai người Mạ đã trở thành một người đàn ông thực thụ với ngọn lao cầm trên tay, chiếc dao dắt ngang lưng và trên vai là cây xà gạc.

Đồng thời, anh ta sẽ được mặc trang phục truyền thống của người Mạ, đó là đóng khố với nhiều sợi dây màu đỏ nổi bật, tay đeo trang sức đồng, búi tóc lên cao và cài một chiếc lược sừng sâu. Cô gái sẽ phục sức lên người một bộ váy với nhiều hoa văn đặc trưng rất đẹp mắt của người Mạ, kèm theo những phụ kiện như chiếc đai lưng màu sặc sỡ, đeo nhiều chuỗi vòng có đính hạt cườm. Cô gái cũng giống như chàng trai, búi tóc và cài lược sừng trâu nhưng được cắm thêm con dao nhỏ.

Khi vừa tới nhà gái, tự tay chàng trai sẽ cắm ngọn lao xuống đất, ngay trước cửa nhà gái và… đứng đợi. Một lát sau, người đại diện cho đàng gái có thể là cha hoặc cậu ruột sẽ trực tiếp ra đón nhà trai. Sau khi nghe lời trình bày lý do tại sao đến đây của chàng trai, nhà gái gật đầu đồng ý. Ngay lúc đó, chàng trai sẽ rút ngọn giáo và cùng mọi người vào nhà.

Cũng giống như nhiều dân tộc thiểu số khác, việc đầu tiên mà chàng trai người Mạ phải làm khi bước chân vào nhà gái là đứng trước bàn thờ tổ tiên khấn vái rồi đem ngọn giáo gác lên xà nhà. Ngọn giáo sẽ được để nguyên tại nhà gái bảy ngày bảy đêm.

Sau những nghi lễ được hai họ cử hành, mọi người mới cùng nhau ngồi lại bên những ché rượu cần. Lúc tiệc rượu tàn, nhà trai ra về, riêng chàng trai sẽ ở lại nhà vợ chưa cưới để làm việc. Đặc biệt, một tập tục kì lạ chỉ có ở người Mạ là sau đám hỏi việc quan hệ nam nữ sẽ tuyệt nhiên bị cấm, dù trước đó hoàn toàn thoải mái. Trường hợp đôi trai gái muốn ngủ chung thì phải vào rừng và tự dựng túp lều để cùng nhau sống ở đó. Đến khi kết hôn các cặp đôi sẽ được ngủ chung.

Trong quá trình sống chung, nếu đôi vợ chồng trẻ không hợp nhau hay cô gái không thể sinh con cho nhà chồng thì đằng trai có thể trả cô gái về nhà mẹ đẻ. Dù cô dâu có lỗi cũng không được đánh đập, đặc biệt trước mặt bố mẹ vợ và con cái, vì như thế chẳng khác nào đánh vào cha mẹ cô gái. Bởi theo quan niệm của người Mạ, nếu cô dâu được trả về nhà mẹ đẻ trong tình trạng bầm dập, thì cô đã là một người chết, nhà gái sẽ không nhận. Đồng thời, nhà gái sẽ phạt vạ nhà trai rất nặng. Chính vì vậy, để cha mẹ nhận lại con cái của họ thì cô gái phải được trả về “nguyên vẹn”.

Ngày nay, người Mạ cũng đã tiếp thu những nét văn hóa hiện đại vào trong cuộc sống của mình nên đã có nhiều thay đổi trong chế độ hôn nhân. Nhà trai đã chủ động hơn trong hôn nhân, đồng thời, chàng rể cũng có thể rước dâu như người Kinh ngay sau làm lễ cưới và không phải ở rể như trước đây. Tuy nhiên, chế độ một vợ một chồng vẫn được duy trì như một truyền thống tốt đẹp của người Mạ từ xa xưa.

1-10 of 28

Comments