Làng nghề và tập quán của cư dân Đồng Nai

Bài mới

  • Khám phá nét văn hóa bản địa dân tộc S'tiêng ở Tà Lài, Tân Phú Nếu bạn là một người yêu thích tìm hiểu và khám phá bản sắc của 54 dân tộc anh em tại Việt nam thì đừng bỏ qua cơ hội đến ...
    Được đăng 01:45, 8 thg 8, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Văn hóa người Mạ ở Đồng Nai Dân tộc Mạ được gọi bằng nhiều tên khác nhau như Chau Mạ (Chau: người; Mạ: tên tộc người), Chê Mạ, Mạ Ngan… Người Mạ được coi là dân bản ...
    Được đăng 02:04, 25 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Có một “Chợ Huế” ở Đồng Nai Lần theo con đường quốc lộ 1A, tôi tò mò tìm ngôi chợ Quảng Biên mà người dân Đồng Nai gọi thân mật đó là “Chợ Huế”. Nghe nói có ...
    Được đăng 01:57, 19 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Tháng chay Ramadan của người Chăm Islam ở Đồng Nai Người Chăm ở Đồng Nai đa phần là Chăm Islam hiện có trên dưới 3.000 người, đa số sống tập trung tại ấp 4, xã Xuân Hưng, huyện Xuân ...
    Được đăng 01:56, 19 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Dân tộc tại chỗ ở Đồng Nai Trong số các cư dân của Đồng Nai xưa, có 4 dân tộc được xác định là dân tộc tại chỗ, có mặt từ rất lâu đời gồm: Chơro, Mạ ...
    Được đăng 21:15, 27 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 43. Xem nội dung khác »

Bài trong mục này


Khám phá nét văn hóa bản địa dân tộc S'tiêng ở Tà Lài, Tân Phú

đăng 01:45, 8 thg 8, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Nếu bạn là một người yêu thích tìm hiểu và khám phá bản sắc của 54 dân tộc anh em tại Việt nam thì đừng bỏ qua cơ hội đến với Tà Lài nơi các dân tộc anh em như Stieng, Mạ, Tày, Nùng sống với nhau rất gần gũi. 



Đến đây không khó để các bạn có thể bắt gặp hình ảnh những cô gái Mạ, S’tiêng thong thả đi trên đường. May mắn hơn trong một ngày nắng đẹp của tháng 5, các bạn sẽ còn được chiêm ngưỡng một rừng cây hoa móng cọp (hoa đào rừng) nở rợp cả vùng trời và từng đàn bướm vàng tung tăng bay lượn cảnh vật như ở trốn thần tiên. Ở xa xa, những cô sơn nữ nhẹ nhàng hái hoa tươi cười khoe sắc ngân nga câu hát vút cao nhưng ngọt ngào giữa đại ngàn ấy. 

Vẻ đẹp của thiên nhiên cũng như những cô sơn nữ đẹp bởi họ khoác trên mình những trang phục rất đặc trưng và bạn sẽ tò mò không biết trang phục được làm như thế nào. 



Trang phục của người S’tiêng khá đơn giản, đàn bà mặc váy, đàn ông đóng khố. Mùa đông người ta choàng một tấm vải để chống rét.Với hoa văn bắt mắt chủ đạo là các hình học như: Hình tam giác, hình vuông, hình thoi, kể cả hình người…. Đây là trang phục truyền thống của đồng bào, phụ nữ và trẻ nhỏ ngay từ nhỏ đã phải học dệt rồi, đặc biệt phụ nữ trong làng mà không biết dệt sẽ không lấy được chồng. Nếu bạn đã đến xã Tà Lài Cát Tiên thì không thể bỏ qua trải nghiệm dệt thổ cẩm. Quy trình để làm nên một chiếc áo cũng lắm công phu. Chúng tôi theo chân anh K’yếu đúng lúc anh đến thăm gia đình một nghệ nhân dệt thổ cẩm ưu tú của làng. Nhìn đôi tay cô thoăn thoắt đưa thoi bên những vuông vải màu chàm, màu trắng, màu xanh. Chỉ với một khung dệt đơn giản, những cuộn dây sợi chỉ với bản tay khéo léo điêu luyện của cô, chúng đã chở thành những tấm thổ cẩm thật đẹp, thật tinh xảo. Tôi cũng tranh thủ học dệt và lắng nghe cô trò chuyện. Ở làng này con gái năm tuổi đã được mẹ dạy cho cách dệt vải. Ngày trước muốn dệt cho được cái áo, cái quần thì phải tự lên nương thu hoạch bông về làm chỉ nhưng bây giờ cây bông không còn được trồng nữa mà nhường đất để trồng cây keo, cây mì, cao su, vì yêu cái đẹp của thổ cẩm S’tiêng và mong muốn phải giữ được cái nghề của tổ tiên nên cô và các chị các bà nơi đây vẫn cố gắng lưu truyền nghề dệt cho con cháu trong bản làng. 



Tại Tà Lài Cát Tiên còn có hang rơi một nơi đã gắn bó với làng S’tiêng từ rất xa xưa. Nhưng muốn đến được đây phải đi sâu vào bên trong rừng và phải được người địa phương dẫn đi không là sẽ lạc trong rừng sâu. Người S’tiêng tin rằng vạn vật hữu linh mỗi một vật dụng đều có linh hồn do đó họ tín ngưỡng đa thần và thần rừng xanh là vị thần tối thượng nhất được kính trọng. Những người thờ phụng liên quan đến thần thì thường nằm khá sâu trong rừng. Hang dơi đã từng là một nơi như thế. Để đến được hang dơi chúng tôi phải vượt qua một quảng đường dài leo đồi, vượt dốc khó khăn vô vàn nhưng tất nhiên để hành trình không quá mệt mỏi, bạn sẽ được giới thiệu các loại cây thuốc mọc ven đường, những loại cây dây lấy nước, cây trái hoang dại ăn được giữa rừng một lớp kỹ năng sinh tồn khá thú vị và bổ ích. Hang dơi nằm treo leo ở một con dốc hang tối và đầy huyền bí đi sâu vào bên trong, lớp đất ngàn nằm cùng với hình ảnh hàng ngàn chú dơi treo mình treo leo ngủ sâu chắc chắn sẽ làm bạn choáng ngợp. Một vẻ dẹp linh thiêng nơi núi Rừng đã được người đồng bào nơi đây ngàn năm tôn thờ. 

Đêm xuống, là thời điểm các dân tộc anh em nơi đây quây quần cùng múa hát cồng chiêng bên đống lửa trại, uống rượu cần, ăn thịt nướng cùng với các anh chị người Tày múa, hát Then, nhảy sạp thật thú vị. Đến với Xã Tà Lài Cát Tiên, chúng tôi đã hiểu thêm về nét văn hóa cộng đồng bản địa nơi đây, một nét văn hóa rất riêng của núi, rừng Phương Nam. 

MRĐ

Văn hóa người Mạ ở Đồng Nai

đăng 02:04, 25 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Dân tộc Mạ được gọi bằng nhiều tên khác nhau như Chau Mạ (Chau: người; Mạ: tên tộc người), Chê Mạ, Mạ Ngan… Người Mạ được coi là dân bản địa, sống chủ yếu ở các tỉnh Lâm Đồng, Đắc Nông, Bình Phước, Đồng Nai… 

Tại Đồng Nai, người Mạ tập trung ở một số ấp, xã như Hiếu Nghĩa huyện Định Quán, xã Tà Lài, Phú Bình, Phú Sơn huyện Tân Phú… Với những nét đặc trưng rất riêng, văn hóa người Mạ thể hiện trong các phong tục, cách ăn,mặc, ở…và suy nghĩ lối sống đã góp phần làm đa dạng văn hóa các dân tộc trên mảnh đất Việt Nam nói chung, và Đồng Nai nói riêng. 

Người Mạ sống thành từng bon (làng), mỗi bon có từ 5 đến 10 nhà sàn dài (nhà dài là nơi ở của các thế hệ có chung huyết thống). Đứng đầu bon là quăng bon (ông già trưởng làng). Từ xa xưa, họ đã làm nương rẫy trồng lúa và các loại cây khác. Người Mạ coi cây lúa là nguồn lương thực chính nuôi sống gia đình, ngoài ra còn cây lương thực phụ trợ như sắn, ngô. Công cụ sản xuất thô sơ, có các loại dao xà gạc, cuốc xà bách, rìu, gậy chọc lỗ tra hạt. 


Ở vùng lưu vực sông Đồng Nai, xưa kia người Mạ làm ruộng nước bằng kỹ thuật lùa cả đàn trâu xuống ruộng để trâu giẫm đất đến khi sục bùn thì gieo lúa giống (xạ lúa). Thế là cứ đến mùa gieo hạt, dân làng lại lên đồi lùa trâu về, sau chăn đến đám ruộng cần gieo cho trâu dẫm, đạp làm đất sục bùn lên. Khi thấy ruộng đã nhũn, lúc này người dân mới đem hạt thóc ra rải và kể từ đó chờ đến ngày thu hoạch. Ngoài ra, người Mạ nuôi trâu, bò… theo cách thả rông, lùa vào rừng sống thành đàn, chỉ khi cần giết thịt hoặc giẫm ruộng mới tìm bắt về. 

Người Mạ tin có rất nhiều thần: Yang (trời) là thần tối cao, ngoài ra có thần sông, thần núi, thần lửa… Cũng như các dân tộc khác thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơmer, người Mạ thường tổ chức lễ đâm trâu vào dịp tết cổ truyền (sau tết Nguyên đán khoảng 1 tháng và mùa lễ hội đâm trâu kéo dài tới 1-2 tháng). 

Phụ nữ Mạ nổi tiếng về nghề dệt vải truyền thống với những hoa văn tinh vi hình hoa lá, chim thú với nhiều màu sắc. Nghề rèn sắt cũng từng nổi tiếng ở nhiều bon làng. Họ tự luyện quặng lấy sắt để rèn các công cụ sản xuất và vũ khí như dao xà gạc lưỡi cong, lao… Ở những vùng ven sông Đồng Nai, người Mạ làm thuyền độc mộc để đi lại, vận chuyển và đánh cá trên sông. Phụ nữ Mạ thường mặc váy quấn, dài quá bắp chân, nam giới thì đóng khố. Mùa làm nông, nhiều người ở trần, mùa rét choàng tấm mền. 


Phong tục làm đẹp của người Mạ xưa là “cà răng, căng tai”, đeo nhiều vòng trang sức. Cà răng thì đàn ông làm, căng tai thì dành đàn bà, phụ nữ. Tục cà răng xuất phát từ ý nghĩa để hàm răng vĩnh viễn không bao giờ phải thay. Vì người Mạ quan niệm cái gì thuộc về thân thể thì không được vứt đi, cũng có quan niệm cho rằng, họ sống trong rừng nên để không “nhầm” với hàm răng sắc nhọn của con thú thì phải cà cho bằng hoặc cụt bớt đi. Thế nhưng đến nay thì tục lệ đó đã không còn nữa, do điều kiện sống và quan niệm đã thay đổi. Còn tục căng tai thì chỉ còn dấu tích trên những đôi tai dài thỏng của người già. Căng tai là cách làm đẹp của con gái và phụ nữ người Mạ, người ta quan niệm dái tai càng dài, đeo được nhiều vật nặng có nghĩa là đẹp, người giàu có thường đeo ngà voi cưa ra thành đoạn, còn phần lớn người bình thường thì đeo những loại trang sức khác. 


Hôn nhân của người Mạ ở Đồng Nai theo chế độ phụ hệ, một vợ một chồng và tuyệt nhiên không có quan niệm trọng nam khinh nữ. Đặc biệt, khi con cái trong nhà đến tuổi trưởng thành, khoảng 15 - 17 tuổi được thoải mái tự do tìm hiểu. Nhà trai chủ động trong hôn nhân, nhưng sau lễ cưới chú rễ phải sang ở nhà vợ, đến khi nộp đủ đồ sính lễ cho nhà gái mới được đưa vợ về ở hẳn nhà mình. 

Có một tục lệ mà đến nay người Mạ vẫn còn giữ nguyên đó là tục “chia của” cho người đã mất. Chia của ở đây có nghĩa là sự san sẻ những tài sản của người đang sống với người đã mất. Người Mạ quan niệm có cả cõi dương và cõi âm, trần thế sao thì âm phủ vậy, đều có buồn, vui, đau thương, giận hờn... Vì thế, họ cho rằng khi người ta đi xuống cõi âm cũng cần mang theo của. Nếu trong nhà có đám tang, công việc đầu tiên của người nhà là mua cho người đã mất những bộ trang phục rất đẹp mặc vào. Rồi phân chia đồ đạc cho người đã mất như thuở còn sống. Trang sức, vật dụng thường ngày thì bỏ vào quan tài, nếu là con vật lúc sinh thời gắn liền với người chết thì đem giết thịt ngay trong những ngày tang lễ để cả dân làng ăn, lúc nào hết mới thôi. Sau khi chôn cất và chia của xong, người Mạ sẽ bỏ luôn ngôi mộ đó không quay lại nữa. Nhưng về sau này, khi người Mạ định cư gần người Kinh thì tập tục một số phần bị phai nhạt, vì họ nhận thấy việc thờ cúng, chăm sóc mồ mả tổ tiên cũng là nét đẹp truyền thống nên phát huy. Đến nay thì người Mạ đã có nghĩa địa dành riêng cho làng dành cho việc chôn cất người đã khuất. 

Kho tàng văn học dân gian Mạ rất phong phú, gồm nhiều truyện cổ, truyền thuyết, huyền thoại độc đáo... Nhạc cụ có bộ chiêng, đồng, trống, khèn bầu, khèn sừng trâu, đàn lồ ô, sáo trúc 3 lỗ gắn vào trái bầu khô. Một trong những loại hình tiêu biểu cho vốn văn hóa dân gian của cư dân Mạ ở Đồng Nai là thể loại văn thơ truyền miệng: hát Tăm pớt. Một loại hình hát kể đối đáp tùy vào từng hoàn cảnh cụ thể như khi kết bạn, giao duyên, uống rượu cần, lúc lên nương rẫy hay tại nhà đón khách, hoặc được dùng để thể hiện tâm tư tình cảm. 

Ngày nay, đời sống phát triển hơn, với nhiều nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan, một số phong tục tập quán, văn hóa của người Mạ đã có những phần bị mai một. Nhưng vẫn còn đó những bon, làng người Mạ, sống giữa núi rừng. Do vậy, hiện tại các cơ quan chức năng đã và đang thực hiện việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc Mạ nhằm giữ gìn nét đẹp, nét hay của dân tộc bản địa tại Đồng Nai. 

Mai Phương

Có một “Chợ Huế” ở Đồng Nai

đăng 01:57, 19 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Lần theo con đường quốc lộ 1A, tôi tò mò tìm ngôi chợ Quảng Biên mà người dân Đồng Nai gọi thân mật đó là “Chợ Huế”. Nghe nói có những nét rất Huế, ẩm thực rất Huế và con người rất Huế tại nơi đây.


Chợ Quảng Biên hiện tại thuộc xã Quảng Tiến, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Thoạt nhìn, chợ cũng giống như bao ngôi chợ khác, có đầy đủ, đa dạng các mặt hàng, thực phẩm, nhu yếu phẩm, đồ dùng trong gia đình, rau củ quả, đồ khô và các món ăn chế biến sẵn…

Bỏ qua những điểm chung của các ngôi chợ, tôi luồn lách vào các ngách nhỏ, tìm kiếm những thứ mà chỉ có được ở xứ Huế. Bắt gặp đầu tiên là quầy hàng đồ mã, trong đó có mặt hàng nón Huế. Cô bán hàng nói đặc tiếng Huế, giới thiệu từng loại nón, quai nón và độ bền, độ đẹp của nón. Cầm trên tay chiếc nón lá mỏng, quai lụa, kết chỉ tạo họa tiết, lại được nghe giọng Huế từ cô bán hàng, cảm giác rất lạ, bởi bắt gặp một dáng Huế nơi xứ Đồng Nai này.




Định bụng sẽ phải thưởng thức ẩm thực đặc trưng Huế, nên tôi đảo mắt, bước nhanh tới những quầy thực phẩm chế biến sẵn. Không ít chút nào đâu nhé. Nào là bánh bột lọc, bánh ram ít, bánh bèo, bánh lưỡi mèo vị Huế….đến bún bò Huế, các loại chè Huế…

Người Huế làm bánh không phải để ăn cho thật no, mà để thưởng thức hương vị, thế nên tôi đều dùng thử mỗi món một ít, những thứ bột trắng, mềm ngọt, kết hợp với vị tôm tươi hay rắc chút bột tôm chấy màu gạch, quyện với nước chấm vị mặn ngọt đặc trưng lại khiến người thưởng thức mê mẩn đến vậy. 



Chị bán hàng tươi cười chia sẻ, ngày nào cũng bán bánh từ trưa tới sáu giờ chiều, những ngày thứ bảy hay chủ nhật, lượng khách đông, hàng hóa bán được gấp đôi ngày thường. Ở đây chủ yếu là dân Huế di cư vào sinh sống, nên những món Huế dễ bán và rất được ưa chuộng. 

Quầy chè Huế có từ bảy đến chín loại chè đủ loại. Chè chủ yếu là chè đặc, nguội, múc bằng chén nhỏ xíu, để khách ăn có thể thưởng thức đủ loại chè trong một lần ăn. Chè trôi nước vỏ mỏng, nhân bùi, vị gừng thơm ấm; chè hạt sen thơm sen, bùi hạt, mềm nhưng không nát; chè môn tím thơm dẻo khoai, ngậy béo ngọt cốt dừa; rồi các loại chè ngô, chè bưởi, chè đậu ngự, đậu xanh nguyên hạt, đậu xanh cà nhuyễn… Ăn đến no bụng mà miệng vẫn cứ thèm. 

Tiến sâu vào khu vực bên trong sẽ là những quầy hàng đồ khô, thấy ngay các hũ tôm chua Huế hiện diện giá giao động trên dưới một trăm ngàn đồng tùy lớn nhỏ, dưa mắm, ruốc Huế cũng có mặt tại đây. 



Một vòng quanh khu chợ Quảng Biên khiến tôi như lạc giữa chợ Đông Ba. Nơi xa xứ mà người Huế vẫn giữ được nếp sinh hoạt, lối ăn nói, cách bán mua. Giữa thời buổi hiện đại, những điều giản dị nhất khiến người ta lắng đọng, bình yên. Chợt nhớ ra một điều, chưa thưởng thức được bún bò Huế chính hiệu, vì theo các cô, các chị thì chỉ có vào buổi sáng. Hơi tiếc nuối, nhưng vậy có khi lại hay, tôi tự nhủ chắc chắn sẽ quay lại thêm lần nữa, để có cơ hội được nếm thử bún bò Huế từ dân Huế tại chợ Quảng Biên, Đồng Nai.

Mai Phương

Tháng chay Ramadan của người Chăm Islam ở Đồng Nai

đăng 01:56, 19 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Người Chăm ở Đồng Nai đa phần là Chăm Islam hiện có trên dưới 3.000 người, đa số sống tập trung tại ấp 4, xã Xuân Hưng, huyện Xuân Lộc và ấp 6 xã Bình Sơn, huyện Long Thành, số còn lại sống rải rác ở các địa phương trong tỉnh. 


Một năm theo Hồi lịch, người Chăm tổ chức nhiều lễ hội, trong đó có tháng Ramadan. Tháng Ramadan của người Chăm Islam còn được gọi đơn giản là Tháng ăn chay hay Tháng nhịn ăn. Tuy nhiên cách gọi chính xác nhất là tháng Ramadan vì các tín đồ Chăm Islam chẳng ăn chay hoàn toàn, cũng không nhịn ăn hoàn toàn. 

Ramadan là tên gọi tháng thứ 9 của âm lịch Ả Rập. Tháng Ramadan theo dương lịch thay đổi từng năm, không có ngày thống nhất. Năm nay, tháng Ramadan rơi vài khoảng thời gian từ 16/5 – 14/6/2018. Ramadan là 1 trong 5 tín bắt buộc đối với những người theo đạo Hồi. Trong đó bao gồm tin tưởng thượng đế, hành lễ, bố thí, lễ Ramadan và hành hương đến Mecca. 

Ý nghĩa của tháng Ramadan là nhịn ăn uống để có sự thông cảm với những người nghèo đói, những đồng đạo còn chưa đủ ăn, đủ mặc. Đồng thời, hành động này nhằm luyện cho con người một sự tiết chế, chống những cám dỗ vật chất, để tạo thuận lợi cho việc sau này lên thiên đàng. 


Trong suốt tháng lễ người Chăm nhịn ăn, nhịn uống, không hút thuốc và ngay cả yêu đương vào khi trời còn sáng và chỉ được phép ăn uống khi không có ánh sáng mặt trời, và đọc kinh Koran trong những ngày lễ. 


Mỗi ngày họ ăn chay từ 4 giờ đến 18 giờ, trong thời gian này mọi người không được ăn uống gì, kể cả nuốt nước miếng (chỉ được nuốt từ họng xuống), không được nhìn ngắm, tham gia vào các sinh hoạt vui chơi, giải trí… Thân thể, răng miệng phải luôn sạch sẽ. Buổi sáng có thể đi làm (thường là những việc nhẹ nhàng) buổi chiều nghỉ ngơi và chuẩn bị thức ăn cho buổi tối. 

Đây là tục ép xác, chịu khổ để nhớ lại những thời kỳ gian khố nhất của Giáo chủ Mohammed khi sáng lập đạo Islam cũng như răn dạy mọi người phải nên biết quý trọng thành quả lao động và tỏ lòng biết ơn thượng đế đã ban của cải cho mình. Trong tháng chay Ramadan, những người khá giả thường làm phúc cho người nghèo. Một điểm đặc biệt là trong tháng Ramadan, không chỉ đàn ông, mà phụ nữ cũng có thể tới thánh đường dự lễ nhưng phải mặc lễ phục mackhana và che kín khuôn mặt. 

Luật của đạo cũng quy định rõ những người đang ốm, phụ nữ có thai, trẻ em dưới 5 tuổi và những người đang đi du lịch ở nước ngoài mà nước này không lấy đạo Hồi làm quốc giáo, được miễn trừ. Nhưng họ phải bù vào những dịp khác. 

Người Chăm Islam hân hoan hạnh phúc khi tháng Ramadan kết thúc. Ngoài ý nghĩa thiêng liêng tự có của tháng Ramadan của Islam, người Chăm xem đây là dịp hội ngô. Dù đi làm ăn ở khắp mọi nơi đều quay trở về cùng gia đình, người thân, công đồng, cùng chia sẻ niềm vui hạnh phúc với những cảm nhận đói khát, để hiểu thêm người khó khăn hơn mình, để mở lòng nhiều hơn với những điều thiện nguyện. 

Mai Phương

Dân tộc tại chỗ ở Đồng Nai

đăng 21:15, 27 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Trong số các cư dân của Đồng Nai xưa, có 4 dân tộc được xác định là dân tộc tại chỗ, có mặt từ rất lâu đời gồm: Chơro, Mạ, S’tiêng và K’ho. Trong đó, 2 dân tộc Chơro, Mạ được đánh giá có nền văn hóa riêng, đặc sắc và có tác động nhất định đến không gian văn hóa vùng Đông Nam bộ. 

Người Chơro Lý Lịch (xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu) biểu diễn cồng chiêng ở nhà dài. 


Trong lịch sử phát triển, dân tộc Chơro là lớp cư dân cư trú từ xa xưa ở vùng đồi núi thấp phía Nam, chủ yếu sinh sống tập trung ở khu vực miền Đông Nam bộ. Theo số liệu điều tra, người Chơro ở Đồng Nai hiện chiếm 56,5% tổng số người Chơro trong cả nước, cao nhất so với các tỉnh, thành trong khu vực (Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Thuận, TP.Hồ Chí Minh, Bình Dương). Còn người Mạ chủ yếu sinh sống tại tỉnh Lâm Đồng - trước đây gọi là vùng Đồng Nai Thượng (chiếm tỷ lệ gần 80%), số còn lại ở Đắk Nông (14,4%) và Đồng Nai, sinh sống tập trung ở 2 huyện Định Quán và Tân Phú. Cả 2 dân tộc đều thuộc ngữ hệ Nam Á, nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer. 

* Tín ngưỡng tâm linh đặc sắc 

Trong Địa chí thành phố Hồ Chí Minh, nhiều học giả có sự đánh giá về tác động của văn hóa tộc người Mạ - Chơro và nhận định ngay cả vùng Sài Gòn xưa cũng thuộc phạm vi không gian văn hóa xã hội của nhóm cư dân này. Theo sách Các dân tộc ít người ở Việt Nam, tên tự gọi của dân tộc là Chrau - Jro, trong đó Chrau có nghĩa là nhóm người, hay tập đoàn người. Tộc danh Chrau Jro còn gắn liền với tên gọi một giống lúa nước cổ truyền mà đồng bào rất thích gieo trồng. Tương tự, cộng đồng người Mạ tự nhận là Cau Mạ (Cau đọc thành Chau, có nghĩa là người, còn Mạ có thể là một phương thức sinh hoạt kinh tế của người làm rẫy). 

Người Mạ và Chơro có tín ngưỡng thờ đa thần theo quan niệm “vạn vật hữu linh”. Những hiện tượng thiên nhiên, sự vật trong môi trường sống đều có linh hồn, thần linh thuộc về thế giới siêu hình, có khả năng chi phối đến đời sống con người. Vì thế, người Mạ có hệ thống thần linh mà cao nhất là Yang N’du - vị thần tạo ra thế giới; bên dưới là các vị thần: Yang Koi (thần lúa), Yang Bri (thần rừng), Yang Dah (thần nước), Yang Bơnơm (thần núi…). Hàng năm người Mạ có các lễ cúng quan trọng là cúng thần núi và thần lúa. Theo quan niệm của người Mạ, con số 7 có tính chất là sự vẹn toàn, thể hiện sự tốt lành. Người Chơro thì có lễ hội cúng thần lúa (Ốp Yang Vá, sau này gọi là Sa Yang Va). 

Cả dân tộc Mạ lẫn Chơro đều không có chữ viết nên lịch sử được truyền miệng trong cộng đồng, qua nhiều thế hệ. Một số “chuyện đời xưa” của người Mạ đề cập đến thần K’Boong tạo nên mặt đất với trái bầu và 3 cái gùi chứa đựng những yếu tố để dựng nên thế gian và sự sống của loài người. Truyện kể Mạ cũng nhắc đến những tổ tiên ban đầu là Paang Kha và Paang Khem “chui ra” từ các bụi cây; 3 người phụ nữ sinh ra các giống loài con người, trong đó Ka Grum sinh ra Kon Chau (nhóm người Thượng, trong đó có người Mạ), Ka Grúp sinh ra Kon Grum (người Chăm) và Ka Grau sinh ra Kon Yoan (người Kinh). 

Người Chơro thì có các chuyện kể về phân bố địa bàn sinh sống. Theo đó, 3 người phụ nữ trong tộc bị lạc nhau, đi về 3 hướng để sinh sống từ đó hình thành cộng đồng gồm: Pôprưng (từ suối Tambung quay ngược đến xã Túc Trưng, huyện Định Quán), Pốptoi (khu vực ấp Lý Lịch, xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu) và Pôplau (vùng đất từ Gia Huynh đến Trảng Táo, nay thuộc huyện Xuân Lộc). 

Giống như nhiều dân tộc thiểu số khác, cách thức tổ chức cư trú truyền thống của người Mạ theo từng buôn (bon), còn người Chơro là làng (plây). Già làng (kwang bon, hoặc voq plây, tức chủ làng) có vị trí rất quan trọng, thường là người lớn tuổi, có uy tín, hiểu biết và được cộng đồng kính trọng. Trước đây người Chơro theo chế độ mẫu hệ, thể hiện qua việc đặt tên con theo họ mẹ, quyền thừa kế tài sản thuộc về con gái… 

Kiến trúc nhà ở của người Mạ và Chơro là nhà sàn bằng vật liệu sẵn có như: gỗ, tre, mây, độ dài ngắn của nhà tùy thuộc vào gia chủ. Trong gia đình có thành viên lập gia đình thì nhà dài được nối tiếp về phía Tây, trước đây có những ngôi nhà sàn dài đến 100m. Điểm khác biệt so với các dân tộc khác là vách nhà của người Mạ, Chơro thường vát nghiêng từ sàn lên mái. Khi bắt đầu làm nhà, già làng đào một hố nhỏ để chôn cột chính, trong hố bỏ một vài cục than hồng rồi mới trồng cột lên, với ý nghĩa than hồng làm ấm áp ngôi nhà đồng thời là dạng “chú yếm” để ma quỷ không xâm nhập. 

Gạo là lương thực chính của người Mạ và Chơro. 2 dân tộc này cũng có tập quán nấu cơm trong ống tre lồ ô (cơm lam, tiếng Chơro là piêng đinh), thuận lợi cho môi trường sống trong rừng nhiều ngày khi đi làm rẫy hoặc săn thú. Gạo nếp thì được nấu thành xôi hay làm bánh dày (piêng puh) trong các dịp lễ tiết. Người Mạ và Chơro cũng ăn lương thực phụ là khoai mì, bắp, củ nần, củ chụp. Về thực phẩm, người Mạ và Chơro khai thác chủ yếu từ môi trường xung quanh như: cá suối, cá sông, ốc, tôm tép, thịt rừng, rau rừng các loại (rau má, rau nhíp, rau dền, đọt rau lang, mướp, bí, bầu, măng, đọt mây) được chế biến đơn giản bằng cách luộc, nấu canh, nướng. 

Người Mạ và Chơro cũng có tập quán chế biến rượu cần để uống và sử dụng trong lễ tiết, lễ hội; là lễ vật dâng lên thần linh và phương thức bày tỏ lòng mến khách. Rượu cần chế biến từ gạo nấu thành cơm, trộn thêm trấu bổi và men rượu làm từ lá, vỏ và rễ một số loại cây rừng (lá cây Gàng, lá cây Vlân, vỏ cây Ktờram…). Theo già làng Năm Nổi ở làng Chơro ấp Lý Lịch, có đến 37 loại lá, vỏ, rễ cây để làm men rượu cần. Nguyên liệu chế biến rượu cần được cho vào ché sành, ủ trong một vài tháng. Khi uống rượu cần thì đổ nước vào ché, hút bằng cần (làm từ ống trúc nhỏ). 

* Đời sống văn hóa phong phú 

Trang phục truyền thống của người Mạ và Chơro khá đơn giản: đàn ông mặc khố, phụ nữ mặc váy, tất cả đều ở trần, trời lạnh thì khoác thêm tấm chăn trần (sau này nam nữ đều mặc áo). Ban đầu, y phục được làm từ vỏ cây rừng lành tính không có độc, đem đập giập, phơi khô rồi kết lại bằng các sợi dây. Sau này, phụ nữ Mạ và Chơro biết xe sợi, dệt vải thổ cẩm và may quần áo. Thổ cẩm của người Mạ lấy màu trắng làm chủ đạo, còn người Chơro là màu nâu đất. Hoa văn thổ cẩm Mạ dạng hình học đơn giản nhưng váy áo được may khá cầu kỳ, thường được trang trí các viền tua len đỏ, đồng tiền bạc, khoen bạc, lục lạc. Trong khi đó, hoa văn trên vải của người Chơro là đầu chà gạc (tong yih), đường viền (tong têch), mắt cú mèo (mat ncau), khung quay sợi (khiya)… 


Không chỉ phụ nữ Mạ, mà đàn ông Mạ cũng thích sử dụng trang sức. Những đồ trang sức truyền thống như: vòng đeo cổ, vòng đeo tay, hoa tai (làm bằng chất liệu ngà voi, đồng, bạc hoặc ống tre), dây quấn đầu dệt từ sợi có hoa văn. Tục đeo hoa tai gắn liền với tục căng tai, căng càng lớn càng thể hiện “bản lĩnh đàn ông”. Đầu tóc đàn ông Mạ để dài, cắt thành riềm ở trán; búi tó ở gáy được giữ chặt bằng kẹp đôi bằng đồng thau, tô điểm thêm những chiếc lược, hạt trai có màu, con dao nhỏ cán cong, lông chim óng ánh, búp tô len đỏ. Phụ nữ Mạ thì thích quấn trên cổ những chuỗi hạt cườm nhiều màu sắc, gắn thêm những đồng bạc hoặc khoen bạc, khoen ngà voi. 

Về âm nhạc, tại khu vực người Mạ từng sinh sống đã phát hiện đàn đá, nhưng chưa xác định chính xác người Mạ là chủ nhân. Người Mạ hiện còn sử dụng các loại nhạc cụ như: đàn tre (ding dut, có 6 dây), kèn mô (tồng), kèn t’diếp (giống tù và), kèn bầu (làm từ trái bầu và 8 ống nứa), cồng, chiêng, chinh. Tương tự, người Chơro có các nhạc cụ: chinh, chiêng, goong k’la, kèn lúa, kèn môi, talood (nhạc cụ gõ làm từ thân gỗ). Cả 2 dân tộc đều có các bài dân ca về đề tài sinh hoạt lao động, tình yêu, hát ru, đồng dao… với đặc điểm là ngắn, ca từ mộc mạc, đơn giản; múa dân gian… 


Có một vương quốc Mạ?


Trên địa bàn của người Mạ sinh sống hiện nay, các nhà khảo cổ đã thu thập được nhiều hiện vật, khai quật di chỉ cho thấy dấu vết của những lớp cư dân cổ. Trong đó, một phát hiện quan trọng vào năm 1986 về một quần thể phế tích kiến trúc chạy dài gần 15km dọc theo bờ Bắc thượng nguồn sông Đồng Nai (thuộc địa bàn huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng). Ngoài chất liệu đá, gạch đa dạng dùng để kiến trúc đền tháp, còn có bộ ngẫu tượng linga - yoni, tượng Ganesa, mảnh vỡ các loại bình, cốc, chân đèn, lọ; các loại hiện vật bằng bạc, đồng, sắt, đặc biệt là 166 hiện vật chế  tác từ kim loại màu vàng (mảnh trang trí các vị thần vũ nữ, thiên tiên theo đề tài tôn giáo và sử thi Ấn Độ, mảnh vàng khắc văn tự, tự dạng Sanskrit thế kỷ 10-11.


Những phát hiện khảo cổ trên đã dẫn đến một số ý kiến phỏng đoán của các nhà dân tộc học: Khu di tích Cát Tiên có thể là một phần của văn hóa Óc Eo. Khi văn hóa Óc Eo bị lịch sử chi phối dần lụi tàn thì nơi đây vẫn tồn tại và độc lập trở thành thánh địa của một tiểu quốc mà lịch sử gọi là Nhà nước Mạ - S’tiêng, một tiểu quốc nằm giữa 2 quốc gia Chămpa và Phù Nam, mà chủ nhân của thánh địa là tộc người Mạ - S’tiêng, phù hợp với những truyền thuyết dân gian để lại trên vùng đất Nam Tây Nguyên về một Nggar Chau Mạ (nước người Mạ) có lãnh thổ nằm trên phần lớn cao nguyên Di Linh, từ Đạ R’Nga (sông La Ngà) kéo dài đến vùng Đức Trọng (tỉnh Lâm Đồng) và Bình Thuận, Bình Phước hiện nay. Khi chúa Nguyễn mở rộng bờ cõi về phía Nam, nước người Mạ không thể tồn tại độc lập nữa vì nằm ngay trên đường giao thông từ Khánh Hòa - Bình Thuận vào Biên Hòa - Gia Định, nên suy tàn và các bộ lạc tản cư lên địa bàn hiện nay.

 

PGS-TS. Lâm Nhân

Dấu ấn người Hoa ở Đồng Nai

đăng 21:06, 27 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 01:57, 25 thg 7, 2018 ]

Có mặt từ rất sớm tại vùng đất Đồng Nai, khởi đầu là nhóm Hoa kiều của Trần Thượng Xuyên vào năm 1679, cộng đồng người Hoa đóng góp rất quan trọng trong quá trình mở cõi và phát triển kinh tế của Đồng Nai, đồng thời tạo dấu ấn văn hóa độc đáo nơi vùng đất mới. 

Miếu thờ Tam vị tổ sư (còn gọi là miếu Bà Thiên Hậu, phường Bửu Long, TP.Biên Hòa) do người Hoa lập cách đây mấy trăm năm 


Trong lịch sử, cộng đồng người Hoa từ Trung Quốc di cư đến Đồng Nai thành nhiều đợt, gồm các nhóm phương ngữ: Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu và Hẹ - Sùng Chính, trong đó có số ít là Hải Nam (còn được gọi là nhóm Hoa bốn bang); sau này còn có thêm nhóm người Hoa từ tỉnh Hải Ninh di cư vào Đồng Nai, hiện chiếm hơn 80% số người Hoa của cả tỉnh. 

* Góp phần xây dựng quê mới phồn thịnh 

Tuy buổi đầu số lượng người Hoa di cư đến Đồng Nai rất ít ỏi so với số lưu dân Việt định cư trước đó, nhưng với thế mạnh và sở trường là thương nghiệp, dịch vụ, người Hoa đã góp phần đưa kinh tế của Đồng Nai khởi sắc, tạo được uy thế và ổn định nơi vùng đất mới. Những người Hoa theo Trần Thượng Xuyên đã xây dựng Cù lao Phố trở thành trung tâm thương mại gọi là Nông Nại đại phố - một trong những thương cảng lớn nhất Nam bộ lúc bấy giờ, thu hút các thương nhân từ Trung Hoa và các nước khác đến. 

Một số người Hoa thuộc nhóm Triều Châu thì thạo nghề trồng rau cải, hoa màu. Sở Cải là địa danh chỉ khu vực trồng rau, hoa màu của người Hoa bang Triều Châu từ Cây Chàm (nay thuộc phường Quang Vinh) lên đến Tân Thành, Bửu Long (phường Bửu Long, TP.Biên Hòa). 


Hơn 320 năm sống trên quê hương mới, cộng đồng người Hoa với truyền thống văn hóa lâu đời luôn ý thức giữ gìn và phát huy đời sống văn hóa xã hội trong cộng đồng các dân tộc. Ngày nay, người Hoa cùng với người Việt và các dân tộc cùng đoàn kết chung sức chung lòng xây dựng quê hương Đồng Nai ngày càng trở nên vùng đất giàu tiềm năng và đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.

Người Hoa ở Đồng Nai làm nhiều nghề thủ công, nhưng có 2 nghề tiêu biểu nổi tiếng một thời, sản xuất có quy mô tập trung và còn tồn tại đến nay. Đó là nghề làm gốm lu ở Tân Vạn (nay thuộc phường Bửu Hòa, TP.Biên Hòa) và nghề đục chạm khắc đá xanh ở Bửu Long. Làng nghề đá Bửu Long từng nổi tiếng một thời với những sản phẩm đá, đặc biệt là sản phẩm đá tiêu biểu trang trí và xây dựng trong các đền, miếu Hoa ở Nam bộ. Một số công trình kiến trúc tín ngưỡng còn lưu lại vết tích của làng nghề như: vách tường, cột bằng đá ở Thất phủ cổ miếu (chùa Ông, xã Hiệp Hòa, TP.Biên Hòa), Thiên hậu cổ miếu (phường Bửu Long). Những cái tên quen thuộc như: Tân Phát Hưng, Đặng Hữu Lợi, Bửu Long, Tín Nghĩa, Tân Vĩnh Quang, Nhật Thành, Ôn Sòi… đã góp phần tạo nên thương hiệu cho làng đá của người Hẹ ở Bửu Long một thời. 


Ngoài ra, người Hoa Đồng Nai mà phần lớn người Hoa bang Hẹ - Sùng Chính còn có nghề chế biến thuốc Bắc gia truyền và trị bệnh theo Đông y. Những hiệu thuốc Bắc nổi tiếng của người Hẹ ở Đồng Nai trước đây như: Vạn An đường, Đồng Tế đường, Đồng Đức đường, Chí Sanh đường... 

Kinh doanh dịch vụ ăn uống cũng là đặc điểm nổi bật trong hoạt động kinh tế của người Hoa. Người Hoa ở các khu đô thị đã tạo nên những dãy phố ăn uống mang thương hiệu riêng. Những tiệm ăn tiêu biểu của người Hoa ở Biên Hòa như: tiệm cơm Bách Lạc, bánh ướt Chú Tàu, tiệm Hảo Hiệp (đường Hà Huy Giáp), quán cơm Siu Siu (đường Hưng Đạo Vương), tiệm vịt quay Hạnh Phước (đường Phan Đình Phùng), tiệm mì Vĩnh Vĩnh, tiệm mì Hào Kiệt (đường 30-4)… đều là những tiệm ăn nổi tiếng của người Hoa với những món ăn truyền thống: bánh bao, hủ tiếu mì, hoành thánh, cháo Tiều, vịt quay, cơm chiên, cơm gà luộc... Tiệm Nghĩa Ký ở TX.Long Khánh và một số địa phương khác cũng có những tiệm ăn nổi tiếng của người Hoa. 

* Giữ gìn bản sắc văn hóa 

Đời sống văn hóa của người Hoa thể hiện trên nhiều mặt: nhà ở, ăn uống, trang phục, phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo, lễ hội… rất phong phú với những sinh hoạt đặc trưng về văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Khi Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh thành lập dinh Trấn Biên đã đưa người Hoa khu vực này vào đơn vị hành chính là xã Thanh Hà. Sau này, người Hoa phân tán sống xen kẽ với người Việt, kiến trúc nhà ở cũng dần dần giống nhà người Việt, tuy nhiên trước cửa nhà của người Hoa thường có dán giấy hồng đều viết chữ bằng tiếng Trung (Phúc, Ngũ phúc lâm môn...), hoặc dán câu đối, hoa mẫu đơn (tượng trưng cho sự giàu có); ngày tết thường treo đèn lồng đỏ. Phần lớn bảng hiệu của người Hoa đều viết chữ song ngữ Việt - Hoa rất dễ nhận biết. 

Người Hoa vốn có truyền thống tổ chức xã hội và giữ quan hệ cộng đồng khá chặt chẽ, ban đầu khi đến vùng đất mới đã sống tập trung theo từng bang hội để bảo bọc giúp nhau làm ăn, đặc biệt là bảo lưu truyền thống văn hóa của bổn tộc. Đặc biệt, cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai tự xây dựng các công trình công cộng như: chùa, miếu, trường học, hội quán, công sở… để tiện sinh hoạt theo phong tục, tập quán truyền thống. Một số cơ sở tín ngưỡng của người Hoa tồn tại hàng trăm năm nay như: Thất phủ cổ miếu, miếu Quan âm, miếu Bà Thiên hậu… thu hút không chỉ cộng đồng người Hoa mà có cả người Việt. Mỗi bang người Hoa đều có nghĩa trang (nhị tì) riêng, người thuộc bang nào thì khi qua đời được an táng trong nhị tì của bang đó. Những nơi đông người Hoa cư trú đều có xây dựng trường học, tổ chức dạy tiếng Hoa cho con em và cả người Việt có nhu cầu với mục đích vừa nâng cao dân trí, vừa giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc. 

Thường ngày, người Hoa mặc quần áo giống người Việt, trang phục truyền thống chỉ dùng mặc trong những dịp lễ tết ở gia đình, đình, miếu hay trong các dịp lễ hội. Món ăn tiêu biểu của người Hoa là: mì, hoành thánh, hủ tiếu, khâu nhục, cháo Tiều, lạp xưởng, vịt quay, xá xíu, bánh bao, bánh bò, há cảo, sủi cảo, mì xào giòn, cơm chiên Dương Châu… 

Đời sống văn hóa tinh thần người Hoa đa dạng, thể hiện trong phong tục tập quán như: đám cưới, đám tang, ma chay, lễ tết, sinh hoạt văn hóa nghệ thuật. Trong số lễ vật cưới của người Triều Châu thường có trái cau duy nhất với ý nghĩa người con gái chỉ là vợ của một người, cô dâu khi về nhà chồng đem theo cặp cây mía biểu thị hạnh phúc ngọt ngào. Người Quảng Đông thì làm bánh bò nổi (pha cú) hoặc có tục lệ ăn chè ỷ (giống bánh trôi viên tròn, không có nhân) tượng trưng cho sự viên mãn, con đàn cháu đống. 

Lễ hội phổ biến của người Hoa ở Đồng Nai đa phần là lễ hội dân gian như: lễ làm chay vía Tổ nghề, lễ vía Thiên Hậu, lễ hội chùa Ông (Thất phủ cổ miếu), lễ Tả Tài Phán, Tết Nguyên tiêu, tiết Thanh Minh, lễ cầu siêu, tiết Trung nguyên, Tết Hạ nguyên, vía Quảng Trạch tôn vương, vía Phước Đức chính thần… Ngoài những dịp tết và vía đầu năm, những lễ hội còn lại gắn với các đối tượng thờ tự ở cơ sở tín ngưỡng tôn giáo. Trong lễ hội thường có tổ chức đấu giá đèn lồng, hát bội và múa lân - sư - rồng. Những đội lân, hẩu nổi tiếng của người Hoa ở Biên Hòa trước đây như: Thạch Sơn Liên Thắng đường, Tân Khánh đường, Đại Khánh đường… phục vụ trong các dịp lễ, tết của bà con người Hoa lẫn người Việt ở địa phương. 


Tản mạn về một danh xưng cũ


Trước đây, trong dân gian người Việt thường gọi người Hoa cư trú ở khu vực Nam bộ là Ba Tàu. Vậy, danh xưng Ba Tàu ở đâu ra?


Nhiều người cho rằng: từ “Ba”, liên quan đến sự kiện chúa Nguyễn cho phép 3 đoàn người Hoa đến nước ta làm ăn sinh sống, gồm đoàn của Trần Thượng Xuyên ở vùng Cù Lao Phố (tỉnh Đồng Nai), đoàn của Dương Ngạn Địch ở Mỹ Tho (tỉnh Tiền Giang) và đoàn của Mạc Cửu ở Hà Tiên (tỉnh Kiên Giang); từ “Tàu” bắt nguồn từ phương tiện đi lại của người Hoa khi sang nước ta là tàu bè.


Danh xưng “Tàu” đã được học giả An Chi trong quyển Chuyện đông chuyện tây (tập 7, Nhà xuất bản Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh) giải thích rõ hơn như sau: trước khi 3 nhóm người Hoa của Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch, Mạc Cửu đến nước ta vào năm 1679, trong Tự điển Việt Bồ La của linh mục Alexander De Rhodes ấn hành tại Roma năm 1651 đã xuất hiện danh xưng “Tàu” (mực Tàu). “Thời Bắc thuộc của nước ta chính thức bắt đầu từ nhà Hán. Từ nhà Hán trở đi, gọi quan đều dùng từ tào, gọi quan giúp việc là thuộc tào, gọi lính là thị tào. Thế là trong thời kỳ này, dân ta khi đi vào cửa quan đều gặp tào (từ tào cho đến thuộc tào, rồi thị tào), mà âm xưa là tàu. Tất cả các ông “tàu” đều là người Hán. Do đó mà trong con mắt của dân ta thì Hán = Tàu. Rồi về sau, những người Hán (Trung Hoa) không làm quan cũng được “ăn theo” mà được gọi là “Tàu” (Chuyện đông chuyện tây). Như vậy, Tàu là danh xưng có trên 2 ngàn năm.


Từ Ba Tàu ban đầu mang nghĩa coi thường, nhưng sau này không còn thấy xuất hiện nữa.


Hà Lam


    TS.Nguyễn Thị Nguyệt

Báo Đồng Nai online - 14/04/2018

Xuân cuối trên làng gốm cổ nhất Nam bộ

đăng 18:36, 15 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Nét cổ kính, màu men đặc trưng của làng gốm nằm bên sông Đồng Nai đã trở nên quá quen thuộc với người dân ở Tân Vạn, TP Biên Hòa. Tết Ất Mùi sẽ là tết cuối ở đây bởi các lò gốm phải di dời vào cụm công nghiệp gốm sứ Tân Hạnh vào cuối năm nay.

Được hình thành khoảng 300 năm từ những cư dân khai phá đất phương nam, làng gốm cổ Tân Vạn nằm nép mình bên dòng sông Đồng Nai hiền hòa thuộc các phường Tân Vạn, Bửu Hòa, TP Biên Hòa. Chính từ làng gốm đầu tiên này mới lan tỏa hình thành các làng gốm vệ tinh xung quanh như Bình Dương, TP HCM. 


Từ những buổi ban đầu, sản phẩm làm ra chủ yếu là lu, hũ, chậu, ghè, bình... xuôi về các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, ra Bình Thuận, vượt sóng đến Phú Quốc để dùng trong các công việc hằng ngày. 


Anh Trương Vĩnh (47 tuổi), một nghệ nhân gốm gắn bó từ nhỏ cho biết hiện nay phần lớn là nghệ nhân lớn tuổi, giới trẻ hầu như không còn mặn mà với nghề của cha ông. "Có lẽ là mùa xuân cuối cùng làng gốm tồn tại, sang năm tất cả các làng gốm phải về cụm công nghiệp gốm sứ Tân Hạnh... Mấy chục năm gắn bó với đất, bàn xoay, gốm và vùng đất Tân Vạn nên cũng cảm thấy buồn buồn", anh Vĩnh tâm sự. 


Để có những tác phẩm đi khắp bốn phương, những nghệ nhân làng gốm cổ nhất Nam bộ tỉ mỉ từng chi tiết, tâm huyết với dòng men để tạo ra những sản phẩm chất lượng. Theo các bậc cao niên ở làng gốm, ngày xưa các dòng men là bí quyết gia truyền rất khó lọt ra ngoài để giữ được hồn của gốm. 


Những ngày cận Tết, không khí làm việc tại các cơ sở gốm mỹ nghệ trở nên lặng lẽ. "Đây là cái Tết cuối cùng chúng tôi làm việc bên những xưởng gốm cổ, gắn bó với cả cuộc đời con gái", một phụ nữ cho biết. 


Gốm mỹ nghệ Biên Hòa hiện nay dù vẫn sáng tạo nhiều kiểu mẫu, màu sắc nhưng màu men thì vẫn luôn giữ được nét đặc trưng của gốm sứ xưa. 


"Nghề làm lu ở Biên Hòa phần lớn vẫn làm bằng thủ công, mỗi công đoạn có một người phụ trách nên năng suất đã dần cải thiện. Ngoài yếu tố đặc trưng về mẫu mã mới thì chất lượng luôn được những người làm gốm chúng tôi đặt lên hàng đầu", chú Minh Tuấn nói. 


Với việc nung gốm, lu bằng thủ công củi lửa khiến hạn chế lớn nhất của các lò gốm Tân Vạn là ô nhiễm môi trường. Đây cũng chính là nguyên nhân buộc UBND tỉnh Đồng Nai phải quy hoạch khu gốm sứ quy hoạch một chỗ để áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm hạn chế ô nhiễm. 


Màu men luôn là điểm mạnh của gốm Biên Hòa khó lẫn với tất cả các dòng sản phẩm ở địa phương khác. Các sản phẩm gốm mỹ nghệ Biên Hòa từng tham gia các triễn lãm lớn, được nhiều huy chương bằng khen danh dự của Pháp, Nhật, Thái Lan... 


Làng gốm cổ nằm bên sông Đồng Nai thơ mộng từ lâu là điểm đến tham quan của tuyến du lịch đường sông từ TP HCM, Bình Dương. 


Đường làng khoác lên vẻ đẹp cổ kính với đất đỏ, những chiếc lu gốm bắt mắt hai bên đường cuốn hút du khách mỗi độ xuân về. 


Hoàng Trường

Độc đáo tập quán dựng nhà của người Chơ Ro

đăng 08:54, 27 thg 5, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Bằng những nguyên liệu của thiên nhiên mà núi rừng ban tặng,với đôi bàn tay khéo léo, người Chơ Ro đã cất lên được những ngôi nhà sàn độc đáo mang bản sắc riêng. Việc dựng một ngôi nhà sàn đòi hỏi không ít thời gian và nhân công, đặc biệt là khâu chuẩn bị nguyên vật liệu. 

Tập quán dựng nhà của người Chơ Ro

Các loại gỗ rừng, để nguyên cây dùng làm cột nhà; các loại tre, nứa, lồ ô,..dùng đan vách và sàn nhà; Lá trung quân,cỏ tranh dùng để lợp mái,dây mây để buộc. Đặc biệt, về nguyên liệu gỗ làm cột nhà phải thẳng, không có các dây leo bám tren thân cây. 

Theo quan niệm của người Chơ Ro, nếu chọn cây có dây leo bám xung quanh để làm cột nhà thì cuộc sống gia đình sẽ không thoải mái hay bị ràng buộc. Việc quan trọng trong tập quán dựng nhà của người Chơ Ro chính là phải chọn đất để xem hướng nhà. Đất được chọn thường là nơi gần suối, tiện cho việc sinh hoạt thường ngày của gia đình sau này. 


Theo tục lệ, trước khi dựng nhà người dân vạch một đường thẳng nhỏ, xếp bảy hạt gạo trên đường thẳng đó rồi lấy bát úp lại. Sáng hôm sau, nếu bảy hạt còn nguyên vẹn, không xê dịch thì đất đó tốt, dựng nhà được. Người Chơ Ro cho rằng đất ở đó yên ổn, không có các côn trùng gây hại như mối mọt và là điềm báo sự đồng ý của thần linh. 

Người Chơ Ro thường làm nhà vào mùa khô để ngôi nhà được chắc chắn, thuận lợi trong việc tiến hành làm nhà. Trong vòng 4 tuần, với những dụng cụ đơn giản như chà gạc, dao côi, búa, những bàn tay khéo léo của những người thợ không chuyên nơi đây đã tạo dựng được một ngôi nhà sàn. 


Hướng của cửa nhà là hướng bắc hoặc hướng nam, để hàng ngày, mặt trời đi qua ngang nhà. Nhà ở thường vuông góc với hướng di chuyển của mặt trời. Người Chơ Ro không làm cửa hướng tây hoặc hướng đông, vì như vậy, mặt trời sẽ đi dọc theo chiều dài căn nhà, các gia đình trong nhà sẽ nóng bức, đau ốm thường xuyên... 

Trong nhà là sự quần trú của đại gia đình nhiều thế hệ. Sự phân chia chỗ ở cho thành viên được quyết định bởi người chủ gia đình, thường theo thứ tự đầu nhà phía đông hay phía đầu tiên cho người lớn tuổi.Nhà bếp thường đặt phía trái cửa vào của nhà sàn. Khi bước vào nhà là gian bếp, phòng chung (tụ họp gia đinh và đón khách), kế đến là các gian buông của các thành viên được chia ngăn. 

Những biến đổi trong tập quán dựng nhà của người Chơ Ro hiện nay

Tập quán ngày nay có nhiều thay đổi. Ngôi nhà sàn của người Chơ Ro thường được dựng theo hai công đoạn. Công đoạn đầu tiên là dựng mái nhà. Khi dựng bộ khung mái nhà, người dân nối các thanh tre tạo thành những vì kèo bằng dây mây chằng khít, chặt và đẹp. Kèo trên mái nhà phải được buộc đều theo một phía: hoặc cùng bên phải, cùng bên trái, nếu không mọi người trong gia đình hay mâu thuẫn. 

Số lượng lớp lá lợp mái phải là số lẻ, không được chẵn. Người dân quan niệm “sinh, thọ, lão, tử”, vì vậy số lượng lớp mái phải tránh số chẵn. Sau đó là việc lắp ráp bộ khung nhà trên nền đất bằng phẳng, tiếp đó kèo của mái nhà được đặt khớp với các đầu cột đã được dựng sẵn. 

Khi khung nhà đã tương đối hoàn chỉnh, người ta tiến hành hoàn thiện các phần còn lại của ngôi nhà. Sàn nhà được làm bằng thân tre đập dập, trải ngang đều trên khung sàn nhà, dùng dây mây buộc cho chắc chắn. Dọc theo chiều dài của sàn nhà, ngoài các đà ngang, dọc đã được dựng sẵn, người ta đặt một thanh gỗ lớn, phẳng lệch về phía Tây, mọi người trong dòng họ và gia đình đi lại trên thanh gỗ này để tránh tiếng động, làm phiền đến người khác. 


Vách nhà cũng được làm bằng thân tre, đập dập và cột bằng dây mây. Vách nhà của người Chơ Ro khá độc đáo, thường được đặt nghiêng khoảng 15 độ, mục đích đặt nghiêng như vậy để làm chỗ dựa lưng khi ngồi. Trên nhà sàn của người Chơ Ro không có bàn ghế, họ dựa lưng vào vách nhà để ngồi nói chuyện, uống nước. Đồng thời, dọc theo vách ngang tầm mắt người ngồi được để hở để đón nhận ánh sáng, lưu thông không khí và nhìn ra phía ngoài. 

Bàn thờ thần thường được bố trí ở giữa ngôi nhà, hướng mặt trời mọc. Bếp của mỗi gian nhà được đặt ở góc bên trái, phía Tây Đặc biệt, phía cửa ra vào của mỗi ngôi nhà thường treo tổ ong vò vẽ khô (không còn ong). Theo lý giải của người dân, khi con ma định vào nhà làm hại gia đình, nó sẽ nhìn thấy tổ ong đầu tiên. Con ma sẽ đếm các lỗ của tổ ong trước, tổ ong có nhiều lỗ nên con ma sẽ khó đếm và dẫn đến việc đếm nhầm, phải đếm đi đếm lại nhiều lần, đến khi trời đã sáng vẫn đếm chưa xong, không vào nhà quấy phá gia đình được. 

Trong suốt quá trình làm nhà, gia đình chủ nhà thường có 2 lần làm lễ cúng thần đất và tổ tiên. Lần thứ nhất và lần thứ hai là khi việc cất nhà hoàn thành. Nhà sàn dài là nơi sinh sống của các dòng họ trong cộng đồng người Chơ Ro. 

Đối với đồng bào Chơ Ro, ngôi nhà sàn không chỉ mang giá trị vật chất mà con ẩn chứa trong đó nếp ăn, nếp nghĩ, nếp sinh hoạt tạo nên một nét văn hóa nhà sàn mang tính cộng đồng, độc đáo.

Mỹ Bình

Vườn dâu sai trái trĩu cành ở Đồng Nai

đăng 05:11, 21 thg 5, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Những vườn dâu với trái chi chít bao bọc khắp thân và cành cây của vùng miệt vườn Đồng Nai khiến người nhìn phải ồ lên trầm trồ thích thú. 

Đã mắt với vẻ đẹp trĩu cành của vườn dâu ở vùng miệt vườn Đồng Nai


Những ngày này, các nhà vườn ở xã Tam An, Lộc An, An Phước (H.Long Thành), Long Tân, Phú Hội (H.Nhơn Trạch) của tỉnh Đồng Nai, đang bước vào mùa thu hoạch trái dâu. Trước đây, các hộ dân chỉ trồng một vài cây để lấy bóng mát và trái để ăn chơi. 

Những năm gần đây, dâu bán được giá nên nhiều hộ đã trồng với diện tích lớn để kinh doanh. Những vườn dâu với trái dày đặc bao bọc từ gốc lên cành tạo thành từng chùm dài buông xoã xuống như bức rèm khiến người nhìn phải trầm trồ thích thú.

Mùa dâu ở Đồng Nai bắt đầu từ tháng giêng cho đến hết tháng 6, nhưng chính vụ vào tháng 4, lúc cả cây dâu chín vàng rực bao phủ kín mít khắp thân và cành. 


Ông Huỳnh Văn Lang (63 tuổi, ấp 2, xã An Phước, H.Long thành), chủ của vườn dâu hơn 1ha cho hay, trước kia địa phương chỉ có giống dâu rừng, ra trái rất chua nên ít người mua. Người dân đã tìm cách cấy ghép gốc dâu rừng với giống dâu xiêm để cho cây dâu ra trái sớm, sai và thanh ngọt cho hiệu quả kinh tế khá cao gấp chục lần. 


Cây dâu xiêm rất sai và trái lớn. Mỗi dây trái thường dài từ 25 cm đến 35cm, thậm chí có dây dài tới 50cm, cân nặng tới gần 1kg. 


Trái dâu khi chín chuyển màu ngả vàng rất bắt mắt. Lúc thu hoạch dâu, người ta phải dùng kéo cắt từng chùm và đặt nhẹ nhàng vào giỏ. Nếu làm va đập mạnh thì trái dâu sẽ đứt khỏi chùm và vỏ thâm đen rất khó bán. 


Cây dâu xiêm chỉ cần trồng khoảng 3 năm là bắt đầu ra trái, trung bình mỗi cây cho từ 2 - 2,5 tạ trái/vụ. 


Mỗi vụ, cây dâu có thể ra tới 3 lứa trái xen kẽ nhau nên nhà vườn có thể thu hoạch liên tục trong nhiều tháng liền. Hoa dâu màu trắng bám theo cuống thành từng sợi dài như bức rèm đong đưa trong gió. Cây dâu đực khá nhỏ, chỉ ra hoa mà không đậu trái. Theo nhà vườn, tuỳ theo mật độ cây mà trồng xen vào một vài cây dâu đực và chăm sóc cho bông nở cùng dịp với cây dâu cái để thụ phấn thì năng suất mới cao. 



Trái dâu thường bị chuột, dơi cắn phá nhưng ít ảnh hưởng. Mối nguy hại lớn nhất đến từ ruồi vàng đục quả, do đó người dân phải dùng thuốc treo lên cây để nhử bắt ruồi vàng. 


Theo nhà vườn, cây dâu sinh trưởng phát triển mạnh là vậy nhưng cũng rất khó tính, phải trồng ở vùng mát đất như: đất gò và đất thịt và vùng đất thấp có con nước từ các nhánh sông, kênh rạch lên xuống chảy vào. Nhiều nơi trồng cây dâu vẫn phát triển ra hoa nhưng không đậu trái hoặc ra ít trái, bị lép và ăn không ngon. Ngoài ra cây dâu cũng rất kị ô nhiễm, chỉ cần nguồn nước bị ô nhiễm, có hoá chất, thuốc diệt cỏ,... là cây dâu không ra trái, héo úa rồi chết dần. 


Các vườn dâu ở xã Phú Hội, An Phước được trồng tới nay cũng hơn chục năm, có vườn toàn cây cổ thụ tuổi từ 15- 20 năm. Cây dâu càng lớn, càng lâu năm thì trái càng nhiều, cành lá xum xuê xanh tươi quanh năm. 


Cây dâu được người dân quan tâm chăm chút, tỉa tán, chăm bón nên càng sai trái đến trĩu oằn cành lá. 


Mấy năm nay trái dâu được mùa được giá nên nhà vườn rất phấn khởi. Trái dâu đầu vụ được bán tại vườn với giá 25 ngàn đồng/kg, chính vụ giá từ 10 đến 15 ngàn đồng/kg. 


Trái dâu hái xuống được nhà vườn bó thành từng chùm khoảng 2kg và được mối đến thu mua ngay tại vườn. 


Cây dâu xiêm trồng ở vùng miệt vườn Đồng Nai cho trái to tròn, thịt dày và thanh ngọt đậm đà hơn dâu trồng các vùng khác nên có giá đắt hơn từ 2- 3 ngàn đồng/kg. 


Trung bình mỗi ha dâu cho thu nhập từ 150 - 200 triệu đồng, nhờ trồng dâu mà người dân có thêm chi phí để chăm lo cuộc sống no đủ và sung túc hơn. 


Tiểu Thiên

Nuôi gà thảo mộc ở Định Quán

đăng 19:25, 3 thg 1, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Nuôi gà thảo mộc, hay còn gọi là thảo dược, khác với những mô hình nuôi khác ở chỗ người nuôi bổ sung vào khẩu phần thức ăn nhiều loại thảo dược tốt có lợi cho sức khỏe của gà, góp phần thay thế hoàn toàn các loại kháng sinh và chất kích thích tố tăng trọng thường sử dụng trong quy trình nuôi gà bình thường.


Nuôi gà thảo mộc là mô hình chăn nuôi kiểu mới không sử dụng kháng sinh, giúp cho thịt gà có hương vị thơm ngon, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng. Bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) là người tiên phong trong việc nuôi gà thảo mộc ở tỉnh Đồng Nai.

Từ lâu, ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm đã hướng tới nền chăn nuôi sạch, bền vững và xu hướng này trở nên khá phổ biến trên thế giới. Nắm bắt được xu thế đó và nhận biết nhu cầu thị trường luôn ưu tiên sử dụng sản phẩm sạch, chất lượng, từ năm 2011, bà Cao Thị Ten đã tiến hành nuôi thử nghiệm lứa gà thảo mộc đầu tiên.


Trang trại nuôi gà thảo mộc của bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai).


Cây hương thảo, một trong những loài thảo mộc được chế biến sử dụng làm thức ăn nuôi gà.


Thức ăn thảo mộc được sử dụng trong chăn nuôi gà ở Định Quán.


Nuôi gà bằng thảo mộc hiện là mô hình chăn nuôi kiểu mới không sử dụng kháng sinh.


Tiêm vacxin phòng bệnh cho gà thảo mộc.


Từ tháng thứ hai, gà giống mới được cho ăn thức ăn trộn thảo mộc.


Với kinh nghiệm và tâm huyết sau 20 năm làm nghề chăn nuôi, bà Cao Thị Ten, một trong những người đi tiên phong và thành công trong việc nuôi gà thảo mộc.


Gà đạt trọng lượng trung bình từ 1,3-1,8kg thì có thể xuất chuồng.


Trang trại nuôi gà thảo mộc của bà Cao Thị Ten đã được cấp chứng nhận VietGAP và giấy chứng nhận chuỗi an toàn thực phẩm. 


Theo bà Ten, để chất lượng thịt gà thảo mộc đạt tiêu chuẩn đòi hỏi phải có một quy trình nuôi công phu. Gà giống ban đầu để nuôi thảo mộc là loại gà ta được chăm sóc và tiêm chủng theo quy định nghiêm ngặt. Từ tháng thứ hai, gà mới được cho ăn thức ăn trộn thảo mộc và giảm thức ăn sao cho gà đạt trọng lượng trung bình từ 1,3-1,8kg chứ không được lớn hơn. Điều quan trọng là nguồn thức ăn phải đảm bảo đúng tỉ lệ theo công thức: Thảo mộc (dạng bột) được trộn đều với cám theo tỉ lệ 5/1.000, nghĩa là 5kg thảo mộc trộn với 1.000kg thức ăn.


Sau gần 5 năm nuôi gà thảo mộc, từ năm 2015, trang trại nuôi gà thảo mộc của bà Cao Thị Ten đã đạt chứng nhận VietGAP (Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam) và được cấp giấy chứng nhận chuỗi an toàn thực phẩm.


Đến nay, dù đầu ra đã ổn định nhưng bà Ten vẫn luôn có trách nhiệm trong việc đảm bảo nguồn sản phẩm đầu ra, đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp tiêu thụ. Có thời điểm, trang trại nuôi gà thảo mộc của bà Ten đạt số lượng đàn gà lên đến 50.000 con, cung cấp cho thị trường 250-350 con gà/ngày. Giá gà thảo mộc luôn ổn định ở mức 68.000VND/kg. Bà Ten cho biết, ngoài việc chăm lo cho đàn gà, bà còn phải tính toán hợp lý việc nhập thêm các đợt giống mới, thường thì 20 ngày bà cho nhập một lần để số lượng sản phẩm gà thảo mộc xuất ra luôn đảm bảo cung cấp đủ cho thị trường.


Để mô hình nuôi gà thảo mộc đạt hiệu quả, bà Cao Thị Ten đã thành lập trang trại chăn nuôi quy mô lớn, đầu tư máy móc tự chế biến thức ăn. Hiện bà Ten cũng đang hướng đến việc sử dụng nguồn thảo mộc trong nước nhằm giảm chi phí và chủ động hơn khi mở rộng sản xuất.


Bài: Nguyễn Vũ Thành Đạt - Ảnh: Thông Hải

1-10 of 43

Comments