Làng nghề và tập quán của dân cư Đồng Nai

Bài mới

  • Rộn ràng mùa chem chép Cách nay trên chục năm, trong một lần cùng đồng nghiệp xuống xã Phước An (huyện Nhơn Trạch) để tìm hiểu cơ sở thực tế của câu ca dao Đồng ...
    Được đăng bởi Pham Hoai Nhan
  • Lược sử nghề chế biến rượu ở Bến Gỗ Vào cuối thế kỷ 16, đất Đồng Nai còn hoang sơ chưa được khai phá, dân cư thưa thớt, sản xuất thô sơ, trình độ xã hội thấp. Cuộc phân ...
    Được đăng 16:56, 4 thg 5, 2016 bởi Pham Hoai Nhan
  • Nghề đúc gang ở Thạnh Phú Hơn 200 năm nay, những lò đúc ở làng nghề đúc gang Thạnh Phú luôn đỏ lửa là minh chứng cho sức sống của một làng nghề truyền thống trên ...
    Được đăng 20:41, 11 thg 3, 2016 bởi Pham Hoai Nhan
  • Độc đáo mô hình mỹ nghệ từ gỗ tái chế Làng nghề gỗ mỹ nghệ xã Bình Minh, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai gần 40 năm qua là nơi nổi tiếng tái chế những mảnh gỗ vụn để tạo ...
    Được đăng 16:33, 27 thg 2, 2016 bởi Pham Hoai Nhan
  • Bưởi ngọt trên cù lao Tân Triều Cách trung tâm Tp. Biên Hòa khoảng 10km, cù lao Tân Triều (xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai) hiện là vùng chuyên canh cây bưởi và trở ...
    Được đăng 00:52, 28 thg 12, 2015 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 25. Xem nội dung khác »

Rộn ràng mùa chem chép

đăng bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật ]

Cách nay trên chục năm, trong một lần cùng đồng nghiệp xuống xã Phước An (huyện Nhơn Trạch) để tìm hiểu cơ sở thực tế của câu ca dao Đồng Nai: “Cá buôi, sò huyết Phước An/Gạo thơm Phước Khánh, tôm càng Tam An”… tôi được nghe ông Tư Nhu (Hồ Văn Nhu, Chủ tịch Hội Nông dân xã lúc bấy giờ, nay đã nghỉ hưu) nói một câu mà tôi cứ nhớ hoài: “Hình như ông trời thương dân vùng này nên mùa điều chín cũng là mùa chem chép ngon nhất. Chem chép thời điểm này, bắt được con có vỏ cỡ nào thì ruột gần cỡ nấy. Nấu canh chem chép cứ lựa trái điều già (đào lộn hột), giòn mà không chát để nấu thì không cần nêm nếm thêm gia vị gì cả. Cứ vậy mà ăn đến no cũng không muốn thôi!”.

* Món… “trời thương”!


Liền sau đó tôi được ông Ba Trá (Lý Văn Mười) ở ấp Vũng Gấm là một “thổ địa” của vùng sông nước Phước An, lòng chảo Nhơn Trạch tự tay nấu đãi món canh chem chép nấu điều. Nước canh nóng hổi, đậm đà vị ngọt, thơm, béo của thịt chem chép hòa cùng vị chua chua, chát chát của trái điều già tạo ra một hương vị thật độc đáo. Nước canh này chan vào bún, mới vừa húp mấy muỗng đã túa mồ hôi. Gắp vài con chem chép trắng ngần chấm vào dĩa nước mắm sống dằm ớt hiểm hườm hườm, đưa vào miệng nhai lại tiếp tục ứa mồ hôi, vì... quá đã. Ít có món nào ăn trong mùa nóng mà ngon đến không biết no như canh bún chem chép nấu với điều.


Mua bán chem chép ở vựa Tư Lớn. ảnh: B.Thuận


Vợ chồng ông Ba Trá là một trong những đầu bếp khéo tay “chuyên trị” chem chép nấu điều, chem chép hấp cuốn bánh tráng... Ông Ba Trá cho rằng: “Cái món canh chem chép nấu điều ở đây không nhà nào mà hổng nấu được và nấu ngon, vì ông trời thương cho dân Phước An cái “lộc” là hễ đến mùa điều thì chem chép mập, ngon. Bí quyết là ở chỗ nấu canh nên chọn trái điều già, chớ điều chín quá thịt nhão lại mất đi vị chát, hổng ngon!”.

Cũng như nhiều người dân sống “hai chân” (làm vườn trên đất giồng kết hợp đánh bắt thủy sản) hoặc dân chuyên nghề hạ bạc ở vùng ven rừng Sác này, những năm gần đây, ông Ba Trá cải tiến việc nấu món truyền thống của vùng sông nước này trở nên hiện đại hơn bằng cái lẩu điện bóng loáng, sạch sẽ, gọn gàng, đặt một cách trang trọng trên bàn làm cho việc thưởng thức món lẩu chem chép nấu điều luôn được nóng sốt, đậm đà, hấp dẫn. Sau đó, tôi đã rất nhiều lần về lại Phước An vào mùa điều để thưởng thức cái món... ”trời thương” này với nỗi thèm nhớ thật sự, dù sau này số phận con chem chép ở Phước An trở nên long đong, lận đận và có lúc gần như tuyệt tích do nạn ô nhiễm môi trường sinh thái quá trầm trọng. Do vậy, hương vị món “trời thương” này phôi pha nhiều lắm.

Hình như người dân khắp vùng Phước An, Long Thọ đều rất mê và biết nấu món này. Nhưng cũng lạ, ở 2 xã nằm trong hệ thống sông rạch thông thương với rừng ngập mặn có khá nhiều các quán đặc sản “nghêu sò ốc hến”, trong đó quán “Bác chưa say” (chiết tự từ tên ông chủ Tám Đúng) là lâu đời và có tiếng ở Phước An, quán Ba Lai ở Long Thọ... đều không có bán món lẩu chem chép nấu điều, trong khi các món chem chép nướng mỡ hành, chem chép nướng chấm muối tiêu chanh, chem chép hấp rau răm... thì quán nào cũng có. Tôi cũng đã tò mò gõ vào Google thì thấy nhiều câu hỏi và cãi nhau loạn xạ quanh chuyện “chem chép là con gì?”, nhưng cũng đọc được mấy ý kiến khen nức nở món chem chép nướng mỡ hành. Có lẽ món canh chem chép nấu điều bình dân quá, lại mang tính thời vụ nên các quán không nghĩ đến việc khai thác kinh doanh.

* Thất điều nhiều chem chép

Mùa điều năm nay, tôi trở lại Phước An vào giữa tháng 3, lọt vào những ngày trời nắng như đổ lửa, ngồi trong nhà mà nhiệt độ đã 38 độ C. Ông Nguyễn Việt Lâm, Chủ tịch Hội Nông dân xã Phước An, báo cho biết một thông tin có vui mà có cái cũng không vui. Đó là chem chép năm nay nhiều, lại bán được giá nên bà con kéo nhau đi đào chem chép đông lắm. Còn cây điều thì giảm mạnh cả về diện tích lẫn năng suất, vài năm gần đây hầu như vườn điều nào trong xã cũng đều bị chặt hạ, tém dẹp bớt để chuyển sang trồng tràm hứa hẹn có thu nhập cao hơn. Nhà nào cũng chỉ để lại chừng một vài cây trước nhà để có bóng mát và trái ăn chơi lai rai.


Nồi lẩu chem chép nấu điều.


Đến nhà nông dân cố cựu Nguyễn Văn Năm, người duy nhất còn giữ lại vườn điều rộng trên 1,2 hécta với phần lớn là giống điều cao sản nằm trên mảnh đất giồng khô cằn ở ấp Quới Thạnh, ông vui vẻ cho biết: “Điều cao sản trồng là để lấy hột, còn để ăn với chem chép phải là điều giống cũ, trái to, hột nhỏ mới ngon. Nên khi chuyển vườn điều sang giống mới là loại trái chùm nhiều hột to, tôi vẫn để lại vài cây điều bản địa để hái trái cúng đình và dành để ăn sống, nấu canh chem chép!”.

Nghe theo lời mách bảo của người dân Phước An, là “muốn biết cụ thể tình hình thu hoạch chem chép thất, trúng ra sao cứ hỏi mấy chủ vựa thu mua thủy hải sản”, tôi tìm đến vựa Tư Lớn ở ấp Bàu Bông, do bà Nguyễn Thị Lớn làm chủ. Người đàn bà 57 tuổi đã có hơn 15 năm chuyên nghề mua bán thủy hải sản sốt sắng xác nhận: “Đúng là 2 năm nay chem chép được mùa. Đặc biệt là năm nay chem chép rộ, dân đi đào chem chép đông lắm. Được mùa mà cũng được giá. Trời nắng thì chem chép ngon, thịt ngọt mà chắc. Trời đổ mưa xuống thì chem chép ốp, thịt lạt nhách, ăn hết ngon”.


3 ấp: Vũng Gấm, Bà Trường và Bàu Bông là nơi có dân sống nghề đào chem chép nhiều nhất trong xã Phước An, nên cũng có đến hàng chục vựa thu mua chem chép, phần lớn là cung cấp cho thị trường TP.Hồ Chí Minh. Tại vựa bà Tư Lớn, bán ra 1kg chem chép loại 1 (lớn nhất): 50 ngàn đồng, loại 2: 40 ngàn đồng, loại 3: 30-35 ngàn đồng.


Cả một vùng ngập mặn thuộc lưu vực sông Thị Vải, như: Bà Hào, Ba Gioi, ngọn Bát, ngọn Ruột Ngựa... từ sau khi Vedan ngừng xả nước thải đã có chem chép trở lại, nên cũng xuất hiện thêm một dịch vụ mới là dùng ghe máy chở người đi đào chem chép. Người đầu tiên sắm ghe máy làm dịch vụ này là anh Huỳnh Văn Dũng ở ấp Bàu Bông. Ghe anh Dũng chở được 15 người, thu mỗi người 15 ngàn đồng cho một chuyến đi. Sau khi rải khách xuống địa điểm họ yêu cầu, anh bèn tranh thủ đào chem chép, bắt đồm độp. Nước bắt đầu lớn, anh thu quân và đứng ra cân toàn bộ số chem chép của người đi đào được với giá sa cạ là 30 ngàn đồng/kg. Chở số chem chép thu mua và tự đào được về, anh lựa ra theo từng loại để bán lại cho vựa mối. Một số người ở Vũng Gấm, Bà Trường và xã Long Thọ thấy cách làm này ngon ăn liền sắm ghe làm theo...

Trả lời câu hỏi của tôi là có chừng bao nhiêu người ở Phước An tham gia và sống với công việc đào chem chép, ông Nguyễn Việt Lâm lắc đầu chịu. Vậy mà qua Long Thọ gặp ông Trần Tiến Nhạn, Chủ tịch Hội Nông dân xã, hào hứng thông báo: “Mùa chem chép năm nay được lắm, có những ngày rộ, cả xã Long Thọ có đến 300-400 người, phần lớn là phụ nữ kéo nhau đi đào chem chép. Còn bình thường có chừng 150 người, trong đó rất nhiều là lao động ở các công ty quay trở lại làm nghề đào chem chép chuyên nghiệp. Bà con sống nghề đào chem chép ở Long Thọ từng bị điêu đứng, khổ sở vì nạn nước thải làm ô nhiễm môi trường, hủy hoại nguồn lợi thủy sản phong phú này. Chỉ sau khi Công ty Vedan ngưng xả thải, con chem chép rồi cả vộp, hến cùng nhiều loại cá, tôm có trở lại. 2 năm nay thì chem chép rộ nhiều, người đào chem chép có thu nhập bình quân từ 250-300 ngàn đồng/ngày nên chúng tôi cũng rất mừng!”.

Bùi Thuận

Lược sử nghề chế biến rượu ở Bến Gỗ

đăng 16:56, 4 thg 5, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Vào cuối thế kỷ 16, đất Đồng Nai còn hoang sơ chưa được khai phá, dân cư thưa thớt, sản xuất thô sơ, trình độ xã hội thấp. Cuộc phân tranh Trịnh Nguyễn làm cho đời sống nhân dân lầm than cơ cực đã tạo ra làn sống di cư từ miền Thuận Quãng vào Đồng Nai sinh sống, sau đó vào năm Kỉ Mùi (1679) nhà Minh ở Trung Quốc sụp đổ, tổng binh Trần Thượng Xuyên không khuất phục nhà Thanh đã đem chiến thuyền, binh lính và gia quyến đến xin thuần phục chúa Nguyễn ở Thuận Hóa. Chúa Nguyễn đã thu nhận họ và cho vào khai khẩn, mở mang vùng đất phương nam (Đồng Nai). Cuộc di cư của người Việt và người Hoa vào đất phương nam (Đồng Nai) đầu tiên định cư sinh sống sản xuất và buôn bán ở Bến Gỗ (nay thuộc xã An Hòa - huyện Long Thành - tỉnh Đồng Nai). Dần dần Cù Lao Phố có vị trí thuận lợi hơn cho việc buôn bán nên ngày càng phồn thịnh và trở thành trung tâm thương mại của cả vùng Nam bộ và Bến Gỗ trở thành nơi buôn bán vệ tinh của Cù Lao Phố với việc buôn bán gỗ, tre nứa từ rừng đi khắp xứ Biên hòa, Gia định. Vì vậy có thể nhận định rằng, làng Bến Gỗ được hình thành trên 300 năm cùng với các ngành nghề xuất hiện từ thời gian đó, trong đó có nghề chế biến rượu.

Rượu trắng Bến Gỗ


Xuất phát từ phong tục, tập quán, văn hóa và nhu cầu mưu sinh cuộc sống, nghề chế biến rượu ở làng Bến Gỗ đã được hình thành như đã nêu (khoảng cuối thế kỷ 16). Bằng những kinh nghiệm với những nguyên liệu thiên nhiên kết hợp với những bí quyết tinh hoa và sự cần cù chịu thương chịu khó của người dân làng Bến Gỗ đã tạo ra những giọt rượu thơm ngon tinh khiết, không chỉ nức tiếng ở địa phương mà còn lan rộng đến các vùng lân cận, tạo nên một danh hiệu đi vào lịch sử của đất Đồng Nai: “Rượu Bến Gỗ”. Tuy nghề chế biến rượu ở làng Bến Gỗ cũng có những bước thăng trầm theo dòng lịch sử, trải qua nhiều giai đoạn biến động của lịch sử nhưng người dân ở làng Bến Gỗ vẫn gìn giữ được những nét đặc trưng truyền thống về nghề chế biến rượu của tổ tiên để lại.

Cùng với những điều kiện thuận lợi ở địa phương sẵn có, hưởng ứng và thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về việc phát triển và khôi phục lại các ngành nghề truyền thống ở địa phương và hướng sản phẩm (rượu Bến Gỗ) của địa phương ra thị trường Quốc tế trong thời kỳ hội nhập.... Trên cơ sở đó, Đảng ủy, UBND xã, các ngành, các cấp trong tỉnh đã tạo điều kiện và hỗ trợ cho người dân ở đây (xã An Hòa) thành lập một tổ chức nhằm để khôi phục nghề, phát triển nghề truyền thống và gìn giữ danh hiệu từ xưa để lại với tên gọi là Hợp tác xã Bến Gỗ.

Rượu nếp than Bến Gỗ


Hợp tác xã Bến Gỗ được thành lập vào năm 2007, với khoảng 50 xã viên tham gia góp vốn và làm việc cho Hợp tác xã, đa số là dân địa phương. Hiện nay do mới đi vào giai đoạn sản xuất thử nghiệm, do đó sản phẩm chỉ mới tiêu thụ thị trường trong tỉnh, bình quân một ngày Hợp tác xã đưa ra thị trường tiêu thụ khoảng từ 800 chai đến 1.000 chai (loại 500 ml/chai) với giá bán lẻ khoảng 38.000 đồng/ chai.

Với một qui trình sản xuất nghiêm ngặt chặt chẽ từ khâu chọn lựa nguyên liệu cho đến công đoạn chế biến và cho ra thành phẩm, được kiểm tra giám sát theo dõi của các kỹ sư khoa hóa thực phẩm của Trường Đại Học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh trước khi đưa sản phẩm đi kiểm tra tại Trung tâm đo lường chất lượng sản phẩm tỉnh Đồng Nai và sau đó mới xuất ra thị trường tiêu thụ. Sản phẩm rượu Bến Gỗ rất đa dạng và phong phú về hình thức, kiểu dáng. Thành phần chính của rượu Bến Gỗ được làm từ gạo, nếp, nước sạch đã được lọc kỹ và xử lý ủ men theo tiêu chuẩn của qui trình sản xuất, vì thế rượu Bến Gỗ đảm bảo được hương vị thơm ngon tinh khiết đặc biệt là không có cồn công nghiệp, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng.

Theo ông Sang (Chủ nhiệm HTX) cho biết, về cách thức chế biến rượu hiện nay so với cách chế biến rượu thời xưa cơ bản là giống nhau, chỉ khác nhau về thiết bị sản xuất, các vật liệu dùng trong quá trình chế biến rượu và việc áp dụng các tiến bộ khoa học để kiểm tra, phân tích các thành phần trong rượu nhưng không làm ảnh hưởng đến mùi vị, hương thơm đặc trưng của rượu Bến Gỗ.

Theo khoa học đã chứng minh, rượu có tác dụng hữu ích cho sức khỏe (nếu chúng ta biết cách dùng điều độ), rượu còn dùng để ngâm các loại thuốc nam, bắc để bồi bổ sức khỏe và chửa các bệnh trong dân gian..., ngoài ra rượu còn dùng trong các hoạt động văn hóa mang tính truyền thống dân tộc (Cưới, hỏi, cúng đình, cúng miểu...). 

Rượu trong dân gian nông thôn phải nói đến Long An có rượu Gò Đen, Bà Rịa có rượu Hòa Long thì rượu đế Bến Gỗ cũng nổi tiếng xứ Đồng Nai. Việc khôi phục một thương hiệu rượu đế có uy tín với qui trình sản xuất chặt chẽ, ổn định về chất lượng và kiểu dáng công nghiệp trong giai đoạn này, không chỉ để giữ vững danh tiếng cho Rượu đế Bến Gỗ mà còn góp phần vật chất vào kỷ niệm Biên Hòa - Đồng Nai 310 năm.

TTKC Đồng Nai

Nghề đúc gang ở Thạnh Phú

đăng 20:41, 11 thg 3, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Hơn 200 năm nay, những lò đúc ở làng nghề đúc gang Thạnh Phú luôn đỏ lửa là minh chứng cho sức sống của một làng nghề truyền thống trên vùng đất Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

Nghề đúc gang tại xã Thạnh Phú (trước đây là làng Bình Thạnh thuộc tổng Phước Vĩnh Hạ) được ông tổ nghề tên là Đào Văn Tham truyền lại qua bao thế hệ. Hàng năm, cứ đến ngày 2 tháng 2 âm lịch, các nghệ nhân và những thành viên của làng nghề lại tập trung tại nhà thờ tổ để cúng giỗ và ôn lại truyền thống làng nghề. Chỉ với 1 đôi bễ thổi lửa, 1 lò nấu gang, một số khuôn đất sét, nhiên liệu dùng để đốt lò nấu gang là than gỗ, ông tổ họ Đào đã làm ra những sản phẩm gang đầu tiên để hình thành nên làng nghề. Những sản phẩm gang Thạnh Phú ban đầu đều gắn với cuộc sống của người dân nơi đây như: lưỡi cày, lưỡi mai, nồi gang, chảo gang… 

Theo thời gian, nghề đúc gang Thạnh Phú ngày càng phát triển và lan rộng sang các làng bên như Tân Phong, Bình Thành, Bình Lợi, Bình Ý… với hàng trăm lò hàng ngày luôn đỏ lửa. Qua nhiều thế hệ, nghề truyền thống đúc gang được gìn giữ và ngày càng phát huy được bản sắc của mình với các sản phẩm gang đặc trưng. Đây cũng là nghề mang lại nguồn thu nhập chính của một bộ phận lớn dân cư ở đây.

Sắt phế thải, nguyên liệu sử dụng để nấu gang.


Đúc khuôn, một công đoạn rất quan trọng trong sản xuất gang.


Công đoạn làm khuôn đổ gang.


Đặt khuôn.


Đổ gang đã nóng chảy vào khuôn đúc.


Đưa gang đã nóng chảy vào lò đổ khuôn.


Thử chất lượng sản phẩm gang.


Gang Thạnh Phú luôn đảm bảo chất lượng cao với các quy trình sản xuất chặt chẽ.


Sản phẩm gang mới lấy từ khuôn.


Làng nghề đúc gang Thạnh Phú vẫn còn nhiều nghệ nhân say mê với nghề.


Sản phẩm gang Thạnh Phú phục vụ cho các cơ sở sản xuất công nghiệp trong và ngoài nước.


Những lò đúc gang luôn đỏ lửa chính là minh chứng cho sức sống của làng nghề đúc gang Thạnh Phú. 


Theo các nghệ nhân cao niên kể lại, thời kỳ chiến tranh chống Pháp và Mỹ, người dân làng nghề đúc gang Thạnh Phú còn bí mật đúc vỏ lựu đạn cho cách mạng, góp phần làm nên nhiều chiến công của quân và dân huyện Vĩnh Cửu trong chiến thắng chung của dân tộc. Sau ngày giải phóng miền Nam 4/1975, kỹ thuật sản xuất của các lò đúc gang ở Thạnh Phú ngày càng tiến bộ, công việc sản xuất kinh doanh nhờ vậy cũng được tiến triển. Để nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, nhiều chủ lò ở đây còn về Sài Gòn học thêm kỹ thuật, rồi về cải tiến, xây dựng lại các lò thổi theo kỹ thuật mới để có thể sản xuất ra được các loại phụ tùng gang cho các cơ sở công nghiệp ở thành phố.

Theo ông Lê Văn Út, Chủ nhiệm Hợp tác xã (HTX) Trọng Nghĩa ở làng nghề đúc gang Thạnh Phú thì thời điểm những năm 90 của thế kỷ trước, làng nghề đã tạo ra được những sản phẩm đạt chất lượng cao, không chỉ đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước mà còn xuất khẩu nhiều nước trên thế giới. Sản phẩm gang Thạnh Phú nhiều khi còn không đủ hàng để cung ứng cho thị trường khiến nhiều lò gang của làng nghề phải đặt trong tình trạng sản xuất liên tục, không ngơi nghỉ. Làng nghề lúc này đã thu hút hàng trăm lao động tham gia sản xuất, tạo cuộc sống ổn định cho người dân nơi đây.

Theo xu thế hiện đại hóa của xã hội, các sản phẩm thủ công truyền thống ngày càng bị cạnh tranh bởi các sản phẩm công nghiệp. Với mong muốn bảo tồn và phát triển làng nghề, HTX đúc gang Trọng Nghĩa đã được thành lập vào năm 2006, quy tụ rất nhiều thợ có tay nghề giỏi của làng nghề. Sản phẩm đúc gang của HTX thường là nắp ga gang, puli xay lúa, phụ tùng máy ép gạch, máy nổ, máy bơm nước, nhông gang, trục cầu… Các sản phẩm này chủ yếu theo đơn đặt hàng của các xí nghiệp cơ khí máy nông nghiệp như Công ty Vikyno, Công ty Vinappro, công ty Thành Nhân xuất khẩu, công ty công nghệ cao… và còn được tiêu thụ mạnh ở Chợ Lớn - Tp. Hồ Chí Minh.

Ông Nguyễn Văn Minh, chủ một lò gang ở ấp 2, xã Thạnh Phú cho biết, bình quân cơ sở của ông với hơn 10 nhân công mỗi ngày đúc được khoảng 2 tấn sản phẩm. Nhiều người thợ giỏi có thể đúc được 400-500kg/ngày, tiền công là 1.000 đồng/kg sản phẩm gang, tính ra đạt thu nhập 400.000-500.000 đồng/ngày.

Theo ông Lê Văn Út, HTX đúc gang Trọng Nghĩa hiện đang mở rộng mặt bằng, đầu tư các thiết bị hiện đại như máy tiện, máy phu bi, máy khoan, đào tạo thêm thợ kỹ thuật, quản lý… Thực tế, HTX có thuận lợi là sản phẩm của làng nghề là mặt hàng truyền thống, lao động có tay nghề đảm bảo đáp ứng được nhu cầu thị trường. Sắp tới, HTX sẽ nhận thêm các khâu đúc, tiện để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh. Có như vậy giá thành sản phẩm của HTX mới được nâng cao và đạt lợi nhuận tốt hơn, góp phần thúc đẩy làng nghề đúc gang Thạnh Phú có thể phát triển một cách bền vững.

Bài: Nguyễn Vũ Thành Đạt - Ảnh: Thông Hải

Độc đáo mô hình mỹ nghệ từ gỗ tái chế

đăng 16:33, 27 thg 2, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Làng nghề gỗ mỹ nghệ xã Bình Minh, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai gần 40 năm qua là nơi nổi tiếng tái chế những mảnh gỗ vụn để tạo nên những mô hình gỗ mỹ nghệ độc đáo, mặt hàng xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới những năm gần đây.

Xuất hiện từ hơn nửa thế kỷ qua, nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống ở xã Bình Minh bắt nguồn từ các làng nghề mộc truyền thống của miền Bắc do người dân di cư mang theo. Đó là những làng nghề nổi tiếng như Đồng Kỵ (Bắc Ninh), La Xuyên (Nam Định)... Tuy vậy, tái chế những mảnh gỗ vụn phế thải trở thành đồ mỹ nghệ tinh xảo chỉ bắt đầu từ đầu thập niên 80.

Mọi chuyện khởi đầu khi một người thợ mộc tên là Kỳ Vân ở ấp Trà Cổ, xã Bình Minh có cây mít bị chết trong vườn nhà. Vứt đi thấy lãng phí nên ông Vân đã tìm cách dùng gỗ mít để tạo hình một con thuyền có các họa tiết tinh xảo. Con thuyền này được ông Vân mang lên Tp. Hồ Chí Minh bán và được một du khách người Nga rất thích mua đem về nước làm kỷ niệm. Đây được coi là sự khởi đầu cho việc hình thành nghề sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ là các mô hình cho khách du lịch đến Việt Nam ở xã Bình Minh.

Hàng loạt các sản phẩm mô hình phong phú và đa dạng từ xe xích lô, ô tô, xe tăng, máy bay Boeing, trực thăng, tàu thuyền, tàu chiến đến mô hình các vũ khí, vật dụng trang trí... có giá từ vài chục đến vài triệu đồng/sản phẩm được các Nghệ nhân ở làng nghề gỗ mỹ nghệ Bình Minh chế tác theo yêu cầu của khách hàng.

Một cơ sở sản xuất ở làng nghề gỗ mỹ nghệ xã Bình Minh, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.


Hiện nay nghề gỗ mỹ nghệ Bình Minh phát triển nhanh chóng nhờ một lượng lớn gỗ phế phẩm thải ra

từ các nhà máy chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

Các sản phẩm mô hình của làng nghề gỗ mỹ nghệ Bình Minh được khách hàng quốc tế ưa chuộng.


Mô hình ô tô, một trong những sản phẩm được sản xuất nhiều ở Làng nghề gỗ mỹ nghệ Bình Minh.


Công đoạn tiện phần bánh xe cho xe ô tô mô hình.


Công đoạn dán keo tạo độ kết dính cho sản phẩm.


Chà giấy nhám tạo độ bóng cho sản phẩm.


Các sản phẩm gỗ mỹ nghệ đòi hỏi sự tỉ mỉ, cẩn thận trong các công đoạn để có những mô hình tinh xảo.


Công đoạn phun sơn PU cho sản phẩm. 


Kể từ khi có các nhà máy chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, nghề gỗ mỹ nghệ Bình Minh phát triển nhanh chóng nhờ một lượng lớn gỗ phế phẩm thải ra. Chúng tôi đến Cơ sở đồ gỗ mỹ nghệ Thành Nhân (ấp Tân Bắc, xã Bình Minh), cơ sở sản xuất gỗ mỹ nghệ lớn nhất với hàng trăm mẫu mã đồ gỗ trang trí trong nhà và có lượng sản phẩm xuất khẩu chiếm trên 90% sản phẩm gỗ mỹ nghệ huyện Trảng Bom. Mỗi sản phẩm mô hình của Thành Nhân đều được các nghệ nhân hoàn thiện tỉ mỉ tới từng chi tiết nên khách hàng luôn yên tâm về chất lượng khi đặt hàng. Ngoài việc sản xuất ở xưởng, sản phẩm mô hình được đưa về gia công cho phần lớn những người biết nghề ở xã Bình Minh làm tại nhà, qua đó, có thể tận dụng cả những lao động dư thừa là người già và trẻ em trong gia đình.

Đồ gỗ Việt Nam đã và đang ngày càng được ưa chuộng ở các thị trường lớn trên thế giới vì lý do có chất lượng tốt, giá cả cạnh tranh. Hiện nhu cầu tiêu thụ đồ gỗ, đồ thủ công mỹ nghệ gia tăng cả trong và ngoài nước cũng là cơ hội cho ngành chế biến đồ gỗ trong nước phát triển, trong đó có làng nghề gỗ mỹ nghệ Bình Minh. Theo ông Nguyễn Thành Nhân, chủ cơ sở gỗ mỹ nghệ Thành Nhân, mặt hàng gỗ mỹ nghệ của cơ sở Thành Nhân luôn trong tình trạng sản xuất không đủ xuất khẩu sang các thị trường Hoa Kỳ, Pháp, Đức và một số nước khác. Có thời gian cơ sở Thành Nhân phải làm tới 2 container sản phẩm cung cấp cho tập đoàn Wal Mart (tập đoàn bán lẻ lớn nhất thế giới của Hoa Kỳ). Gần 30 công nhân trong xưởng của anh đã phải tăng ca liên tục cho kịp tiến độ giao hàng. Khối lượng sản phẩm sau khi hoàn thành đã được khách khen ngợi vì giá thành vừa rẻ, sản phẩm lại có mẫu mã đẹp, chất lượng đồng đều. Sau đó, đích thân đại diện của Wal Mart đã liên hệ trực tiếp với anh Thành Nhân, đặt hàng với số lượng lớn, trung bình 5.000 sản phẩm/tháng, trong khi năng lực của cơ sở chỉ là 2.000 sản phẩm/tháng mà còn phải phân phối đều cho khách hàng trong nước và ở các nước khác.

Hiện nay, cơ sở Thành Nhân có trên 500 mặt hàng mỹ nghệ với đủ các chất liệu gỗ khác nhau cho các mặt hàng trang trí từ bình dân đến cao cấp. Theo anh Nguyễn Thành Nhân, chủ cơ sở thì ngoài việc luôn đảm bảo chất lượng, cơ sở của anh cũng như các cơ sở khác tại làng nghề gỗ mỹ nghệ Bình Minh phải thường xuyên thiết kế các mẫu mã mới để khách hàng lựa chọn

Trước mắt chúng tôi, nhìn đống gỗ vụn tưởng như là phế phẩm, có ai ngờ qua qua bàn tay khéo léo của người nghệ nhân đã có thể biến thành những mô hình gỗ mỹ nghệ độc đáo, phục vụ du khách khắp nơi trên thế giới.

Một số sản phẩm mô hình đẹp và độc đáo của làng nghề gỗ mỹ nghệ Bình Minh:










Bài: Nguyễn Vũ Thành Đạt - Ảnh: Thông Hải

Bưởi ngọt trên cù lao Tân Triều

đăng 00:52, 28 thg 12, 2015 bởi Pham Hoai Nhan

Cách trung tâm Tp. Biên Hòa khoảng 10km, cù lao Tân Triều (xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai) hiện là vùng chuyên canh cây bưởi và trở thành thương hiệu trái cây nức tiếng khắp Nam Bộ. 

Xưa kia, vùng đất Tân Triều chủ yếu trồng trầu. Vào năm 1869, vị cha xứ nhà thờ Tân Triều mang hai cây bưởi giống từ Brazil về trồng, khi quả chín bổ ra thấy múi đều và vàng ươm, khi ăn rất ngọt. Từ đó, người dân chiết cành đem trồng và nhân rộng ra trong vùng. Đến nay, cù lao này đã trở thành vùng chuyên canh cây bưởi và thương hiệu bưởi Tân Triều là đặc sản trái cây nức tiếng khắp Nam Bộ. 

Từ năm 2006, Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ đã cấp giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm bưởi Tân Triều. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển giá trị thương hiệu bưởi Tân Triều, góp phần nâng cao giá trị cạnh tranh cho loại nông sản này trên thị trường trong và ngoài nước.

Ngoài ra, Hợp tác xã nông nghiệp - dịch vụ Tân Triều được thành lập để hướng dẫn bà con nông dân áp dụng khoa học - kỹ thuật vào trồng bưởi chuyên nghiệp để cho ra trái đồng đều, sản lượng lớn và có hương vị đặc thù. Sản phẩm bưởi Tân Triều theo đó cũng được sản xuất theo tiêu chuẩn Gap để cung cấp sản lượng ổn định, bền vững.

Bưởi Tân Triều hiện là đặc sản trái cây nức tiếng khắp vùng Nam Bộ.


Hai giống bưởi đường lá cam và bưởi đường cao núm rất phù hợp với thổ nhưỡng của vùng cù lao Tân Triều.


Hệ thống tưới nước tự động giúp các hộ dân giảm chi phí nhân công trong quá trình chăm sóc cây bưởi.


Người dân thu hoạch bưởi Tân Triều.


Nhờ áp dụng các khoa học kỹ thuật trong chăm sóc nên giống bưởi Tân Triều cho quả rất sai trên đầu cành.


Dán tem bảo vệ thương hiệu cho bưởi Tân Triều.


Bưởi Tân Triều hiện là thương hiệu nổi tiếng cả trong và ngoài nước.


Sản phẩm bưởi Tân Triều được sản xuất theo tiêu chuẩn Gap.


Bưởi Tân Triều cho múi ngọt, vỏ mỏng và rất mọng nước.


Khách du lịch đến thăm các vườn bưởi Tân Triều.


Sắp đặt mô hình bưởi Tân Triều ở huyện Vĩnh Cửu, một cách quảng bá và thu hút du khách đến tham quan những vườn bưởi. 

Tỉnh Đồng Nai đã quy hoạch phát triển trồng giống bưởi Tân Triều ở những vùng đất khác có thổ nhưỡng phù hợp như: xã  Bình Hòa, xã Tân Bình, xã Bình Lợi, xã Thiện Tân, xã Tân An thuộc huyện Vĩnh Cửu với diện tích lên đến hàng ngàn ha.

Hiện cả Tân Triều có khoảng 400ha bưởi, chủ yếu là giống bưởi đường lá cam, bưởi xiêm ruột đỏ, bưởi da xanh ruột hồng, bưởi ổi, bưởi da láng… Giá bưởi Tân Triều dao động theo từng năm, bình quân giá bưởi đường lá cam, bưởi ổi bán tại vườn khoảng 280 - 300 ngàn đồng/chục (1 chục là 12 trái). Đặc biệt, vào dịp Tết Nguyên đán, giá có thể lên đến 1 - 1,2 triệu đồng/chục. Bưởi Tân Triều không chỉ tiêu thụ ở khắp các tỉnh, thành trong cả nước mà đang được xuất đi nhiều nước châu Âu như: Hà Lan, Đức…

Ngoài việc mang lại hiệu quả kinh tế cao, bưởi Tân Triều còn phát huy tiềm năng du lịch khi đón tiếp hàng nghìn lượt du khách đến tham quan mỗi năm và thưởng thức các món ẩm thực độc đáo được chế biến từ trái bưởi như: gỏi bưởi, rượu bưởi, chè bưởi, nước ép, mứt bưởi, gà nướng trái bưởi…

Đến Tân Triều, du khách sẽ được nghỉ dưỡng trong khu du lịch sinh thái Làng bưởi Tân Triều của ông Năm Huệ, người tiên phong cho mô hình du lịch làng bưởi. Đích thân ông Năm Huệ sẽ giới thiệu các món ẩm thực có vị bưởi để du khách có thể tận hưởng hết hương vị ngọt ngào của quê hương làng bưởi.

Ngon và đặc trưng nhất ở Tân Triều phải kể đến là món gỏi bưởi. Ngoài thành phần chính là tép bưởi, gỏi bưởi còn có đậu phộng, mè rang, tôm luộc, thịt ba rọi, ngó sen, cà rốt xắt sợi... Gỏi bưởi thường ăn kèm với bánh phồng tôm hoặc bánh tráng mè chấm với nước mắm cay rất ngon.

Dưới vườn cây rợp bóng và từng chùm bưởi lúc lỉu quả trên đầu, bên rạch nước với không khí mát lành, được thưởng thức món gỏi bưởi chắc chắn sẽ là một trải nghiệm khó quên cho mỗi du khách khi đến với cù lao Tân Triều.

Bài: Nguyễn Vũ Thành Đạt - Ảnh: Thông Hải

Nghề điêu khắc đá Bửu Long

đăng 16:45, 11 thg 10, 2015 bởi Pham Hoai Nhan

Với hơn 300 năm tồn tại, làng nghề điêu khắc đá Bửu Long (phường Bửu Long, Tp. Biên Hòa) được coi là làng nghề thủ công lâu đời nhất của vùng đất Đồng Nai đang ngày đêm sáng tạo nên những tác phẩm nghệ thuật tinh xảo từ đá.

Theo "Gia Định thành thông chí" của Trịnh Hoài Đức (1765 -1825) ghi rằng, nhóm Cao, Lôi, Liêm của Trần Thượng Xuyên do không chịu sự thuần phục của nhà Thanh (Trung Quốc) đã vượt biển đến sinh sống tại xứ Bàn Lân (Biên Hòa ngày nay). Những cư dân này mang theo nghề làm đá đã cùng với người Việt bản địa lập nên làng nghề điêu khắc đá.

Đá nguyên liệu để làm sản phẩm đá mỹ nghệ Bửu Long là đá tấm, đá phiến. Những người thợ tìm đá nguyên liệu được gọi là thợ làm “đá sống”, phải lên núi tìm những tảng đá đạt yêu cầu mang về. Từ đây, những người thợ điêu khắc đá bắt đầu công việc chế tác sản phẩm, gọi là thợ làm “đá chín”.

Nguyên liệu đá thô (đá sống) làm nên các sản phẩm điêu khắc đá.


Đá nguyên liệu sử dụng làm sản phẩm đá mỹ nghệ Bửu Long thường là các loại đá tấm, đá phiến.


Những người thợ chế tác nguyên liệu thô được gọi là thợ làm “đá sống”.


Tất cả các khối đá lớn đem về được chia nhỏ sử dụng chế tác sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng.


Những người thợ có thâm niên lâu năm mới làm ra được những sản phẩm điêu khắc có tính nghệ thuật.


Sự tỉ mỉ và cẩn thận là yếu tố không thể thiếu trong nghề điêu khắc đá.


Để đạt được độ tinh xảo cho sản phẩm phụ thuộc vào đôi bàn tay khéo léo, lành nghề của người thợ đá.


Để một khối đá sống trở thành sản phẩm mỹ nghệ trải qua rất nhiều công đoạn.


Các sản phẩm đều được người thợ đá sáng tạo trở thành các tác phẩm độc đáo, có giá trị. 


Đến cơ sở Nhật Thành trong lúc từng nhóm thợ đang say mê làm “đá chín” mới biết để khối đá trở nên sinh động và có hồn, người thợ phải sử dụng nhiều thủ thuật với nhiều loại công cụ khác nhau như đục nhảy, đục phá, đục láng, đục rãnh, đục khớp, đục vòng…

Một khối đá sống muốn thành một sản phẩm cần qua bốn công đoạn tạo tác của người thợ làng đá Bửu Long bao gồm: vạt mảng tạo dáng, vẽ chi tiết trên đá đã tạo dáng (bằng mực nho), đục hoàn chỉnh và tạo hình, đánh bóng sản phẩm (bằng đá mài). Trong đó, công đoạn tạo hình và đánh bóng được coi là khó nhất.

Ngày nay, làng nghề điêu khắc đá Bửu Long đã áp dụng công nghệ vào sản xuất, đá nguyên liệu được cắt, gọt, giũa bằng hệ thống máy cưa, cắt hiện đại. Tuy vậy, để đạt được độ tinh xảo cho sản phẩm thì vẫn cần đến đôi bàn tay khéo léo, lành nghề của người thợ. Các sản phẩm: tháp sen, tượng rồng, lân hay sư tử dũng mãnh… đều được người thợ thổi hồn vào để trở thành những tác phẩm độc đáo, có giá trị.

Làng điêu khắc đá còn làm ra nhiều sản phẩm khác như: khám thờ, lư hương, bát nhang, đèn, linh vị, bia, cối xay, cối giã gạo, ly chén, bình đựng, bộ cờ…

Một số sản phẩm điêu khắc đá độc đáo của làng nghề Bửu Long:






Hơn ba thế kỷ với nhiều thăng trầm, làng nghề điêu khắc đá Bửu Long đã sản sinh ra nhiều nghệ nhân tài hoa như Hà Kiều, Dương Văn Hai, Ngụy Đức Mỹ, Phạm Thành Đầu… Hiện những cơ sở làm đá ở Bửu Long như Tân Phát Hưng, Tín Nghĩa, Tân Vĩnh Quang, Nhật Thành... với quy mô khá lớn đã góp phần tạo nên thương hiệu cho làng nghề. Sản phẩm đá Bửu Long có mặt khắp nơi trong cả nước và đang vươn ra thị trường nước ngoài như: Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc, Nhật Bản…

Bài: Nguyễn Vũ Thành Đạt - Ảnh: Thông Hải

Quan niệm về hôn nhân của người Mạ ở Đồng Nai

đăng 07:59, 3 thg 1, 2015 bởi Pham Hoai Nhan

Người Mạ ở Đồng Nai có nhiều nét văn hóa độc đáo về phong tục, tập quán từ xa xưa. Trong đó, thú vị nhất chính là quan niệm của họ về hôn nhân.


Hôn nhân của người Mạ ở Đồng Nai theo chế độ phụ hệ, một vợ một chồng và tuyệt nhiên không có quan niệm trọng nam khinh nữ. Đặc biệt, khi con cái trong nhà đến tuổi trưởng thành, khoảng 15-17 tuổi được thoải mái tự do tìm hiểu. Ngoại trừ những trường hợp bố mẹ có hôn ước cho con từ thuở nhỏ, đứa trẻ lớn lên sẽ phải tuân theo và không được tự do lựa chọn bạn đời.

Khi hai người đồng ý sống cùng nhau, chàng trai sẽ về thông báo với gia đình để chuẩn bị sính lễ đến nhà cô gái làm đám nói. Người con trai muốn đính hôn với một người con gái thì phải biếu bố mẹ vợ tương lai nhiều món quà quý, thường là một ché rượu, một con gà, một số tặng phẩm như chuỗi hạt đeo cổ, lục lạc, lược sừng và một số đồ trang sức nhỏ khác theo ý thích của người vợ tương lai.

Cùng với những lễ vật đã được sắm rất chu đáo, bên nhà trai sẽ nhờ một người có uy tín trong họ hàng để làm ông mai dẫn đến nhà gái. Khi đi hỏi vợ, chàng trai người Mạ đã trở thành một người đàn ông thực thụ với ngọn lao cầm trên tay, chiếc dao dắt ngang lưng và trên vai là cây xà gạc.

Đồng thời, anh ta sẽ được mặc trang phục truyền thống của người Mạ, đó là đóng khố với nhiều sợi dây màu đỏ nổi bật, tay đeo trang sức đồng, búi tóc lên cao và cài một chiếc lược sừng sâu. Cô gái sẽ phục sức lên người một bộ váy với nhiều hoa văn đặc trưng rất đẹp mắt của người Mạ, kèm theo những phụ kiện như chiếc đai lưng màu sặc sỡ, đeo nhiều chuỗi vòng có đính hạt cườm. Cô gái cũng giống như chàng trai, búi tóc và cài lược sừng trâu nhưng được cắm thêm con dao nhỏ.

Khi vừa tới nhà gái, tự tay chàng trai sẽ cắm ngọn lao xuống đất, ngay trước cửa nhà gái và… đứng đợi. Một lát sau, người đại diện cho đàng gái có thể là cha hoặc cậu ruột sẽ trực tiếp ra đón nhà trai. Sau khi nghe lời trình bày lý do tại sao đến đây của chàng trai, nhà gái gật đầu đồng ý. Ngay lúc đó, chàng trai sẽ rút ngọn giáo và cùng mọi người vào nhà.

Cũng giống như nhiều dân tộc thiểu số khác, việc đầu tiên mà chàng trai người Mạ phải làm khi bước chân vào nhà gái là đứng trước bàn thờ tổ tiên khấn vái rồi đem ngọn giáo gác lên xà nhà. Ngọn giáo sẽ được để nguyên tại nhà gái bảy ngày bảy đêm.

Sau những nghi lễ được hai họ cử hành, mọi người mới cùng nhau ngồi lại bên những ché rượu cần. Lúc tiệc rượu tàn, nhà trai ra về, riêng chàng trai sẽ ở lại nhà vợ chưa cưới để làm việc. Đặc biệt, một tập tục kì lạ chỉ có ở người Mạ là sau đám hỏi việc quan hệ nam nữ sẽ tuyệt nhiên bị cấm, dù trước đó hoàn toàn thoải mái. Trường hợp đôi trai gái muốn ngủ chung thì phải vào rừng và tự dựng túp lều để cùng nhau sống ở đó. Đến khi kết hôn các cặp đôi sẽ được ngủ chung.

Trong quá trình sống chung, nếu đôi vợ chồng trẻ không hợp nhau hay cô gái không thể sinh con cho nhà chồng thì đằng trai có thể trả cô gái về nhà mẹ đẻ. Dù cô dâu có lỗi cũng không được đánh đập, đặc biệt trước mặt bố mẹ vợ và con cái, vì như thế chẳng khác nào đánh vào cha mẹ cô gái. Bởi theo quan niệm của người Mạ, nếu cô dâu được trả về nhà mẹ đẻ trong tình trạng bầm dập, thì cô đã là một người chết, nhà gái sẽ không nhận. Đồng thời, nhà gái sẽ phạt vạ nhà trai rất nặng. Chính vì vậy, để cha mẹ nhận lại con cái của họ thì cô gái phải được trả về “nguyên vẹn”.

Ngày nay, người Mạ cũng đã tiếp thu những nét văn hóa hiện đại vào trong cuộc sống của mình nên đã có nhiều thay đổi trong chế độ hôn nhân. Nhà trai đã chủ động hơn trong hôn nhân, đồng thời, chàng rể cũng có thể rước dâu như người Kinh ngay sau làm lễ cưới và không phải ở rể như trước đây. Tuy nhiên, chế độ một vợ một chồng vẫn được duy trì như một truyền thống tốt đẹp của người Mạ từ xa xưa.

Độc đáo lễ Tả Tài Phán ở Đồng Nai

đăng 08:14, 6 thg 8, 2014 bởi Pham Hoai Nhan

Là lễ hội độc đáo của cộng đồng người Hoa tại Định Quán, Đồng Nai, Tả Tài Phán thường diễn ra vào dịp ba tháng cuối hoặc ba tháng đầu năm.

Mục đích chính của lễ hội này để cầu an, cầu siêu và tấn phong cấp bậc lên Đại Pháp Sư cho vị thầy cúng chủ trì buổi lễ. Không có quỹ riêng để tổ chức lễ hội nên ban tổ chức thường phải đứng ra kêu gọi sự đóng góp từ nhiều nguồn như thầy cúng muốn thăng cấp bậc trong lễ, người dân trong cộng đồng và các mạnh thường quân. 

Trước đây, lễ được tổ chức trong các dịp thiên tai, bệnh dịch, mất mùa nhưng hiện nay, ngày tổ chức không cố định, và tùy thuộc vào số tiền quyên góp được, mong muốn cầu an, cầu siêu của người dân hoặc vị thầy cúng muốn thăng cấp bậc đứng ra tổ chức lễ. 

Một nghi thức trong buổi lễ. 


Những khu vực tập trung người Hoa cư trú thường có một miếu thờ Thổ Thần hay Quan Âm, nơi dành cho tín ngưỡng có tính cộng đồng. Đây cũng chính là nơi diễn ra lễ Tả Tài Phán khi tổ chức. Vào thời gian diễn ra lễ, cộng đồng dân cư quanh vùng đều tập trung để chuẩn bị cho các hoạt động trong lễ hội. 

Khu vực miếu thờ được thiết kế thành không gian dành cho hoạt động hành lễ gồm ba phần chính: cổng chào, khu vực cầu thí và thờ cúng. Khu vực cổng chào còn gọi là cổng thành, có ba cửa, với cửa lớn chính giữa và hai cửa nhỏ hai bên. Phía trên cửa chính thường dựng cao kiểu lầu từ hai đến ba tầng. 

Những cuộn vải màu cầu an, cầu siêu 


Cổng thường được làm bằng tre, trang trí giấy màu rực rỡ, dán những câu chữ Hán chào mừng những người đến tham dự. Bước qua cổng là vào nội thành, với không gian trang trí sặc sỡ. 

Khu vực cầu thí cách cổng thành khoảng 10 m. Hai bên tả, hữu của lều cầu thí là những cây nêu cầu thí của các gia chủ. Những cây tre, trên có tấm vải đỏ dài viết nội dung cầu tế, đèn treo được dựng cao lên. Hai hàng cây tre hướng về phía khu thờ cúng chính là gian Chung Tổ Đường. 

Chung Tổ Đường cách cổng 30 - 33 m, có ba gian thờ. Ở giữa thờ tổ tiên, nơi để những bài vị, chân nhang của những người tổ chức, các thí chủ tham dự và đăng lĩnh. Bên phải là Võ đàn, nơi để bàn thờ Ngọc Hoàng và các vị thần linh, võ tướng. Bên trái là Văn đàn, bài trí thờ Tam Bảo Phật. Phía bên trong mỗi gian thờ có một bàn thờ, trang trí nhiều giấy màu sặc sỡ, long mão gắn lông công, nhiều hình ảnh liên quan đến các vị thần linh. 

Ba cửa chính ngang hàng, dán nhiều câu chữ Hán ca tụng công, đức, sự hiển linh, báo đáp. Những mảnh vải đỏ từ hàng tre tùy theo nội dung câu tế mà khi hành lễ được kéo nối với các gian thờ theo quy định: cầu phúc nối vào Văn đàn, cầu thọ nối vào Võ đàn. 

Trong khu vực từ chỗ hàng tre cầu thí đến Chung Tổ Đường được dùng làm đàn cho các thầy cúng hành lễ ngoài trời với bàn thờ tế, dựng cây tre lớn, vật tế sống (như bò, heo) và dựng đao cầu giải, hành dẫn qua dãy than hồng... theo quy trình của lễ hội. 

Đây là lễ hội truyền thống quy mô lớn của cộng đồng người Hoa chuyên canh nông nghiệp. Lễ hội diễn ra trong nhiều ngày với các nghi thức dung hợp từ nhiều tín ngưỡng, nhưng nghi thức của Đạo giáo chiếm vai trò chủ đạo do lực lượng các pháp sư chủ trì và hành lễ. Trong khi cử hành lễ, các vị pháp sư sẽ biểu diễn các nghi thức với dàn kèn trống cùng sự hỗ trợ của các vị thầy cúng khác. 

Ngoài cầu an, lễ hội này còn cầu siêu cho các vong hồn, âm binh do Tổ Công Thần cai quản. Các vong hồn sẽ tụ về để nhận các vật phẩm cúng tế của người dân. Vật phẩm tế thần thường là một con bò và một con heo khỏe mạnh. Trong lễ hội còn có nghi thức các vị thầy cúng leo lên cột dao hành lễ. Cột là cây gỗ lớn mà bậc thang là những lưỡi dao sắc bén chìa ra. 

Cột dao dành cho các vị thầy cúng leo lên hành lễ 


Trong lễ hội có quy mô lớn của người Hoa ở khu vực Định Quán này, người dân tham gia thường cầu mong cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, cầu an cho mỗi gia đình và cầu siêu cho những linh hồn đã khuất. Với số tiền quyên góp cho lễ hội, sau khi dùng chi phí cho việc tổ chức lễ hội, tiền còn thừa sẽ được mang đi làm từ thiện. 

Bài và ảnh: Nguyễn Tự

Ó Ma Lai, cơn ác mộng của một hủ tục

đăng 08:13, 6 thg 8, 2014 bởi Pham Hoai Nhan

Nếu như người Raglai ở vùng rừng núi Ninh Thuận, Khánh Hòa… gọi những bóng ma chuyên hại người là ó ma lai thì người Mạ và S'tiêng ở tỉnh Đồng Nai, đặc biệt là tại xã vùng sâu Tà Lài (huyện Tân Phú) gọi ó ma lai là… ma chạ. Chạ là bóng ma hủ tục hãi hùng khiến dân làng ai cũng khiếp sợ và chính từ nỗi sợ hãi ấu trĩ ấy, người ta vì muốn diệt trừ ma đã gây nên tội ác giết người dã man không khác gì thời Trung cổ với các hình thức chôn sống, chặt đầu. Giữa rừng già thâm u, nhắc chuyện ma chạ, không ít những người già ở Tà Lài, rùng mình khi bóng ma quá khứ hiện về trong tâm trí họ. 


Già làng K'gõ, 70 tuổi, người Mạ: "Làng không còn sợ ma chạ nữa rồi"


Tà Lài là xã vùng đệm của Vườn Quốc gia Cát Tiên, thuộc địa phận huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Nhắc đến Tà Lài, người ta thường liên tưởng đến ngục Tà Lài, nơi mà hơn 80 năm trước, thực dân Pháp tổ chức ruồng bố, bắt bớ đồng bào các dân tộc bản địa là người Mạ, S’tiêng làm phu xây dựng nhà ngục nhằm giam giữ những người yêu nước bị chúng bắt giam. 

Bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Chủ nhiệm Nhà Văn hóa Tà Lài, cho biết: "Sau khởi nghĩa Nam Kỳ (1940), Pháp mở chiến dịch khủng bố, đàn áp phong trào cách mạng trong cả nước và đặc biệt tại Nam Bộ rất khốc liệt. Khi ngục Tà Lài được xây dựng xong, Pháp đã giải nhiều đảng viên, người yêu nước mà chúng bắt bớ được về biệt giam tại chốn lao ngục nơi thâm sơn cùng cốc mà chúng tin rằng đã vào thì không có đường ra. Thế nhưng vào ngày 27/3/1943, đồng chí Trần Văn Giàu đã cùng 10 đồng chí khác vượt ngục Tà Lài thành công, khiến giặc Pháp ngỡ ngàng". 

Từ vùng rừng heo hút, thâm u ngày nào, Tà Lài nay đã thay da đổi thịt, được quy hoạch khá chỉn chu, đường trải nhựa dẫn vào tận trung tâm các buôn làng. Qua cầu treo vững chãi bắc ngang sông Đồng Nai, chúng tôi đi vào địa phận ấp 4, thế giới của đồng bào bản địa, nơi từ nhiều đời qua, 2 tộc người anh em Mạ và S'tiêng cùng chung sống, cùng yêu thương và kiên cường trước mọi hành động ruồng bố, tìm giết của giặc. Những ngày ở nơi này, qua tiếp cận với người làng, chúng tôi ghi nhận được rất nhiều chuyện lạ liên quan đến phong tục tập quán của tộc người chốn rừng sâu, đặc biệt là những chuyện liên quan đến loài ó ma lai mà đồng bào gọi là chạ. 

"Người Mạ và người S'tiêng mình gọi ma là chạ, gọi chao-chạ là người ma. Chao-chạ đáng sợ lắm, nó không thích ai, muốn hại ai là người đó đau bệnh uống thuốc gì cũng không hết, ai chữa cũng không được. Nó làm cho người ta chết đau đớn lắm!". 

Ở tuổi ngoài 70 nhưng già làng K'Gõ, người Mạ, vẫn còn minh mẫn và tráng kiện. Lục lọi trong trí nhớ già nua của mình, già làng K'Gõ khẽ rùng mình khi nhớ lại những bóng hình, câu chuyện của một thời quá vãng ấu trĩ lẫn tàn khốc. Ông hướng ánh mắt nhăn nheo, đỏ đục về khoảnh rừng phía trước, chỉ tay về phía ấy và nói: "Ngày trước người Mạ mình ở cánh rừng bên đó, ai cũng sợ chao-chạ, sợ nó còn hơn sợ sấu (cá sấu), sợ cọp". Hỏi lý do vì sao, già làng K'Gõ, giải thích: "Vào rừng, xuống sông gặp sấu gặp cọp mình có thể chạy, có thể bắn giết nó. Mà nếu bị nó tấn công thì cũng chỉ bị thương hoặc chết một người. Chao-chạ mà ghét ai, hại ai thì làm cho nhà người ta nghèo khổ, làm cho con trâu con heo chết hết. Làm cho người ta cùng anh em họ hàng đau bệnh chữa không hết, rồi chết". 

Xuyên suốt buôn làng, trong từng lời kể, hồi ức của người già, chạ (con ma) mà dẫu chưa từng có ai nhìn thấy thực sự nhưng nỗi khiếp sợ ăn sâu vào xương tủy, tâm khảm thì quá rõ ràng. "Nghe ông già mình kể lại, chạ ác độc lắm. Nếu biết mình bị chao-chạ hại, phải tìm nó, phải giết nó mình mới được sống" - cụ bà tên Thị Lệch, thả hồn về quá khứ: "Chạ có tài phép muốn biến thành gì cũng được. Khi nó biến thành con trâu, con bò, lúc nó biến thành người, biến thành chàng trai, cô gái như người thật, chẳng ai nghi ngờ hay biết nó là chao-chạ. Nên bà con dân làng sợ chạ lắm!". 

Người Mạ và cả S’tiêng ở Tà Lài tin rằng chạ là những hồn ma chết bờ chết bụi không được chôn cất, không được làm lễ bỏ mả, nên linh hồn vất vưởng hóa thành ma, chuyên đi bắt hại người. Lại có người tin rằng chạ thực chất là những người bình thường chơi ngải, gọi là ngải ma. "Người có ngải ma nói gì, biểu gì người khác cũng nghe, cũng tin. Biểu làm gì người khác cũng làm. Mà ngải ma thường chỉ khiến người ta làm điều xấu, điều ác" - ông K'Yếu, nguyên cán bộ Nhà Văn hóa Tà Lài, nói. 


Người làng S'tiêng kể chuyện người ma (chao-chạ). 


Cũng theo lời của K'Yếu, song hành với thế giới người sống là thế giới ma, tồn tại một lực lượng ma quỷ luôn tìm cách hại con người, làm cho con người bị ốm đau, hao tốn tài sản và… sau cùng là cái chết. "Ma chạ có dáng như người ta nhưng có phép thuật làm hại người khác. Chạ đội lốt người cũng có thể lấy chồng lấy vợ như người bình thường. Có khi chạ sống trên rừng, sống trên cây, sống trong buôn làng ma hay trà trộn vào buôn làng, dòng họ nào đó". Hỏi chạ có thể hại người như thế nào, những người già nói nó hút máu, nó ăn óc người, ăn thịt trẻ em, ăn xác chết… 

Như vậy mới thấy ma chạ trong quan niệm của người Mạ không như ó ma lai trong tâm trí của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng, Ninh Thuận… là bóng ma bay lượn chuyên rút ruột người. Ma chạ như lời kể của những người già là người bình thường, sống được trong thế giới người, lẫn vào người rất khó nhận biết. Cũng theo tâm tình của ông K'Yếu, vì sợ chạ hóa thành người ma mà ngày trước, con trai con gái khi đến tuổi lấy chồng lấy vợ không dám lấy người ở làng khác, họ khác. Điều này đồng nghĩa với việc trai gái Mạ hay S'tiêng chỉ lấy người có mối liên hệ họ hàng, dòng tộc. Chính hiện tượng hôn nhân đồng huyết ấy đã khiến nhiều đứa trẻ chào đời èo uột, chết non. Bóng ma ảo đã gây nên thảm họa thật! 

Cứ như thế, trong một thời gian dài, chính niềm tin và sự khiếp hãi về chạ, về chao-chạ ấy đã chi phối thái độ, cách ứng xử tàn bạo của người bản địa ở Tà Lài khi nghi ngờ người thân mình bị chạ hãm hại hay nghi ai đó là chao-chạ. Các già làng kể rằng khi bị chao chạ làm cho đau bệnh, người bệnh (dù còn sống hay đã chết) và người thân của anh ta đều phải nhờ thầy cúng cúng ma rất tốn kém. Có gia đình vì cúng chạ mà cùng kiệt… Sau giai đoạn cúng ma, nếu vẫn chưa hết bệnh, nếu bệnh vẫn ngày càng nặng hơn và nếu như gia đình, dòng họ có thêm người bệnh thì người ta chỉ còn cách tìm diệt ma để trừ hậu họa. Cũng từ đây tội ác man rợ được… bắt đầu! 

"Nếu một người bị nghi là chạ, anh ta sẽ bị dân làng giết chết, giết cả dòng họ anh ta bằng cách đào hố chôn sống, chặt đầu, nói chung là diệt tận gốc. Nghe ông nội mình kể ở dưới Định Quán (huyện Định Quán, Đồng Nai) có người nọ bị làng kết tội là chao-chạ mà cả gia đình anh ta bị chặt đầu, chôn sống. Hồi năm 1978-1979, ở bên Bù Cháp 2 có ông K'lắc là "đại tá ma lai". Ông này lúc nào cũng đeo khẩu súng ma bên người dùng để bắn linh hồn người ta. Sau đó ông này và gia đình nghe đâu bị giết để trừ hậu họa" - ông K'yếu, thì thào kể chuyện và bật mí: "Cũng có làng Mạ hay làng S'tiêng nói rằng chạ hay chao-chạ là những người lạc rừng, những người bị Pháp bắt phu bỏ trốn do đói quá đã ăn ngải độc rồi thành ma. Ngải ma hay giục người ta ăn thịt người. Ngày trước có ông Út Soai dùng ngải ma khiến được cọp, bắt nó đi săn người về cho mình ăn thịt". 

Chuyện kể của K'Yếu nghe qua thật rùng mình kinh hãi, tưởng như chuyện hoang đường nhưng trong báo cáo tham luận tại Hội thảo văn hóa dân gian trong quá trình phát triển miền Đông Nam Bộ, TS Lê Phong (Trường đại học Đà Lạt) cũng nhắc đến cái cách mà người ta trừng phạt, tiêu diệt người bị nghi là ma lai. Chuyện được ghi lại từ lời kể của ông H.M.D., Chủ tịch Mặt trận huyện ĐT là người Churu ở rể xứ Mạ rằng chính ông D. đã tận mắt chứng kiến một người giết người bị nghi là ma lai bằng cách chặt đầu". Chủ tịch xã N.V.S. kể một người tên K'G đã từng giết ma lai trong rừng và báo là giết Fulro. Một nhóm khác đã nhét một bà già vào bao tải thả trôi sông Đạ Đờng vì nghi bà cụ là… chao-chạ... 


Cầu treo Tà Lài dẫn vào buôn làng Mạ và S'tiêng ở bên kia sông Đồng Nai. 


Quay trở lại câu chuyện ma chạ ở Tà Lài. Chúng tôi được ông K'Yếu và những người già khác bật mí bên cạnh hình thức chặt đầu, chôn sống, dân làng còn diệt ma bằng nhiều cách như cúng giải ma cho người có ma, nhờ thần giúp tiêu diệt ma, đổi chỗ nằm, dùng chó săn ma hay lập mưu cho ma uống rượu độc, ăn cơm bỏ thuốc độc trong tiệc cưới, tiệc kết nghĩa… 

Điều đáng ghê sợ hơn cả là gắn liền với nỗi khiếp sợ ma chạ là nỗi ám ảnh của ai đó bỗng dưng bị kết tội… ma. Điều này đồng nghĩa với việc bất kỳ ai cũng có thể bị quy kết là chao-chạ và cũng không loại trừ khi thù ghét nhau, người này vu cho người kia là người ma. Cụ bà Thị Lệch kể: Hai người cãi nhau, hôm sau 1 trong 2 người ấy bỗng dưng đau bệnh, hay súc vật bệnh chết, thế là người có xích mích với người gặp nạn bị gia đình người gặp nạn kết tội là "chạ" và rắp tâm trả thù. Sợ đòn thù ấy, gia đình người bị kết tội phải cầu cứu thầy cúng nhờ giải oan. 

Được thể thầy cúng sẽ bày vẽ đủ màn cúng Yàng (thần linh) tốn kém. Nếu gia đình bị nghi ngờ không làm theo yêu cầu, chỉ đạo của thầy cúng thì sẽ bị ông bà thầy phật lòng, kết là ma và sẽ bị làng xử tội. Và khi đã bị phán quyết là chạ, người bị nghi ngờ cùng người thân khó thoát khỏi cái chết hãi hùng, bi thảm. Cũng vì sợ chạ hại, sợ bị kết tội là chao-chạ nên mọi người sống không dám để xích mích lẫn nhau, thường chỉ quần tụ dưới hình thức dòng họ, lấy người cùng họ để tránh chuyện hại nhau. 

Chuyện về cơn ác mộng ó ma lai trong đời sống của người Mạ và S'tiêng ở Tà Lài là thế. Nghĩa là vì xích mích, bất đồng, ganh ghét hay đơn thuần nghi ngờ theo kiểu suy diễn "tôi với anh không ưa nhau, tôi hay vợ con tôi đau bệnh là do anh dùng ngải ma hại tôi nên anh là chao-chạ" mà người ta vô tư kết tội người khác. Nhưng theo tâm sự của ông K'Yếu, bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết thì sau này, phần đông đồng bào Mạ và S'tiêng cũng hiểu được rằng chạ hay chao-chạ là bóng ma không có thật, rằng nó chỉ là sản phẩm của những thầy cúng tà tâm, muốn khẳng định quyền lực, khống chế tinh thần người khác bằng cách gieo rắc sự sợ hãi. 

"Ngày trước cùng với già làng, thầy cúng có uy nhất làng. Nó nói ai là ma thì người đó là ma. Nó ghét ai thì nó tìm cách hại người ấy. Biết người mình không thích có xích mích với người khác, nó sẽ tìm cách bỏ thuốc độc vào thức ăn, vào nguồn nước uống của gia đình người đó. Bỗng dưng phát bệnh, tất nhiên người kia sẽ nghi ngờ kẻ có gây hấn với mình "làm thuốc", dùng ngải ma hại mình nên báo sự việc với thầy cúng. Chỉ chờ đến đây, thầy cúng sẽ hành hạ người nó ghét. Nếu người đó không biết điều, không nghe lời sai bảo của nó, không cúng heo, mổ trâu thì nó sẽ nói người đó là ma và sẽ mượn dân làng giết chết họ, giết cả vợ con họ. Sau khi giết người ta xong, thầy cúng cho người bị chạ "hại" uống thuốc giải của nó, người đó hết bệnh ngay. Càng như thế người ta càng tin tưởng thầy cúng lắm, sợ thầy cúng lắm!". 

Chạ hay chao-chạ nay chỉ còn là bóng hình của quá khứ. Cộng đồng người Mạ và S'tiêng ở Tà Lài giờ đây khi đau bệnh đã biết đến trạm xá để các bác sĩ chữa trị chứ không còn hoảng sợ, phó thác sinh mạng mình vào tay thầy cúng hay phải tìm cho ra bằng được con ma núp bóng người hãm hại mình. Ông K'Yếu nói rằng hai, ba năm trước, làng vẫn có người tin có ma chạ nhưng đó chỉ là một vài người già, là những người thiếu hiểu biết. 

"Bây giờ, muốn nói ai là chạ phải có bằng chứng, bằng không làng sẽ phạt nặng. Để tránh trường hợp đứa trai ăn nằm với con gái người ta nhưng không chịu cưới vì nghi đứa gái đó là chạ, nếu đứa trai không đưa ra được chứng cứ, nó phải cưới đứa gái, rồi phải nộp phạt cho nhà gái, nộp phạt cho làng ít nhất 1 con trâu vì cái tội đổ bậy đó" - K'Yếu, quả quyết!

Thành Dũng

Gốm Biên Hòa

đăng 18:23, 26 thg 7, 2013 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 01:45, 6 thg 8, 2014 ]

Ít ai biết rằng, gốm Biên Hòa (tỉnh Đồng Nai) đã từng vang danh trên làng gốm thế giới vào những năm cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20. Và cho đến nay, các loại gốm Biên Hòa thời đó vẫn được xem là thứ của hiếm đối với những người chơi gốm cổ.


Biên Hòa được xem là nơi có trường dạy nghề gốm đầu tiên của Đông Dương, đó là Trường dạy nghề Biên Hòa (École Professionnelle de Bien Hoa) được thành lập vào năm 1903. Đến khoảng năm 1913, Trường đổi tên thành Trường Mỹ nghệ Bản xứ Biên Hòa (École d’Art indigène de Bien Hoa). Năm 1923, khi vợ chồng ông bà Robert Balick (Hiệu trưởng) và Mariette Balick (Trưởng Ban gốm) lãnh đạo trường có thể được coi là mốc lịch sử làm thay đổi về chất của gốm Biên Hòa. Bà Balick đã vạch hướng đi riêng cho Ban gốm. Đó là tập trung vào các dòng sản phẩm gốm trang trí nhiều màu sắc, hoa văn chạm khắc đặc sắc, màu men lạ. Đa số những men này được chế tạo từ nguyên liệu tự nhiên như tro rơm, tro lò, thủy tinh (mảnh), cát Đà Nẵng… Những loại men được bà Balick cùng các cộng sự người Việt tạo ra thời bấy giờ là men ta (men làm từ tro), men màu xanh đồng, men đá đổ (men làm từ đá ong Biên Hòa)… 


Gốm Biên Hòa được đúc bằng khuôn.


Gốm sau khi đúc xong được đem phơi nắng cho khô.


Công đoạn chấm men trực tiếp lên sản phẩm gốm thô.


Phụ nữ làng gốm.


Người thợ gốm đang nắn chỉnh một chiếc lu lớn.


Thợ nung là người dày dạn kinh nghiệm, họ xác định được nhiệt độ bằng cách quan sát ngọn lửa để từ đó điều tiết nhiệt độ một cách thích hợp trong lò nung.


Kiểm tra sản phẩm sau khi nung.


Phun lớp phủ bóng.


Gốm được tập kết ra bãi.


Một lò gốm cổ đốt bằng củi hơn 100 tuổi ở làng gốm Biên Hòa.


Lò nung cải tiến đốt bằng gas. 


Gốm mỹ nghệ Biên Hoà là một thương hiệu gốm lớn nổi danh châu Âu, châu Á từ hồi đầu thế kỷ 20. Năm 1925, các sản phẩm gốm của Trường Mỹ nghệ Bản xứ Biên Hòa tham dự cuộc triển lãm quốc tế tổ chức tại Paris đã gây tiếng vang lớn. Tất cả hàng gốm Biên Hòa đã bán sạch và còn nhận được nhiều đơn đặt hàng. Chính phủ Pháp đã tặng bằng khen danh dự tối ưu và Ban tổ chức triển lãm tặng huy chương vàng. Sau đó, ở cuộc triển lãm quốc tế tại Paris năm 1933, sản phẩm gốm Biên Hòa đã thực sự chiếm được vị trí của mình ở Pháp và thị trường gốm quốc tế. Sản phẩm của trường đã liên tục tham gia nhiều cuộc triển lãm lớn ở trong và ngoài nước như: Nagoya (Nhật Bản - 1937), Hà Nội (1938), Sài Gòn (1942), Bangkok (Thái Lan - 1953 và 1955), PhnomPenh (Campuchia - 1957). Từ đây bắt đầu cho một thời kỳ hưng thịnh và tiếng tăm của gốm Biên Hòa đến cuối thế kỷ 20.

Hiện nay, nghề làm gốm ở Biên Hòa tập trung tại các phường Bửu Long, Tân Vạn, xã Tân Hạnh và Hóa An của thành phố Biên Hòa với hơn 40 cơ sở lớn nhỏ. Các cơ sở này mang tính gia đình theo kiểu cha truyền con nối. Các sản phẩm hầu hết đều được xuất khẩu ra nước ngoài. 

Tại sao gốm Biên Hòa lại được thị trường quốc tế ưa chuộng như vậy? Ông Vòng Khiềng, Tổng Thư ký Hiệp hội Gốm mỹ nghệ Đồng Nai cho biết: "Gốm Biên Hòa đẹp và độc đáo từ chạm khắc đến nước men vì nó là sản phẩm giao thoa giữa ba dòng gốm của người Việt, người Hoa và người Chăm”. Có 2 dòng gốm chủ yếu hiện đang được các lò gốm sản xuất là gốm mỹ nghệ hoa văn đất trắng với kỹ thuật khắc chìm, vẽ hoa văn trực tiếp lên gốm và gốm đất đen được đốt ở nhiệt độ cao.

Chúng tôi đến lò gốm Phát Thành của nghệ nhân Nguyễn Hữu Tân ở phường Tân Vạn. Mỗi ngày lò gốm này cho ra lò khoảng 300 sản phẩm. Hơn 30 thợ gốm tham gia làm nhiều công đoạn. Mỗi người một việc để tạo ra những sản phẩm đẹp mắt. Dẫn chúng tôi đi tham quan cơ ngơi lò gốm rộng gần 5000 mét vuông chất đầy gốm với đủ loại mẫu mã khác nhau, nghệ nhân Nguyễn Hữu Tân cho biết: “Đây chỉ là một trong những lò gốm của tôi thôi. Ngày xưa, có thời điểm chúng tôi làm không kịp hàng giao cho thương lái. Gần 50 năm trong nghề gốm, tôi luôn tâm huyết vực dậy nghề truyền thống của cha ông để lại cho mình”.

Để có được nét đặc trưng của gốm Biên Hòa phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Kỹ thuật pha chế men là khâu rất quan trọng vì chính khâu này sẽ quyết định màu sắc trên sản phẩm. Chấm men cũng là khâu quan trọng, phải làm quen và đều tay, nếu không, khi nung sản phẩm sẽ bị méo mó, biến dạng. Chất liệu men cũng quan trọng chẳng kém. Gặp phải men xấu sẽ bị ảnh hưởng đến tính mỹ thuật của sản phẩm. Vì vậy, các cơ sở sản xuất gốm mỹ nghệ hơn thua nhau không những về mẫu mã mà còn về nước men. Chính vì vậy mà mỗi lò gốm đều giữ bí mật của riêng mình về kỹ thuật pha chế men gốm. Ngoài ra, khâu nung cũng là khâu quan trọng vì nó quyết định sự thành bại của cơ sở. Thợ nung phải là người dạn dày kinh nghiệm, họ xác định được nhiệt độ bằng mắt rất chính xác và từ đó điều tiết nhiệt độ một cách thích hợp trong lò nung. 


Những pho tượng đất sét mới được đổ khuôn, chưa qua khâu xử lý men và nung.


Những chiếc chậu gốm đất đen được đốt ở nhiệt độ cao nên bền vững với thời gian.


Một sản phẩm gốm mang phong cách mới của làng gốm Biên Hòa. 


Gốm Biên Hòa vừa có giá trị nghệ thuật lại vừa có giá trị sử dụng cao. Những sản phẩm gốm mỹ thuật trang trí độc đáo, phong phú và đa dạng ở đủ mọi chủng loại như các loại đôn voi, đôn tròn, các loại chậu hoa, tượng, thú... với nét trang trí canh tân hiện đại, tinh tế, sử dụng men nhẹ lửa, màu men thanh thoát. Ngoài ra, Biên Hòa còn nổi tiếng bởi các sản phẩm gốm đất nung (gốm đỏ) không phủ men mang vẻ đẹp tự nhiên, rất được thị trường ưa chuộng. Hiện nay, các nghệ nhân và thợ gốm Biên Hòa đang phục hồi lại gốm men xanh đồng trổ bông nổi tiếng của gốm Biên Hòa xưa. 

Hiện nay, doanh thu xuất khẩu của nghề gốm Biên Hòa đạt khoảng 1 triệu USD/năm. Đây là con số khá khiêm tốn so với khoảng 10 năm trước đây. Vì vậy, để vực dậy gốm Biên Hòa cần sự chung tay của chính quyền với những chính sách hợp lý cùng những người tâm huyết với nghề gốm. 

Nằm dọc theo lưu vực sông Đồng Nai thơ mộng, làng gốm Biên Hòa hơn 300 tuổi nay vẫn tồn tại và tiếp tục đóng góp cho đời dù không còn được thịnh như xưa.


Bài: Nguyễn Oanh - Ảnh: Nguyễn Luân

1-10 of 25

Comments