Làng nghề và tập quán của dân cư Đồng Nai

Bài mới

  • Bưởi ngọt trên cù lao Tân Triều Cách trung tâm Tp. Biên Hòa khoảng 10km, cù lao Tân Triều (xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai) hiện là vùng chuyên canh cây bưởi và trở ...
    Được đăng 00:52, 28 thg 12, 2015 bởi Pham Hoai Nhan
  • Nghề điêu khắc đá Bửu Long Với hơn 300 năm tồn tại, làng nghề điêu khắc đá Bửu Long (phường Bửu Long, Tp. Biên Hòa) được coi là làng nghề thủ công lâu đời nhất của ...
    Được đăng 16:45, 11 thg 10, 2015 bởi Pham Hoai Nhan
  • Quan niệm về hôn nhân của người Mạ ở Đồng Nai Người Mạ ở Đồng Nai có nhiều nét văn hóa độc đáo về phong tục, tập quán từ xa xưa. Trong đó, thú vị nhất chính là quan niệm của ...
    Được đăng 07:59, 3 thg 1, 2015 bởi Pham Hoai Nhan
  • Độc đáo lễ Tả Tài Phán ở Đồng Nai Là lễ hội độc đáo của cộng đồng người Hoa tại Định Quán, Đồng Nai, Tả Tài Phán thường diễn ra vào dịp ba tháng cuối hoặc ba tháng đầu ...
    Được đăng 08:14, 6 thg 8, 2014 bởi Pham Hoai Nhan
  • Ó Ma Lai, cơn ác mộng của một hủ tục Nếu như người Raglai ở vùng rừng núi Ninh Thuận, Khánh Hòa… gọi những bóng ma chuyên hại người là ó ma lai thì người Mạ và S'tiêng ở ...
    Được đăng 08:13, 6 thg 8, 2014 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 21. Xem nội dung khác »

Bưởi ngọt trên cù lao Tân Triều

đăng 00:52, 28 thg 12, 2015 bởi Pham Hoai Nhan

Cách trung tâm Tp. Biên Hòa khoảng 10km, cù lao Tân Triều (xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai) hiện là vùng chuyên canh cây bưởi và trở thành thương hiệu trái cây nức tiếng khắp Nam Bộ. 

Xưa kia, vùng đất Tân Triều chủ yếu trồng trầu. Vào năm 1869, vị cha xứ nhà thờ Tân Triều mang hai cây bưởi giống từ Brazil về trồng, khi quả chín bổ ra thấy múi đều và vàng ươm, khi ăn rất ngọt. Từ đó, người dân chiết cành đem trồng và nhân rộng ra trong vùng. Đến nay, cù lao này đã trở thành vùng chuyên canh cây bưởi và thương hiệu bưởi Tân Triều là đặc sản trái cây nức tiếng khắp Nam Bộ. 

Từ năm 2006, Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ đã cấp giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm bưởi Tân Triều. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển giá trị thương hiệu bưởi Tân Triều, góp phần nâng cao giá trị cạnh tranh cho loại nông sản này trên thị trường trong và ngoài nước.

Ngoài ra, Hợp tác xã nông nghiệp - dịch vụ Tân Triều được thành lập để hướng dẫn bà con nông dân áp dụng khoa học - kỹ thuật vào trồng bưởi chuyên nghiệp để cho ra trái đồng đều, sản lượng lớn và có hương vị đặc thù. Sản phẩm bưởi Tân Triều theo đó cũng được sản xuất theo tiêu chuẩn Gap để cung cấp sản lượng ổn định, bền vững.

Bưởi Tân Triều hiện là đặc sản trái cây nức tiếng khắp vùng Nam Bộ.


Hai giống bưởi đường lá cam và bưởi đường cao núm rất phù hợp với thổ nhưỡng của vùng cù lao Tân Triều.


Hệ thống tưới nước tự động giúp các hộ dân giảm chi phí nhân công trong quá trình chăm sóc cây bưởi.


Người dân thu hoạch bưởi Tân Triều.


Nhờ áp dụng các khoa học kỹ thuật trong chăm sóc nên giống bưởi Tân Triều cho quả rất sai trên đầu cành.


Dán tem bảo vệ thương hiệu cho bưởi Tân Triều.


Bưởi Tân Triều hiện là thương hiệu nổi tiếng cả trong và ngoài nước.


Sản phẩm bưởi Tân Triều được sản xuất theo tiêu chuẩn Gap.


Bưởi Tân Triều cho múi ngọt, vỏ mỏng và rất mọng nước.


Khách du lịch đến thăm các vườn bưởi Tân Triều.


Sắp đặt mô hình bưởi Tân Triều ở huyện Vĩnh Cửu, một cách quảng bá và thu hút du khách đến tham quan những vườn bưởi. 

Tỉnh Đồng Nai đã quy hoạch phát triển trồng giống bưởi Tân Triều ở những vùng đất khác có thổ nhưỡng phù hợp như: xã  Bình Hòa, xã Tân Bình, xã Bình Lợi, xã Thiện Tân, xã Tân An thuộc huyện Vĩnh Cửu với diện tích lên đến hàng ngàn ha.

Hiện cả Tân Triều có khoảng 400ha bưởi, chủ yếu là giống bưởi đường lá cam, bưởi xiêm ruột đỏ, bưởi da xanh ruột hồng, bưởi ổi, bưởi da láng… Giá bưởi Tân Triều dao động theo từng năm, bình quân giá bưởi đường lá cam, bưởi ổi bán tại vườn khoảng 280 - 300 ngàn đồng/chục (1 chục là 12 trái). Đặc biệt, vào dịp Tết Nguyên đán, giá có thể lên đến 1 - 1,2 triệu đồng/chục. Bưởi Tân Triều không chỉ tiêu thụ ở khắp các tỉnh, thành trong cả nước mà đang được xuất đi nhiều nước châu Âu như: Hà Lan, Đức…

Ngoài việc mang lại hiệu quả kinh tế cao, bưởi Tân Triều còn phát huy tiềm năng du lịch khi đón tiếp hàng nghìn lượt du khách đến tham quan mỗi năm và thưởng thức các món ẩm thực độc đáo được chế biến từ trái bưởi như: gỏi bưởi, rượu bưởi, chè bưởi, nước ép, mứt bưởi, gà nướng trái bưởi…

Đến Tân Triều, du khách sẽ được nghỉ dưỡng trong khu du lịch sinh thái Làng bưởi Tân Triều của ông Năm Huệ, người tiên phong cho mô hình du lịch làng bưởi. Đích thân ông Năm Huệ sẽ giới thiệu các món ẩm thực có vị bưởi để du khách có thể tận hưởng hết hương vị ngọt ngào của quê hương làng bưởi.

Ngon và đặc trưng nhất ở Tân Triều phải kể đến là món gỏi bưởi. Ngoài thành phần chính là tép bưởi, gỏi bưởi còn có đậu phộng, mè rang, tôm luộc, thịt ba rọi, ngó sen, cà rốt xắt sợi... Gỏi bưởi thường ăn kèm với bánh phồng tôm hoặc bánh tráng mè chấm với nước mắm cay rất ngon.

Dưới vườn cây rợp bóng và từng chùm bưởi lúc lỉu quả trên đầu, bên rạch nước với không khí mát lành, được thưởng thức món gỏi bưởi chắc chắn sẽ là một trải nghiệm khó quên cho mỗi du khách khi đến với cù lao Tân Triều.

Bài: Nguyễn Vũ Thành Đạt - Ảnh: Thông Hải

Nghề điêu khắc đá Bửu Long

đăng 16:45, 11 thg 10, 2015 bởi Pham Hoai Nhan

Với hơn 300 năm tồn tại, làng nghề điêu khắc đá Bửu Long (phường Bửu Long, Tp. Biên Hòa) được coi là làng nghề thủ công lâu đời nhất của vùng đất Đồng Nai đang ngày đêm sáng tạo nên những tác phẩm nghệ thuật tinh xảo từ đá.

Theo "Gia Định thành thông chí" của Trịnh Hoài Đức (1765 -1825) ghi rằng, nhóm Cao, Lôi, Liêm của Trần Thượng Xuyên do không chịu sự thuần phục của nhà Thanh (Trung Quốc) đã vượt biển đến sinh sống tại xứ Bàn Lân (Biên Hòa ngày nay). Những cư dân này mang theo nghề làm đá đã cùng với người Việt bản địa lập nên làng nghề điêu khắc đá.

Đá nguyên liệu để làm sản phẩm đá mỹ nghệ Bửu Long là đá tấm, đá phiến. Những người thợ tìm đá nguyên liệu được gọi là thợ làm “đá sống”, phải lên núi tìm những tảng đá đạt yêu cầu mang về. Từ đây, những người thợ điêu khắc đá bắt đầu công việc chế tác sản phẩm, gọi là thợ làm “đá chín”.

Nguyên liệu đá thô (đá sống) làm nên các sản phẩm điêu khắc đá.


Đá nguyên liệu sử dụng làm sản phẩm đá mỹ nghệ Bửu Long thường là các loại đá tấm, đá phiến.


Những người thợ chế tác nguyên liệu thô được gọi là thợ làm “đá sống”.


Tất cả các khối đá lớn đem về được chia nhỏ sử dụng chế tác sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng.


Những người thợ có thâm niên lâu năm mới làm ra được những sản phẩm điêu khắc có tính nghệ thuật.


Sự tỉ mỉ và cẩn thận là yếu tố không thể thiếu trong nghề điêu khắc đá.


Để đạt được độ tinh xảo cho sản phẩm phụ thuộc vào đôi bàn tay khéo léo, lành nghề của người thợ đá.


Để một khối đá sống trở thành sản phẩm mỹ nghệ trải qua rất nhiều công đoạn.


Các sản phẩm đều được người thợ đá sáng tạo trở thành các tác phẩm độc đáo, có giá trị. 


Đến cơ sở Nhật Thành trong lúc từng nhóm thợ đang say mê làm “đá chín” mới biết để khối đá trở nên sinh động và có hồn, người thợ phải sử dụng nhiều thủ thuật với nhiều loại công cụ khác nhau như đục nhảy, đục phá, đục láng, đục rãnh, đục khớp, đục vòng…

Một khối đá sống muốn thành một sản phẩm cần qua bốn công đoạn tạo tác của người thợ làng đá Bửu Long bao gồm: vạt mảng tạo dáng, vẽ chi tiết trên đá đã tạo dáng (bằng mực nho), đục hoàn chỉnh và tạo hình, đánh bóng sản phẩm (bằng đá mài). Trong đó, công đoạn tạo hình và đánh bóng được coi là khó nhất.

Ngày nay, làng nghề điêu khắc đá Bửu Long đã áp dụng công nghệ vào sản xuất, đá nguyên liệu được cắt, gọt, giũa bằng hệ thống máy cưa, cắt hiện đại. Tuy vậy, để đạt được độ tinh xảo cho sản phẩm thì vẫn cần đến đôi bàn tay khéo léo, lành nghề của người thợ. Các sản phẩm: tháp sen, tượng rồng, lân hay sư tử dũng mãnh… đều được người thợ thổi hồn vào để trở thành những tác phẩm độc đáo, có giá trị.

Làng điêu khắc đá còn làm ra nhiều sản phẩm khác như: khám thờ, lư hương, bát nhang, đèn, linh vị, bia, cối xay, cối giã gạo, ly chén, bình đựng, bộ cờ…

Một số sản phẩm điêu khắc đá độc đáo của làng nghề Bửu Long:






Hơn ba thế kỷ với nhiều thăng trầm, làng nghề điêu khắc đá Bửu Long đã sản sinh ra nhiều nghệ nhân tài hoa như Hà Kiều, Dương Văn Hai, Ngụy Đức Mỹ, Phạm Thành Đầu… Hiện những cơ sở làm đá ở Bửu Long như Tân Phát Hưng, Tín Nghĩa, Tân Vĩnh Quang, Nhật Thành... với quy mô khá lớn đã góp phần tạo nên thương hiệu cho làng nghề. Sản phẩm đá Bửu Long có mặt khắp nơi trong cả nước và đang vươn ra thị trường nước ngoài như: Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc, Nhật Bản…

Bài: Nguyễn Vũ Thành Đạt - Ảnh: Thông Hải

Quan niệm về hôn nhân của người Mạ ở Đồng Nai

đăng 07:59, 3 thg 1, 2015 bởi Pham Hoai Nhan

Người Mạ ở Đồng Nai có nhiều nét văn hóa độc đáo về phong tục, tập quán từ xa xưa. Trong đó, thú vị nhất chính là quan niệm của họ về hôn nhân.


Hôn nhân của người Mạ ở Đồng Nai theo chế độ phụ hệ, một vợ một chồng và tuyệt nhiên không có quan niệm trọng nam khinh nữ. Đặc biệt, khi con cái trong nhà đến tuổi trưởng thành, khoảng 15-17 tuổi được thoải mái tự do tìm hiểu. Ngoại trừ những trường hợp bố mẹ có hôn ước cho con từ thuở nhỏ, đứa trẻ lớn lên sẽ phải tuân theo và không được tự do lựa chọn bạn đời.

Khi hai người đồng ý sống cùng nhau, chàng trai sẽ về thông báo với gia đình để chuẩn bị sính lễ đến nhà cô gái làm đám nói. Người con trai muốn đính hôn với một người con gái thì phải biếu bố mẹ vợ tương lai nhiều món quà quý, thường là một ché rượu, một con gà, một số tặng phẩm như chuỗi hạt đeo cổ, lục lạc, lược sừng và một số đồ trang sức nhỏ khác theo ý thích của người vợ tương lai.

Cùng với những lễ vật đã được sắm rất chu đáo, bên nhà trai sẽ nhờ một người có uy tín trong họ hàng để làm ông mai dẫn đến nhà gái. Khi đi hỏi vợ, chàng trai người Mạ đã trở thành một người đàn ông thực thụ với ngọn lao cầm trên tay, chiếc dao dắt ngang lưng và trên vai là cây xà gạc.

Đồng thời, anh ta sẽ được mặc trang phục truyền thống của người Mạ, đó là đóng khố với nhiều sợi dây màu đỏ nổi bật, tay đeo trang sức đồng, búi tóc lên cao và cài một chiếc lược sừng sâu. Cô gái sẽ phục sức lên người một bộ váy với nhiều hoa văn đặc trưng rất đẹp mắt của người Mạ, kèm theo những phụ kiện như chiếc đai lưng màu sặc sỡ, đeo nhiều chuỗi vòng có đính hạt cườm. Cô gái cũng giống như chàng trai, búi tóc và cài lược sừng trâu nhưng được cắm thêm con dao nhỏ.

Khi vừa tới nhà gái, tự tay chàng trai sẽ cắm ngọn lao xuống đất, ngay trước cửa nhà gái và… đứng đợi. Một lát sau, người đại diện cho đàng gái có thể là cha hoặc cậu ruột sẽ trực tiếp ra đón nhà trai. Sau khi nghe lời trình bày lý do tại sao đến đây của chàng trai, nhà gái gật đầu đồng ý. Ngay lúc đó, chàng trai sẽ rút ngọn giáo và cùng mọi người vào nhà.

Cũng giống như nhiều dân tộc thiểu số khác, việc đầu tiên mà chàng trai người Mạ phải làm khi bước chân vào nhà gái là đứng trước bàn thờ tổ tiên khấn vái rồi đem ngọn giáo gác lên xà nhà. Ngọn giáo sẽ được để nguyên tại nhà gái bảy ngày bảy đêm.

Sau những nghi lễ được hai họ cử hành, mọi người mới cùng nhau ngồi lại bên những ché rượu cần. Lúc tiệc rượu tàn, nhà trai ra về, riêng chàng trai sẽ ở lại nhà vợ chưa cưới để làm việc. Đặc biệt, một tập tục kì lạ chỉ có ở người Mạ là sau đám hỏi việc quan hệ nam nữ sẽ tuyệt nhiên bị cấm, dù trước đó hoàn toàn thoải mái. Trường hợp đôi trai gái muốn ngủ chung thì phải vào rừng và tự dựng túp lều để cùng nhau sống ở đó. Đến khi kết hôn các cặp đôi sẽ được ngủ chung.

Trong quá trình sống chung, nếu đôi vợ chồng trẻ không hợp nhau hay cô gái không thể sinh con cho nhà chồng thì đằng trai có thể trả cô gái về nhà mẹ đẻ. Dù cô dâu có lỗi cũng không được đánh đập, đặc biệt trước mặt bố mẹ vợ và con cái, vì như thế chẳng khác nào đánh vào cha mẹ cô gái. Bởi theo quan niệm của người Mạ, nếu cô dâu được trả về nhà mẹ đẻ trong tình trạng bầm dập, thì cô đã là một người chết, nhà gái sẽ không nhận. Đồng thời, nhà gái sẽ phạt vạ nhà trai rất nặng. Chính vì vậy, để cha mẹ nhận lại con cái của họ thì cô gái phải được trả về “nguyên vẹn”.

Ngày nay, người Mạ cũng đã tiếp thu những nét văn hóa hiện đại vào trong cuộc sống của mình nên đã có nhiều thay đổi trong chế độ hôn nhân. Nhà trai đã chủ động hơn trong hôn nhân, đồng thời, chàng rể cũng có thể rước dâu như người Kinh ngay sau làm lễ cưới và không phải ở rể như trước đây. Tuy nhiên, chế độ một vợ một chồng vẫn được duy trì như một truyền thống tốt đẹp của người Mạ từ xa xưa.

Độc đáo lễ Tả Tài Phán ở Đồng Nai

đăng 08:14, 6 thg 8, 2014 bởi Pham Hoai Nhan

Là lễ hội độc đáo của cộng đồng người Hoa tại Định Quán, Đồng Nai, Tả Tài Phán thường diễn ra vào dịp ba tháng cuối hoặc ba tháng đầu năm.

Mục đích chính của lễ hội này để cầu an, cầu siêu và tấn phong cấp bậc lên Đại Pháp Sư cho vị thầy cúng chủ trì buổi lễ. Không có quỹ riêng để tổ chức lễ hội nên ban tổ chức thường phải đứng ra kêu gọi sự đóng góp từ nhiều nguồn như thầy cúng muốn thăng cấp bậc trong lễ, người dân trong cộng đồng và các mạnh thường quân. 

Trước đây, lễ được tổ chức trong các dịp thiên tai, bệnh dịch, mất mùa nhưng hiện nay, ngày tổ chức không cố định, và tùy thuộc vào số tiền quyên góp được, mong muốn cầu an, cầu siêu của người dân hoặc vị thầy cúng muốn thăng cấp bậc đứng ra tổ chức lễ. 

Một nghi thức trong buổi lễ. 


Những khu vực tập trung người Hoa cư trú thường có một miếu thờ Thổ Thần hay Quan Âm, nơi dành cho tín ngưỡng có tính cộng đồng. Đây cũng chính là nơi diễn ra lễ Tả Tài Phán khi tổ chức. Vào thời gian diễn ra lễ, cộng đồng dân cư quanh vùng đều tập trung để chuẩn bị cho các hoạt động trong lễ hội. 

Khu vực miếu thờ được thiết kế thành không gian dành cho hoạt động hành lễ gồm ba phần chính: cổng chào, khu vực cầu thí và thờ cúng. Khu vực cổng chào còn gọi là cổng thành, có ba cửa, với cửa lớn chính giữa và hai cửa nhỏ hai bên. Phía trên cửa chính thường dựng cao kiểu lầu từ hai đến ba tầng. 

Những cuộn vải màu cầu an, cầu siêu 


Cổng thường được làm bằng tre, trang trí giấy màu rực rỡ, dán những câu chữ Hán chào mừng những người đến tham dự. Bước qua cổng là vào nội thành, với không gian trang trí sặc sỡ. 

Khu vực cầu thí cách cổng thành khoảng 10 m. Hai bên tả, hữu của lều cầu thí là những cây nêu cầu thí của các gia chủ. Những cây tre, trên có tấm vải đỏ dài viết nội dung cầu tế, đèn treo được dựng cao lên. Hai hàng cây tre hướng về phía khu thờ cúng chính là gian Chung Tổ Đường. 

Chung Tổ Đường cách cổng 30 - 33 m, có ba gian thờ. Ở giữa thờ tổ tiên, nơi để những bài vị, chân nhang của những người tổ chức, các thí chủ tham dự và đăng lĩnh. Bên phải là Võ đàn, nơi để bàn thờ Ngọc Hoàng và các vị thần linh, võ tướng. Bên trái là Văn đàn, bài trí thờ Tam Bảo Phật. Phía bên trong mỗi gian thờ có một bàn thờ, trang trí nhiều giấy màu sặc sỡ, long mão gắn lông công, nhiều hình ảnh liên quan đến các vị thần linh. 

Ba cửa chính ngang hàng, dán nhiều câu chữ Hán ca tụng công, đức, sự hiển linh, báo đáp. Những mảnh vải đỏ từ hàng tre tùy theo nội dung câu tế mà khi hành lễ được kéo nối với các gian thờ theo quy định: cầu phúc nối vào Văn đàn, cầu thọ nối vào Võ đàn. 

Trong khu vực từ chỗ hàng tre cầu thí đến Chung Tổ Đường được dùng làm đàn cho các thầy cúng hành lễ ngoài trời với bàn thờ tế, dựng cây tre lớn, vật tế sống (như bò, heo) và dựng đao cầu giải, hành dẫn qua dãy than hồng... theo quy trình của lễ hội. 

Đây là lễ hội truyền thống quy mô lớn của cộng đồng người Hoa chuyên canh nông nghiệp. Lễ hội diễn ra trong nhiều ngày với các nghi thức dung hợp từ nhiều tín ngưỡng, nhưng nghi thức của Đạo giáo chiếm vai trò chủ đạo do lực lượng các pháp sư chủ trì và hành lễ. Trong khi cử hành lễ, các vị pháp sư sẽ biểu diễn các nghi thức với dàn kèn trống cùng sự hỗ trợ của các vị thầy cúng khác. 

Ngoài cầu an, lễ hội này còn cầu siêu cho các vong hồn, âm binh do Tổ Công Thần cai quản. Các vong hồn sẽ tụ về để nhận các vật phẩm cúng tế của người dân. Vật phẩm tế thần thường là một con bò và một con heo khỏe mạnh. Trong lễ hội còn có nghi thức các vị thầy cúng leo lên cột dao hành lễ. Cột là cây gỗ lớn mà bậc thang là những lưỡi dao sắc bén chìa ra. 

Cột dao dành cho các vị thầy cúng leo lên hành lễ 


Trong lễ hội có quy mô lớn của người Hoa ở khu vực Định Quán này, người dân tham gia thường cầu mong cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, cầu an cho mỗi gia đình và cầu siêu cho những linh hồn đã khuất. Với số tiền quyên góp cho lễ hội, sau khi dùng chi phí cho việc tổ chức lễ hội, tiền còn thừa sẽ được mang đi làm từ thiện. 

Bài và ảnh: Nguyễn Tự

Ó Ma Lai, cơn ác mộng của một hủ tục

đăng 08:13, 6 thg 8, 2014 bởi Pham Hoai Nhan

Nếu như người Raglai ở vùng rừng núi Ninh Thuận, Khánh Hòa… gọi những bóng ma chuyên hại người là ó ma lai thì người Mạ và S'tiêng ở tỉnh Đồng Nai, đặc biệt là tại xã vùng sâu Tà Lài (huyện Tân Phú) gọi ó ma lai là… ma chạ. Chạ là bóng ma hủ tục hãi hùng khiến dân làng ai cũng khiếp sợ và chính từ nỗi sợ hãi ấu trĩ ấy, người ta vì muốn diệt trừ ma đã gây nên tội ác giết người dã man không khác gì thời Trung cổ với các hình thức chôn sống, chặt đầu. Giữa rừng già thâm u, nhắc chuyện ma chạ, không ít những người già ở Tà Lài, rùng mình khi bóng ma quá khứ hiện về trong tâm trí họ. 


Già làng K'gõ, 70 tuổi, người Mạ: "Làng không còn sợ ma chạ nữa rồi"


Tà Lài là xã vùng đệm của Vườn Quốc gia Cát Tiên, thuộc địa phận huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Nhắc đến Tà Lài, người ta thường liên tưởng đến ngục Tà Lài, nơi mà hơn 80 năm trước, thực dân Pháp tổ chức ruồng bố, bắt bớ đồng bào các dân tộc bản địa là người Mạ, S’tiêng làm phu xây dựng nhà ngục nhằm giam giữ những người yêu nước bị chúng bắt giam. 

Bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Chủ nhiệm Nhà Văn hóa Tà Lài, cho biết: "Sau khởi nghĩa Nam Kỳ (1940), Pháp mở chiến dịch khủng bố, đàn áp phong trào cách mạng trong cả nước và đặc biệt tại Nam Bộ rất khốc liệt. Khi ngục Tà Lài được xây dựng xong, Pháp đã giải nhiều đảng viên, người yêu nước mà chúng bắt bớ được về biệt giam tại chốn lao ngục nơi thâm sơn cùng cốc mà chúng tin rằng đã vào thì không có đường ra. Thế nhưng vào ngày 27/3/1943, đồng chí Trần Văn Giàu đã cùng 10 đồng chí khác vượt ngục Tà Lài thành công, khiến giặc Pháp ngỡ ngàng". 

Từ vùng rừng heo hút, thâm u ngày nào, Tà Lài nay đã thay da đổi thịt, được quy hoạch khá chỉn chu, đường trải nhựa dẫn vào tận trung tâm các buôn làng. Qua cầu treo vững chãi bắc ngang sông Đồng Nai, chúng tôi đi vào địa phận ấp 4, thế giới của đồng bào bản địa, nơi từ nhiều đời qua, 2 tộc người anh em Mạ và S'tiêng cùng chung sống, cùng yêu thương và kiên cường trước mọi hành động ruồng bố, tìm giết của giặc. Những ngày ở nơi này, qua tiếp cận với người làng, chúng tôi ghi nhận được rất nhiều chuyện lạ liên quan đến phong tục tập quán của tộc người chốn rừng sâu, đặc biệt là những chuyện liên quan đến loài ó ma lai mà đồng bào gọi là chạ. 

"Người Mạ và người S'tiêng mình gọi ma là chạ, gọi chao-chạ là người ma. Chao-chạ đáng sợ lắm, nó không thích ai, muốn hại ai là người đó đau bệnh uống thuốc gì cũng không hết, ai chữa cũng không được. Nó làm cho người ta chết đau đớn lắm!". 

Ở tuổi ngoài 70 nhưng già làng K'Gõ, người Mạ, vẫn còn minh mẫn và tráng kiện. Lục lọi trong trí nhớ già nua của mình, già làng K'Gõ khẽ rùng mình khi nhớ lại những bóng hình, câu chuyện của một thời quá vãng ấu trĩ lẫn tàn khốc. Ông hướng ánh mắt nhăn nheo, đỏ đục về khoảnh rừng phía trước, chỉ tay về phía ấy và nói: "Ngày trước người Mạ mình ở cánh rừng bên đó, ai cũng sợ chao-chạ, sợ nó còn hơn sợ sấu (cá sấu), sợ cọp". Hỏi lý do vì sao, già làng K'Gõ, giải thích: "Vào rừng, xuống sông gặp sấu gặp cọp mình có thể chạy, có thể bắn giết nó. Mà nếu bị nó tấn công thì cũng chỉ bị thương hoặc chết một người. Chao-chạ mà ghét ai, hại ai thì làm cho nhà người ta nghèo khổ, làm cho con trâu con heo chết hết. Làm cho người ta cùng anh em họ hàng đau bệnh chữa không hết, rồi chết". 

Xuyên suốt buôn làng, trong từng lời kể, hồi ức của người già, chạ (con ma) mà dẫu chưa từng có ai nhìn thấy thực sự nhưng nỗi khiếp sợ ăn sâu vào xương tủy, tâm khảm thì quá rõ ràng. "Nghe ông già mình kể lại, chạ ác độc lắm. Nếu biết mình bị chao-chạ hại, phải tìm nó, phải giết nó mình mới được sống" - cụ bà tên Thị Lệch, thả hồn về quá khứ: "Chạ có tài phép muốn biến thành gì cũng được. Khi nó biến thành con trâu, con bò, lúc nó biến thành người, biến thành chàng trai, cô gái như người thật, chẳng ai nghi ngờ hay biết nó là chao-chạ. Nên bà con dân làng sợ chạ lắm!". 

Người Mạ và cả S’tiêng ở Tà Lài tin rằng chạ là những hồn ma chết bờ chết bụi không được chôn cất, không được làm lễ bỏ mả, nên linh hồn vất vưởng hóa thành ma, chuyên đi bắt hại người. Lại có người tin rằng chạ thực chất là những người bình thường chơi ngải, gọi là ngải ma. "Người có ngải ma nói gì, biểu gì người khác cũng nghe, cũng tin. Biểu làm gì người khác cũng làm. Mà ngải ma thường chỉ khiến người ta làm điều xấu, điều ác" - ông K'Yếu, nguyên cán bộ Nhà Văn hóa Tà Lài, nói. 


Người làng S'tiêng kể chuyện người ma (chao-chạ). 


Cũng theo lời của K'Yếu, song hành với thế giới người sống là thế giới ma, tồn tại một lực lượng ma quỷ luôn tìm cách hại con người, làm cho con người bị ốm đau, hao tốn tài sản và… sau cùng là cái chết. "Ma chạ có dáng như người ta nhưng có phép thuật làm hại người khác. Chạ đội lốt người cũng có thể lấy chồng lấy vợ như người bình thường. Có khi chạ sống trên rừng, sống trên cây, sống trong buôn làng ma hay trà trộn vào buôn làng, dòng họ nào đó". Hỏi chạ có thể hại người như thế nào, những người già nói nó hút máu, nó ăn óc người, ăn thịt trẻ em, ăn xác chết… 

Như vậy mới thấy ma chạ trong quan niệm của người Mạ không như ó ma lai trong tâm trí của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng, Ninh Thuận… là bóng ma bay lượn chuyên rút ruột người. Ma chạ như lời kể của những người già là người bình thường, sống được trong thế giới người, lẫn vào người rất khó nhận biết. Cũng theo tâm tình của ông K'Yếu, vì sợ chạ hóa thành người ma mà ngày trước, con trai con gái khi đến tuổi lấy chồng lấy vợ không dám lấy người ở làng khác, họ khác. Điều này đồng nghĩa với việc trai gái Mạ hay S'tiêng chỉ lấy người có mối liên hệ họ hàng, dòng tộc. Chính hiện tượng hôn nhân đồng huyết ấy đã khiến nhiều đứa trẻ chào đời èo uột, chết non. Bóng ma ảo đã gây nên thảm họa thật! 

Cứ như thế, trong một thời gian dài, chính niềm tin và sự khiếp hãi về chạ, về chao-chạ ấy đã chi phối thái độ, cách ứng xử tàn bạo của người bản địa ở Tà Lài khi nghi ngờ người thân mình bị chạ hãm hại hay nghi ai đó là chao-chạ. Các già làng kể rằng khi bị chao chạ làm cho đau bệnh, người bệnh (dù còn sống hay đã chết) và người thân của anh ta đều phải nhờ thầy cúng cúng ma rất tốn kém. Có gia đình vì cúng chạ mà cùng kiệt… Sau giai đoạn cúng ma, nếu vẫn chưa hết bệnh, nếu bệnh vẫn ngày càng nặng hơn và nếu như gia đình, dòng họ có thêm người bệnh thì người ta chỉ còn cách tìm diệt ma để trừ hậu họa. Cũng từ đây tội ác man rợ được… bắt đầu! 

"Nếu một người bị nghi là chạ, anh ta sẽ bị dân làng giết chết, giết cả dòng họ anh ta bằng cách đào hố chôn sống, chặt đầu, nói chung là diệt tận gốc. Nghe ông nội mình kể ở dưới Định Quán (huyện Định Quán, Đồng Nai) có người nọ bị làng kết tội là chao-chạ mà cả gia đình anh ta bị chặt đầu, chôn sống. Hồi năm 1978-1979, ở bên Bù Cháp 2 có ông K'lắc là "đại tá ma lai". Ông này lúc nào cũng đeo khẩu súng ma bên người dùng để bắn linh hồn người ta. Sau đó ông này và gia đình nghe đâu bị giết để trừ hậu họa" - ông K'yếu, thì thào kể chuyện và bật mí: "Cũng có làng Mạ hay làng S'tiêng nói rằng chạ hay chao-chạ là những người lạc rừng, những người bị Pháp bắt phu bỏ trốn do đói quá đã ăn ngải độc rồi thành ma. Ngải ma hay giục người ta ăn thịt người. Ngày trước có ông Út Soai dùng ngải ma khiến được cọp, bắt nó đi săn người về cho mình ăn thịt". 

Chuyện kể của K'Yếu nghe qua thật rùng mình kinh hãi, tưởng như chuyện hoang đường nhưng trong báo cáo tham luận tại Hội thảo văn hóa dân gian trong quá trình phát triển miền Đông Nam Bộ, TS Lê Phong (Trường đại học Đà Lạt) cũng nhắc đến cái cách mà người ta trừng phạt, tiêu diệt người bị nghi là ma lai. Chuyện được ghi lại từ lời kể của ông H.M.D., Chủ tịch Mặt trận huyện ĐT là người Churu ở rể xứ Mạ rằng chính ông D. đã tận mắt chứng kiến một người giết người bị nghi là ma lai bằng cách chặt đầu". Chủ tịch xã N.V.S. kể một người tên K'G đã từng giết ma lai trong rừng và báo là giết Fulro. Một nhóm khác đã nhét một bà già vào bao tải thả trôi sông Đạ Đờng vì nghi bà cụ là… chao-chạ... 


Cầu treo Tà Lài dẫn vào buôn làng Mạ và S'tiêng ở bên kia sông Đồng Nai. 


Quay trở lại câu chuyện ma chạ ở Tà Lài. Chúng tôi được ông K'Yếu và những người già khác bật mí bên cạnh hình thức chặt đầu, chôn sống, dân làng còn diệt ma bằng nhiều cách như cúng giải ma cho người có ma, nhờ thần giúp tiêu diệt ma, đổi chỗ nằm, dùng chó săn ma hay lập mưu cho ma uống rượu độc, ăn cơm bỏ thuốc độc trong tiệc cưới, tiệc kết nghĩa… 

Điều đáng ghê sợ hơn cả là gắn liền với nỗi khiếp sợ ma chạ là nỗi ám ảnh của ai đó bỗng dưng bị kết tội… ma. Điều này đồng nghĩa với việc bất kỳ ai cũng có thể bị quy kết là chao-chạ và cũng không loại trừ khi thù ghét nhau, người này vu cho người kia là người ma. Cụ bà Thị Lệch kể: Hai người cãi nhau, hôm sau 1 trong 2 người ấy bỗng dưng đau bệnh, hay súc vật bệnh chết, thế là người có xích mích với người gặp nạn bị gia đình người gặp nạn kết tội là "chạ" và rắp tâm trả thù. Sợ đòn thù ấy, gia đình người bị kết tội phải cầu cứu thầy cúng nhờ giải oan. 

Được thể thầy cúng sẽ bày vẽ đủ màn cúng Yàng (thần linh) tốn kém. Nếu gia đình bị nghi ngờ không làm theo yêu cầu, chỉ đạo của thầy cúng thì sẽ bị ông bà thầy phật lòng, kết là ma và sẽ bị làng xử tội. Và khi đã bị phán quyết là chạ, người bị nghi ngờ cùng người thân khó thoát khỏi cái chết hãi hùng, bi thảm. Cũng vì sợ chạ hại, sợ bị kết tội là chao-chạ nên mọi người sống không dám để xích mích lẫn nhau, thường chỉ quần tụ dưới hình thức dòng họ, lấy người cùng họ để tránh chuyện hại nhau. 

Chuyện về cơn ác mộng ó ma lai trong đời sống của người Mạ và S'tiêng ở Tà Lài là thế. Nghĩa là vì xích mích, bất đồng, ganh ghét hay đơn thuần nghi ngờ theo kiểu suy diễn "tôi với anh không ưa nhau, tôi hay vợ con tôi đau bệnh là do anh dùng ngải ma hại tôi nên anh là chao-chạ" mà người ta vô tư kết tội người khác. Nhưng theo tâm sự của ông K'Yếu, bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết thì sau này, phần đông đồng bào Mạ và S'tiêng cũng hiểu được rằng chạ hay chao-chạ là bóng ma không có thật, rằng nó chỉ là sản phẩm của những thầy cúng tà tâm, muốn khẳng định quyền lực, khống chế tinh thần người khác bằng cách gieo rắc sự sợ hãi. 

"Ngày trước cùng với già làng, thầy cúng có uy nhất làng. Nó nói ai là ma thì người đó là ma. Nó ghét ai thì nó tìm cách hại người ấy. Biết người mình không thích có xích mích với người khác, nó sẽ tìm cách bỏ thuốc độc vào thức ăn, vào nguồn nước uống của gia đình người đó. Bỗng dưng phát bệnh, tất nhiên người kia sẽ nghi ngờ kẻ có gây hấn với mình "làm thuốc", dùng ngải ma hại mình nên báo sự việc với thầy cúng. Chỉ chờ đến đây, thầy cúng sẽ hành hạ người nó ghét. Nếu người đó không biết điều, không nghe lời sai bảo của nó, không cúng heo, mổ trâu thì nó sẽ nói người đó là ma và sẽ mượn dân làng giết chết họ, giết cả vợ con họ. Sau khi giết người ta xong, thầy cúng cho người bị chạ "hại" uống thuốc giải của nó, người đó hết bệnh ngay. Càng như thế người ta càng tin tưởng thầy cúng lắm, sợ thầy cúng lắm!". 

Chạ hay chao-chạ nay chỉ còn là bóng hình của quá khứ. Cộng đồng người Mạ và S'tiêng ở Tà Lài giờ đây khi đau bệnh đã biết đến trạm xá để các bác sĩ chữa trị chứ không còn hoảng sợ, phó thác sinh mạng mình vào tay thầy cúng hay phải tìm cho ra bằng được con ma núp bóng người hãm hại mình. Ông K'Yếu nói rằng hai, ba năm trước, làng vẫn có người tin có ma chạ nhưng đó chỉ là một vài người già, là những người thiếu hiểu biết. 

"Bây giờ, muốn nói ai là chạ phải có bằng chứng, bằng không làng sẽ phạt nặng. Để tránh trường hợp đứa trai ăn nằm với con gái người ta nhưng không chịu cưới vì nghi đứa gái đó là chạ, nếu đứa trai không đưa ra được chứng cứ, nó phải cưới đứa gái, rồi phải nộp phạt cho nhà gái, nộp phạt cho làng ít nhất 1 con trâu vì cái tội đổ bậy đó" - K'Yếu, quả quyết!

Thành Dũng

Gốm Biên Hòa

đăng 18:23, 26 thg 7, 2013 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 01:45, 6 thg 8, 2014 ]

Ít ai biết rằng, gốm Biên Hòa (tỉnh Đồng Nai) đã từng vang danh trên làng gốm thế giới vào những năm cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20. Và cho đến nay, các loại gốm Biên Hòa thời đó vẫn được xem là thứ của hiếm đối với những người chơi gốm cổ.


Biên Hòa được xem là nơi có trường dạy nghề gốm đầu tiên của Đông Dương, đó là Trường dạy nghề Biên Hòa (École Professionnelle de Bien Hoa) được thành lập vào năm 1903. Đến khoảng năm 1913, Trường đổi tên thành Trường Mỹ nghệ Bản xứ Biên Hòa (École d’Art indigène de Bien Hoa). Năm 1923, khi vợ chồng ông bà Robert Balick (Hiệu trưởng) và Mariette Balick (Trưởng Ban gốm) lãnh đạo trường có thể được coi là mốc lịch sử làm thay đổi về chất của gốm Biên Hòa. Bà Balick đã vạch hướng đi riêng cho Ban gốm. Đó là tập trung vào các dòng sản phẩm gốm trang trí nhiều màu sắc, hoa văn chạm khắc đặc sắc, màu men lạ. Đa số những men này được chế tạo từ nguyên liệu tự nhiên như tro rơm, tro lò, thủy tinh (mảnh), cát Đà Nẵng… Những loại men được bà Balick cùng các cộng sự người Việt tạo ra thời bấy giờ là men ta (men làm từ tro), men màu xanh đồng, men đá đổ (men làm từ đá ong Biên Hòa)… 


Gốm Biên Hòa được đúc bằng khuôn.


Gốm sau khi đúc xong được đem phơi nắng cho khô.


Công đoạn chấm men trực tiếp lên sản phẩm gốm thô.


Phụ nữ làng gốm.


Người thợ gốm đang nắn chỉnh một chiếc lu lớn.


Thợ nung là người dày dạn kinh nghiệm, họ xác định được nhiệt độ bằng cách quan sát ngọn lửa để từ đó điều tiết nhiệt độ một cách thích hợp trong lò nung.


Kiểm tra sản phẩm sau khi nung.


Phun lớp phủ bóng.


Gốm được tập kết ra bãi.


Một lò gốm cổ đốt bằng củi hơn 100 tuổi ở làng gốm Biên Hòa.


Lò nung cải tiến đốt bằng gas. 


Gốm mỹ nghệ Biên Hoà là một thương hiệu gốm lớn nổi danh châu Âu, châu Á từ hồi đầu thế kỷ 20. Năm 1925, các sản phẩm gốm của Trường Mỹ nghệ Bản xứ Biên Hòa tham dự cuộc triển lãm quốc tế tổ chức tại Paris đã gây tiếng vang lớn. Tất cả hàng gốm Biên Hòa đã bán sạch và còn nhận được nhiều đơn đặt hàng. Chính phủ Pháp đã tặng bằng khen danh dự tối ưu và Ban tổ chức triển lãm tặng huy chương vàng. Sau đó, ở cuộc triển lãm quốc tế tại Paris năm 1933, sản phẩm gốm Biên Hòa đã thực sự chiếm được vị trí của mình ở Pháp và thị trường gốm quốc tế. Sản phẩm của trường đã liên tục tham gia nhiều cuộc triển lãm lớn ở trong và ngoài nước như: Nagoya (Nhật Bản - 1937), Hà Nội (1938), Sài Gòn (1942), Bangkok (Thái Lan - 1953 và 1955), PhnomPenh (Campuchia - 1957). Từ đây bắt đầu cho một thời kỳ hưng thịnh và tiếng tăm của gốm Biên Hòa đến cuối thế kỷ 20.

Hiện nay, nghề làm gốm ở Biên Hòa tập trung tại các phường Bửu Long, Tân Vạn, xã Tân Hạnh và Hóa An của thành phố Biên Hòa với hơn 40 cơ sở lớn nhỏ. Các cơ sở này mang tính gia đình theo kiểu cha truyền con nối. Các sản phẩm hầu hết đều được xuất khẩu ra nước ngoài. 

Tại sao gốm Biên Hòa lại được thị trường quốc tế ưa chuộng như vậy? Ông Vòng Khiềng, Tổng Thư ký Hiệp hội Gốm mỹ nghệ Đồng Nai cho biết: "Gốm Biên Hòa đẹp và độc đáo từ chạm khắc đến nước men vì nó là sản phẩm giao thoa giữa ba dòng gốm của người Việt, người Hoa và người Chăm”. Có 2 dòng gốm chủ yếu hiện đang được các lò gốm sản xuất là gốm mỹ nghệ hoa văn đất trắng với kỹ thuật khắc chìm, vẽ hoa văn trực tiếp lên gốm và gốm đất đen được đốt ở nhiệt độ cao.

Chúng tôi đến lò gốm Phát Thành của nghệ nhân Nguyễn Hữu Tân ở phường Tân Vạn. Mỗi ngày lò gốm này cho ra lò khoảng 300 sản phẩm. Hơn 30 thợ gốm tham gia làm nhiều công đoạn. Mỗi người một việc để tạo ra những sản phẩm đẹp mắt. Dẫn chúng tôi đi tham quan cơ ngơi lò gốm rộng gần 5000 mét vuông chất đầy gốm với đủ loại mẫu mã khác nhau, nghệ nhân Nguyễn Hữu Tân cho biết: “Đây chỉ là một trong những lò gốm của tôi thôi. Ngày xưa, có thời điểm chúng tôi làm không kịp hàng giao cho thương lái. Gần 50 năm trong nghề gốm, tôi luôn tâm huyết vực dậy nghề truyền thống của cha ông để lại cho mình”.

Để có được nét đặc trưng của gốm Biên Hòa phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Kỹ thuật pha chế men là khâu rất quan trọng vì chính khâu này sẽ quyết định màu sắc trên sản phẩm. Chấm men cũng là khâu quan trọng, phải làm quen và đều tay, nếu không, khi nung sản phẩm sẽ bị méo mó, biến dạng. Chất liệu men cũng quan trọng chẳng kém. Gặp phải men xấu sẽ bị ảnh hưởng đến tính mỹ thuật của sản phẩm. Vì vậy, các cơ sở sản xuất gốm mỹ nghệ hơn thua nhau không những về mẫu mã mà còn về nước men. Chính vì vậy mà mỗi lò gốm đều giữ bí mật của riêng mình về kỹ thuật pha chế men gốm. Ngoài ra, khâu nung cũng là khâu quan trọng vì nó quyết định sự thành bại của cơ sở. Thợ nung phải là người dạn dày kinh nghiệm, họ xác định được nhiệt độ bằng mắt rất chính xác và từ đó điều tiết nhiệt độ một cách thích hợp trong lò nung. 


Những pho tượng đất sét mới được đổ khuôn, chưa qua khâu xử lý men và nung.


Những chiếc chậu gốm đất đen được đốt ở nhiệt độ cao nên bền vững với thời gian.


Một sản phẩm gốm mang phong cách mới của làng gốm Biên Hòa. 


Gốm Biên Hòa vừa có giá trị nghệ thuật lại vừa có giá trị sử dụng cao. Những sản phẩm gốm mỹ thuật trang trí độc đáo, phong phú và đa dạng ở đủ mọi chủng loại như các loại đôn voi, đôn tròn, các loại chậu hoa, tượng, thú... với nét trang trí canh tân hiện đại, tinh tế, sử dụng men nhẹ lửa, màu men thanh thoát. Ngoài ra, Biên Hòa còn nổi tiếng bởi các sản phẩm gốm đất nung (gốm đỏ) không phủ men mang vẻ đẹp tự nhiên, rất được thị trường ưa chuộng. Hiện nay, các nghệ nhân và thợ gốm Biên Hòa đang phục hồi lại gốm men xanh đồng trổ bông nổi tiếng của gốm Biên Hòa xưa. 

Hiện nay, doanh thu xuất khẩu của nghề gốm Biên Hòa đạt khoảng 1 triệu USD/năm. Đây là con số khá khiêm tốn so với khoảng 10 năm trước đây. Vì vậy, để vực dậy gốm Biên Hòa cần sự chung tay của chính quyền với những chính sách hợp lý cùng những người tâm huyết với nghề gốm. 

Nằm dọc theo lưu vực sông Đồng Nai thơ mộng, làng gốm Biên Hòa hơn 300 tuổi nay vẫn tồn tại và tiếp tục đóng góp cho đời dù không còn được thịnh như xưa.


Bài: Nguyễn Oanh - Ảnh: Nguyễn Luân

Ấn tượng Tà Lài

đăng 02:03, 15 thg 12, 2012 bởi Nhân Phạm Hoài

Ngôi nhà sàn truyền thống của người Mạ ở Tà Lài

Trong kháng chiến chống Pháp - Mỹ, Tà Lài là chốn rừng thiêng nước độc, là “tọa độ lửa” ghi dấu nhiều chiến công oai hùng của hai tộc người bản địa là Mạ và S’tiêng. Khép lại quá khứ bi hùng một thuở, Tà Lài giờ đây là vùng đất tràn đầy sức sống, thi vị với cảnh sắc thiên nhiên hoang sơ cùng những dấu tích xưa vẫn còn hiện hữu ở các buôn làng.

Tà Lài là xã vùng đệm của Vườn quốc gia Cát Tiên - “vương quốc” của bò tót, voi rừng, tê giác... và nhiều loài thú quý hiếm khác như voọc chân đen, culi (còn gọi cù lần), tê tê (xuyên sơn giáp)... Chị Nguyễn Thị Ánh Tuyết - Chủ nhiệm Nhà văn hóa Tà Lài - cho biết, du khách trong và ngoài nước khi đến tham quan Vườn quốc gia Cát Tiên phần lớn đều ghé thăm các bản làng người Mạ và S’tiêng ở Tà Lài, chủ nhân lâu đời của núi rừng nơi đây. Đồng bào Mạ và S’tiêng gồm 270 hộ sống ở ấp 4 bên kia sông Đồng Nai. Trước năm 2005, khu vực sinh sống của đồng bào gần như tách biệt với thế giới bên ngoài. Sau này nhờ tỉnh quan tâm đầu tư gần 4 tỷ đồng xây dựng cầu treo nên ấp 4 không còn là ốc đảo giữa rừng.

Sáng mờ sương, cầu treo Tà Lài dài 164m vắt ngang sông Đồng Nai chìm trong gió lạnh. Cầu treo lắc lư mang theo dáng hình tràn đầy sức sống của những cô gái người Mạ, người S’tiêng mặc thổ cẩm, lưng đeo gùi, tay cầm bình nước hồ lô là những quả bầu khô. Âm thanh róc rách của nước chảy xô vào đá vang mãi không ngừng. Đó đây tiếng vượn hú từ ngàn xanh vọng lại... Những hình ảnh trên đan xen, điểm xuyết khiến bình minh ở Tà Lài huyền ảo đến lạ.

Phụ nữ Mạ nổi tiếng khéo tay với việc đan gùi, dệt thổ cẩm

Bên này cầu treo, trong những ngôi nhà sàn truyền thống với mái tranh, sàn vách lồ ô, bếp lửa rừng rực cháy, có đến 4 - 5 thế hệ cùng quây quần sưởi ấm. Đàn ông ngồi uống trà, các bà các chị cặm cụi bên khung dệt, đám trẻ con nô đùa... Thời gian như chậm lại. Lúc này khói từ những nóc nhà cổ quyện vào sương, tan trong sương, gà gáy sáng, mặt trời dần lên cao, trâu lững thững ra đồng, một ngày mới bình lặng, êm đềm nữa lại đến với đất rừng Tà Lài.

Rảo chân vào các xóm làng Mạ và S’tiêng, thật bất ngờ trước những dấu xưa của một thuở núi rừng hồng hoang vẫn còn in đậm. Đó là những già làng để ngực trần, ngậm tẩu thuốc được làm từ ngà voi lên nước bóng loáng đang vót lồ ô đan gùi. Cùng với đó là hình ảnh các bà các mẹ với đôi dái tai lòng thòng, vành tai nong rộng đang cần mẫn lau những chiếc hoa tai bằng ngà voi to như cuộn chỉ đã lưu giữ được hơn 200 năm. Họ là hiện thân của tục căng tai một thuở. Ngày trước đồng bào nơi này tin rằng đàn ông và phụ nữ nếu có dái tai rộng là đẹp và sang...

Đêm ở Tà Lài không đèn hoa rực rỡ, không tràn ngập người xe mà sâu lắng, chan chứa tình đất tình người. Lúc này ở phía nhà văn hóa, lửa bập bùng cháy xua tan cái giá lạnh của sương đêm. Cơm lam được bày ra, con cá bắt ở suối nướng lửa hồng vàng hươm gọi mời... Lúc này người làng gồm nam phụ lão ấu cùng nắm tay các vị khách, ngất ngây trong men rượu cần thơm lừng với những điệu múa cổ truyền trong tiếng chiêng giòn giã thúc giục.

Nguyễn Thành Sỹ
CA TPHCM online 18/11/2011

Bài hát viết về Đồng Nai

đăng 04:25, 1 thg 9, 2012 bởi Nhân Phạm Hoài   [ đã cập nhật 05:07, 1 thg 9, 2012 ]

Có khá nhiều bài hát viết về Đồng Nai, trong đó có những bài rất quen thuộc với người nghe cả nước, như: Trị An âm vang mùa xuân, Đêm thành phố đầy sao (mà một thời gian dài bị ngộ nhận là viết về TP Hồ Chí Minh, xin xem
ở đây), v.v...

Năm 2008, nhân dịp kỷ niệm 310 năm Biên Hòa - Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai có tổ chức bình chọn 10 ca khúc hay nhất viết về Đồng Nai. Kết quả bình chọn đó như sau (xếp thứ tự ABC theo tựa đề):

1. Biên Hòa bờ bến yêu thương - TG : Thi Đường
2. Cồng vang đêm Chiến khu Đ - TG : Khánh Hòa
3. Đồng Nai mùa sầu riêng - TG : Trần Viết Bính
4. Đồng Nai ngày mới - TG : A Lý Phượng Tuyền
5. Dòng sông Đồng Nai - TG : Trương Quang Lục
6. Ngọt lòng cây trái Đồng Nai - TG : Vũ Đan Huyền
7. Tiếng hát Đồng Nai - TG : Hải Triều
8. Trị An âm vang mùa xuân - TG : Tôn Thất Lập
9. Về Đồng Nai - TG : Xuân Hồng
10. Về Đồng Nai quê em - TG : Thái Hải

Một vài bài trong số này khá quen thuộc với người nghe cả nước (và rất hay), như Dòng sông Đồng Nai, Về Đồng Nai, Trị An âm vang mùa xuân... Trong số những ca khúc trên, có cả... ca cổ, và có một số bài thú thật là tôi... chưa nghe bao giờ. Còn bình luận là bình chọn có chính xác hay không thì tôi xin nhường cho mọi người, tôi không dám bình luận.

Nếu nói là số bài hát viết về Đồng Nai không đủ nhiều để chọn ra 10 bài hay nhất thì e rằng không đúng lắm, bởi vì trong số những ca khúc lọt vào vòng trong có bài Tình đất đỏ miền Đông của Trần Long Ẩn (bài này đâu có dở!!!), hoặc không hề lọt vào vòng nào có bài Đêm thành phố đầy sao, cũng của TLA.

Thôi đã có kết quả bình chọn và công nhận thì cứ biết vậy, còn chấp nhận hay không là quyền của mỗi người. Giờ xin mời các bạn thưởng thức 2 trong số các ca khúc ở trên nhé!

Về Đồng Nai. Tác giả: Xuân Hồng. Trình bày Cẩm Tú

Trị An âm vang mùa xuân. Tác giả: Tôn Thất Lập. Trình bày Khánh Ngọc

Phạm Hoài Nhân

Về thăm làng bưởi Tân Triều

đăng 06:46, 25 thg 8, 2012 bởi Nhân Phạm Hoài   [ cập nhật 04:18, 25 thg 10, 2012 bởi Pham Hoai Nhan ]

Vườn bưi Tân Triều

Làng bưởi Tân Triều (xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai) cách TPHCM chỉ chừng 40km, với những vườn bưởi sum sê trái, không khí trong lành, làng quê yên tĩnh cùng hương vị của nhiều món ăn dân dã, sẽ là điểm đến lý tưởng cho cư dân thành phố trong một chuyến đi đổi gió cuối tuần. 

Từ TPHCM, xuôi theo xa lộ Hà Nội, qua quốc lộ 52 về thành phố Biên Hòa rồi theo đường sông hoặc quốc lộ 24 chừng 3 - 4 cây số nữa là đến làng bưởi Tân Triều. 

Ngôi làng này nằm trọn vẹn trong cù lao Tân Triều, mảnh đất được bồi đắp bởi phù sa sông Đồng Nai. Theo lời kể của người dân, vùng đất màu mỡ nhờ phù sa nhưng hay ngập nước nên không thể trồng hoa màu, lúa như nhiều vùng khác. Thử nghiệm, trăn trở mãi, người Tân Triều phát hiện ra chỉ có cây bưởi là sống tốt, sống khỏe trên đất. Một nhà trồng bưởi thành công, cả làng học theo, nhà nhà trồng bưởi. 

Giống bưởi được chọn là bưởi đường lá cam, vỏ xanh mịn, ruột có vị ngọt đậm pha chút chua thanh, đặc biệt không hậu đắng. Sau này, dù người dân cù lao Tân Triều đã trồng thêm nhiều giống bưởi mới, mang từ vùng khác về như bưởi da xanh (Bến Tre), bưởi Năm roi (Vĩnh Long) hay bưởi Long, bưởi Xiêm... nhưng khách phương xa về làng bưởi vẫn chỉ thích ăn nhất bưởi đường lá cam. 

Mấy năm trở lại đây, người làng bưởi đã biến những vườn bưởi nhà mình thành khu du lịch sinh thái, phục vụ những người thành phố ngày ngày mệt mỏi với khói bụi giữa những khối bê tông nóng bỏng. Một trong những khu đầu tiên là làng bưởi Năm Huệ, mang tên của ông chủ vườn. Đến đây, điều thú vị nhất là du khách sẽ được thưởng thức những món ăn, thức uống từ bưởi như gỏi bưởi và rượu bưởi. 

Gỏi bưởi đường da xanh trộn với khô mực nướng.

Ông Huỳnh Đức Huệ, thường gọi là ông Năm Huệ, chủ cơ sở Làng bưởi Năm Huệ cho biết, gỏi bưởi ở Tân Triều có vị riêng, ngon đặc biệt nhờ được làm bằng công thức và nguyên liệu truyền thống. Đó phải là các tép bưởi của giống bưởi đường da xanh vừa chín tới trong vườn, đem trộn với tôm bắt dưới sông còn tươi nguyên, cùng ớt trái, hành tây, ngò, đậu phộng. Lấy bánh tráng hay bánh phồng xúc gỏi bưởi, nhấp thêm một miếng rượu bưởi thơm nồng, nhẩn nha nhấm nháp giữa vườn lồng lộng gió sông thì thú vị vô cùng. 

Nói đến rượu bưởi, người làng bưởi lại kể chuyện mình kỳ công ra sao để tạo nên thứ nước uống đặc biệt này. Theo ông Năm Huệ, để biến bưởi thành rượu như hôm nay thì ông phải mất mấy năm ròng rã hết ủ bưởi, lên men lại đến mời mọi người uống thử để lấy ý kiến tham khảo. Khen chê mãi, cuối cùng bưởi cũng thành rượu; mà lại ngon không ngờ, vừa ngọt, vừa êm, uống say lúc nào không hay. 

Chưa hết, ông Năm Huệ còn muốn rượu bưởi thì phải đựng trong… trái bưởi. Vì vậy, ông chủ của mảnh vườn vài hecta trồng bưởi này lại đi nhờ thợ sành, sứ chế tạo bình đựng mang hình trái bưởi vỏ xanh, núm hơi vẹo. Ông ta cười hỉ hả giải thích: “Núm có vẹo mới đúng hình trái bưởi nhen, vì bưởi mọc thành chùm nên luôn luôn vẹo đầu”. 

Du khách chọn mua bưởi về làm quà. Ảnh: Đông Nghi

Ngày nay, rượu bưởi đã trở thành đặc sản không chỉ của riêng làng bưởi Tân Triều mà của cả đất Đồng Nai để nhiều người dân nơi đây luôn lấy rượu bưởi làm món quà quê, tặng khách phương xa vào những dịp đặc biệt. 

Về làng bưởi, bạn sẽ có ngày cuối tuần sống giữa thiên nhiên trong lành, vui những thú vui của vùng quê thôn dã như ra vườn hái bưởi, chèo thuyền, câu cá, nghe ca nhạc tài tử... Đi giữa vườn bưởi trĩu cành, bạn có thể tự hái những trái bưởi theo ý thích để dành làm quà cho bạn bè. 

Người làng bưởi vẫn giữ truyền thống, tính chục mười hai quả chứ không phải chục mười quả như thời hiện đại. Mua bưởi, chọn bưởi cũng là cách bạn chia sẻ phần nào với niềm hạnh phúc của người nông dân một nắng hai sương khi gặt hái thành quả lao động của mình sau bao tháng ngày chờ đợi. Còn với trò câu cá, biết đâu bạn sẽ kiếm được một mẻ cá lớn rồi nhờ nhà hàng “xử” ngay tại chỗ hoặc mang về nhà, cải thiện bữa ăn chiều với chút hương vị đồng quê...

Đông Nghi

Hành trình về núi rừng Lý Lịch

đăng 03:27, 24 thg 8, 2012 bởi Nhân Phạm Hoài   [ cập nhật 04:22, 25 thg 10, 2012 bởi Pham Hoai Nhan ]

Không như những gì tôi vẫn tưởng tượng về một khu rừng đại ngàn đất đỏ trơn trượt mùa mưa, cửa rừng Mã Đà (huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai) mở ra như một bức tranh thủy mặc vào buổi sớm mai sương chưa kịp tan trên từng cành lá. 

Tỉnh lộ 716 trải nhựa xa tít như một dải lụa vắt giữa rừng xanh thẳm. Hơn 30 km từ cửa rừng vào đến làng Lý Lịch của người Châu Ro là chập chùng dốc nối tiếp nhau. Con đường hun hút khiến người ta thích thú bởi cảm giác mọi thứ đã bị che khuất ngay trước mắt. Nếu có ý định khám phá khu di tích bảo tồn lịch sử huyện Vĩnh Cửu này bằng xe máy, nhất thiết bạn phải chọn một chú “ngựa sắt” thật chiến mới đủ sức chinh phục được những con dốc cao ngút nhưng êm ái như lụa này. 

Hai bên đường vàng rực hoa cây giá tị, điểm xuyết màu tím của hoa bằng lăng và chen chúc màu xanh của sao, dầu, gõ mật, cẩm lai, gõ đỏ... Hàng trăm lối mòn nằm hai bên đường, bất kể rẽ vào đường nào bạn cũng có thể đi sâu vào rừng và như lạc vào ngay một khu rừng nguyên sinh trong cổ tích. 

Những gốc cây vài người ôm xòe tán che mát khắp con đường, chim hót líu lo, dây giăng khắp lối. Thỉnh thoảng lại bắt gặp nụ cười tươi roi rói của cư dân sống rải rác sâu trong rừng hoặc những chú kiểm lâm áo xanh đi kiểm tra. Họ sẵn sàng chỉ cho bạn tên gọi những loại cây, nơi nào có nhiều lan rừng, mai rừng, những con suối mát trong hay vài loại trái rừng có thể tìm thấy vào mùa này… 

Tỉnh lộ 716 - con đường rừng vào xã Phú Lý

Phải vất vả từ chối “cám dỗ” của rừng tôi mới đến được xã Phú Lý. Ngay gần chợ Lý Lịch là một đoạn đường xôm tụ với những ngôi nhà quét sơn vàng, lợp tôn đỏ cùng kích cỡ nằm cận kề nhau. Người Châu Ro bây giờ không đóng khố ở nhà sàn nhưng vẫn giữ nét hồn hậu, hiền lành không thể nhầm lẫn. Tôi dừng xe trước một ngôi nhà. Mấy chị phụ nữ Châu Ro cười giòn tan như đã quen biết từ lâu lắm và thi nhau mời ở lại khi nghĩ tôi sẽ qua đêm nơi đây. 

Người Châu Ro ở đây thường không theo tôn giáo đa thần truyền thống mà chỉ thờ Bác Hồ, ông bà tổ tiên như người Kinh và vẫn luôn bảo nhau giữ gìn truyền thống dân tộc cho con cháu mai sau. Tuy nhiên, nếu để ý kỹ sẽ thấy ngay trước cửa mỗi ngôi nhà thường có một tổ ong vò vẽ để xua đuổi tà ma và chữa bệnh. 

Một trong những chứng tích chiến tranh mà già làng Năm Nổi lưu giữ trong “bảo tàng” độc nhất vô nhị của mình

Người Châu Ro ở Phú Lý tự hào khi nhắc đến già làng Năm Nổi. “Trăm nghe không bằng mắt thấy”, già làng Năm Nổi 81 tuổi, có bộ râu được ví như suối rừng nơi đại ngàn khiến người ta không khỏi ngưỡng mộ khi được tiếp xúc trực tiếp. Ông kể người Châu Ro vốn theo chế độ mẫu hệ nên ông đã nhìn bông bí nở từ ngày ở rể để biết số tuổi, đến bây giờ những người con gái của ông lấy chồng cũng được cho một mảnh đất quanh đây làm ăn sinh sống. 

Dù luôn tự nhận mình già, yếu nhưng giọng nói ông vẫn nhịp nhàng lên xuống theo từng cao trào pha lẫn sự hài hước trong từng câu chuyện, và thoăn thoắt dắt tôi đi khắp nơi để tận mắt nhìn thấy “gia tài” của mình, mà đúng hơn đó là tài sản của cả dân tộc Châu Ro. Những câu mở đầu và kết thúc câu chuyện của ông luôn có cùng một nội dung: “Người Châu Ro có được ngày hôm nay là nhờ cả vào Nhà nước…”. 

Sự tin yêu ấy còn được thể hiện qua từng ngõ ngách, vật dụng, hình ảnh trong ngôi nhà của ông. Giữa ngôi nhà khách là bàn thờ Bác Hồ với lá cờ đỏ thắm và chân dung, bức tượng của Bác, xung quanh là những tấm hình lưu niệm chụp với cán bộ lãnh đạo tỉnh, trung ương, đồng đội xưa và vô số bằng khen... 

Già làng Năm Nổi trong “bào tàng” của mình

Một trong những ngôi nhà của người Châu Ro xã Phú Lý với cùng kích cỡ: dài 10m, rộng 5m

Và không chỉ được biết đến như một người tiên phong trong phong trào đấu tranh cách mạng, góp phần bảo vệ căn cứ Trung ương Cục miền Nam, nuôi giấu chiến sĩ, cán bộ, mà già làng Năm Nổi còn là người giữ gìn truyền thống văn hóa cho làng, cho dân tộc Châu Ro. 

“Bảo tàng dân tộc của làng” là một ngôi nhà dài - nhà truyền thống của người Châu Ro được xây dựng gần 20 năm nay. Tại đây lưu giữ hơn 100 hiện vật là chứng tích chiến tranh và những sản phẩm văn hóa phi vật thể của đồng bào Châu Ro, như các loại nhạc cụ truyền thống, dụng cụ lao động, săn bắn, sinh hoạt: cồng, chiêng, kèn lá, kèn mô lúa, đàn concal… 

“Già chỉ sợ một vài năm nữa khi già qua đời núi rừng sẽ đổi thay. Chứ già còn sống ngày nào nhất định sẽ làm gương cho con cháu một lòng theo Đảng, theo Nhà nước”, ông tâm sự. Tôi tin dân làng Châu Ro sẽ không bao giờ thay đổi và ông sẽ mãi là niềm tự hào không chỉ của dân tộc Châu Ro một đời theo cách mạng. 

... Và tôi đã hẹn một ngày trở lại để được tắm trên dòng sông Sa Mách huyền thoại, dự những lễ hội của người Châu Ro và quan trọng hơn hết là lại cùng già làng Năm Nổi ôn lại lịch sử hào hùng mà ông là một trong những nhân chứng tiêu biểu nhất. 

NGUYỄN THỊ NHƯ QUỲNH

1-10 of 21

Comments