đăng 02:03 15-12-2012 bởi Nhan Pham
Ngôi nhà sàn truyền thống của người Mạ ở Tà Lài
Trong kháng chiến chống Pháp - Mỹ, Tà Lài là chốn rừng thiêng nước độc, là “tọa độ lửa” ghi dấu nhiều chiến công oai hùng của hai tộc người bản địa là Mạ và S’tiêng. Khép lại quá khứ bi hùng một thuở, Tà Lài giờ đây là vùng đất tràn đầy sức sống, thi vị với cảnh sắc thiên nhiên hoang sơ cùng những dấu tích xưa vẫn còn hiện hữu ở các buôn làng.
Tà Lài là xã vùng đệm của Vườn quốc gia Cát Tiên - “vương quốc” của bò tót, voi rừng, tê giác... và nhiều loài thú quý hiếm khác như voọc chân đen, culi (còn gọi cù lần), tê tê (xuyên sơn giáp)... Chị Nguyễn Thị Ánh Tuyết - Chủ nhiệm Nhà văn hóa Tà Lài - cho biết, du khách trong và ngoài nước khi đến tham quan Vườn quốc gia Cát Tiên phần lớn đều ghé thăm các bản làng người Mạ và S’tiêng ở Tà Lài, chủ nhân lâu đời của núi rừng nơi đây. Đồng bào Mạ và S’tiêng gồm 270 hộ sống ở ấp 4 bên kia sông Đồng Nai. Trước năm 2005, khu vực sinh sống của đồng bào gần như tách biệt với thế giới bên ngoài. Sau này nhờ tỉnh quan tâm đầu tư gần 4 tỷ đồng xây dựng cầu treo nên ấp 4 không còn là ốc đảo giữa rừng.
Sáng mờ sương, cầu treo Tà Lài dài 164m vắt ngang sông Đồng Nai chìm trong gió lạnh. Cầu treo lắc lư mang theo dáng hình tràn đầy sức sống của những cô gái người Mạ, người S’tiêng mặc thổ cẩm, lưng đeo gùi, tay cầm bình nước hồ lô là những quả bầu khô. Âm thanh róc rách của nước chảy xô vào đá vang mãi không ngừng. Đó đây tiếng vượn hú từ ngàn xanh vọng lại... Những hình ảnh trên đan xen, điểm xuyết khiến bình minh ở Tà Lài huyền ảo đến lạ.
Phụ nữ Mạ nổi tiếng khéo tay với việc đan gùi, dệt thổ cẩm
Bên này cầu treo, trong những ngôi nhà sàn truyền thống với mái tranh, sàn vách lồ ô, bếp lửa rừng rực cháy, có đến 4 - 5 thế hệ cùng quây quần sưởi ấm. Đàn ông ngồi uống trà, các bà các chị cặm cụi bên khung dệt, đám trẻ con nô đùa... Thời gian như chậm lại. Lúc này khói từ những nóc nhà cổ quyện vào sương, tan trong sương, gà gáy sáng, mặt trời dần lên cao, trâu lững thững ra đồng, một ngày mới bình lặng, êm đềm nữa lại đến với đất rừng Tà Lài.
Rảo chân vào các xóm làng Mạ và S’tiêng, thật bất ngờ trước những dấu xưa của một thuở núi rừng hồng hoang vẫn còn in đậm. Đó là những già làng để ngực trần, ngậm tẩu thuốc được làm từ ngà voi lên nước bóng loáng đang vót lồ ô đan gùi. Cùng với đó là hình ảnh các bà các mẹ với đôi dái tai lòng thòng, vành tai nong rộng đang cần mẫn lau những chiếc hoa tai bằng ngà voi to như cuộn chỉ đã lưu giữ được hơn 200 năm. Họ là hiện thân của tục căng tai một thuở. Ngày trước đồng bào nơi này tin rằng đàn ông và phụ nữ nếu có dái tai rộng là đẹp và sang...
Đêm ở Tà Lài không đèn hoa rực rỡ, không tràn ngập người xe mà sâu lắng, chan chứa tình đất tình người. Lúc này ở phía nhà văn hóa, lửa bập bùng cháy xua tan cái giá lạnh của sương đêm. Cơm lam được bày ra, con cá bắt ở suối nướng lửa hồng vàng hươm gọi mời... Lúc này người làng gồm nam phụ lão ấu cùng nắm tay các vị khách, ngất ngây trong men rượu cần thơm lừng với những điệu múa cổ truyền trong tiếng chiêng giòn giã thúc giục.
|
đăng 04:25 01-09-2012 bởi Nhan Pham
[
đã cập nhật 05:07 01-09-2012
]
Có khá nhiều bài hát viết về Đồng Nai, trong đó có những bài rất quen thuộc với người nghe cả nước, như: Trị An âm vang mùa xuân, Đêm thành phố đầy sao (mà một thời gian dài bị ngộ nhận là viết về TP Hồ Chí Minh, xin xem ở đây), v.v...
Năm 2008, nhân dịp kỷ niệm 310 năm Biên Hòa - Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai có tổ chức bình chọn 10 ca khúc hay nhất viết về Đồng Nai. Kết quả bình chọn đó như sau (xếp thứ tự ABC theo tựa đề):
1. Biên Hòa bờ bến yêu thương - TG : Thi Đường
2. Cồng vang đêm Chiến khu Đ - TG : Khánh Hòa
3. Đồng Nai mùa sầu riêng - TG : Trần Viết Bính
4. Đồng Nai ngày mới - TG : A Lý Phượng Tuyền
5. Dòng sông Đồng Nai - TG : Trương Quang Lục
6. Ngọt lòng cây trái Đồng Nai - TG : Vũ Đan Huyền
7. Tiếng hát Đồng Nai - TG : Hải Triều
8. Trị An âm vang mùa xuân - TG : Tôn Thất Lập
9. Về Đồng Nai - TG : Xuân Hồng
10. Về Đồng Nai quê em - TG : Thái Hải
Một vài bài trong số này khá quen thuộc với người nghe cả nước (và rất hay), như Dòng sông Đồng Nai, Về Đồng Nai, Trị An âm vang mùa xuân... Trong số những ca khúc trên, có cả... ca cổ, và có một số bài thú thật là tôi... chưa nghe bao giờ. Còn bình luận là bình chọn có chính xác hay không thì tôi xin nhường cho mọi người, tôi không dám bình luận.
Nếu nói là số bài hát viết về Đồng Nai không đủ nhiều để chọn ra 10 bài hay nhất thì e rằng không đúng lắm, bởi vì trong số những ca khúc lọt vào vòng trong có bài Tình đất đỏ miền Đông của Trần Long Ẩn (bài này đâu có dở!!!), hoặc không hề lọt vào vòng nào có bài Đêm thành phố đầy sao, cũng của TLA.
Thôi đã có kết quả bình chọn và công nhận thì cứ biết vậy, còn chấp nhận hay không là quyền của mỗi người. Giờ xin mời các bạn thưởng thức 2 trong số các ca khúc ở trên nhé!
Về Đồng Nai. Tác giả: Xuân Hồng. Trình bày Cẩm Tú
Trị An âm vang mùa xuân. Tác giả: Tôn Thất Lập. Trình bày Khánh Ngọc
Phạm Hoài Nhân
|
đăng 06:46 25-08-2012 bởi Nhan Pham
[
cập nhật 04:18 25-10-2012 bởi Pham Hoai Nhan
]
Làng bưởi Tân Triều (xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai) cách TPHCM chỉ chừng 40km, với những vườn bưởi sum sê trái, không khí trong lành, làng quê yên tĩnh cùng hương vị của nhiều món ăn dân dã, sẽ là điểm đến lý tưởng cho cư dân thành phố trong một chuyến đi đổi gió cuối tuần.
Từ TPHCM, xuôi theo xa lộ Hà Nội, qua quốc lộ 52 về thành phố Biên Hòa rồi theo đường sông hoặc quốc lộ 24 chừng 3 - 4 cây số nữa là đến làng bưởi Tân Triều.
Ngôi làng này nằm trọn vẹn trong cù lao Tân Triều, mảnh đất được bồi đắp bởi phù sa sông Đồng Nai. Theo lời kể của người dân, vùng đất màu mỡ nhờ phù sa nhưng hay ngập nước nên không thể trồng hoa màu, lúa như nhiều vùng khác. Thử nghiệm, trăn trở mãi, người Tân Triều phát hiện ra chỉ có cây bưởi là sống tốt, sống khỏe trên đất. Một nhà trồng bưởi thành công, cả làng học theo, nhà nhà trồng bưởi.
Giống bưởi được chọn là bưởi đường lá cam, vỏ xanh mịn, ruột có vị ngọt đậm pha chút chua thanh, đặc biệt không hậu đắng. Sau này, dù người dân cù lao Tân Triều đã trồng thêm nhiều giống bưởi mới, mang từ vùng khác về như bưởi da xanh (Bến Tre), bưởi Năm roi (Vĩnh Long) hay bưởi Long, bưởi Xiêm... nhưng khách phương xa về làng bưởi vẫn chỉ thích ăn nhất bưởi đường lá cam.
Mấy năm trở lại đây, người làng bưởi đã biến những vườn bưởi nhà mình thành khu du lịch sinh thái, phục vụ những người thành phố ngày ngày mệt mỏi với khói bụi giữa những khối bê tông nóng bỏng. Một trong những khu đầu tiên là làng bưởi Năm Huệ, mang tên của ông chủ vườn. Đến đây, điều thú vị nhất là du khách sẽ được thưởng thức những món ăn, thức uống từ bưởi như gỏi bưởi và rượu bưởi.
Gỏi bưởi đường da xanh trộn với khô mực nướng. Ông Huỳnh Đức Huệ, thường gọi là ông Năm Huệ, chủ cơ sở Làng bưởi Năm Huệ cho biết, gỏi bưởi ở Tân Triều có vị riêng, ngon đặc biệt nhờ được làm bằng công thức và nguyên liệu truyền thống. Đó phải là các tép bưởi của giống bưởi đường da xanh vừa chín tới trong vườn, đem trộn với tôm bắt dưới sông còn tươi nguyên, cùng ớt trái, hành tây, ngò, đậu phộng. Lấy bánh tráng hay bánh phồng xúc gỏi bưởi, nhấp thêm một miếng rượu bưởi thơm nồng, nhẩn nha nhấm nháp giữa vườn lồng lộng gió sông thì thú vị vô cùng.
Nói đến rượu bưởi, người làng bưởi lại kể chuyện mình kỳ công ra sao để tạo nên thứ nước uống đặc biệt này. Theo ông Năm Huệ, để biến bưởi thành rượu như hôm nay thì ông phải mất mấy năm ròng rã hết ủ bưởi, lên men lại đến mời mọi người uống thử để lấy ý kiến tham khảo. Khen chê mãi, cuối cùng bưởi cũng thành rượu; mà lại ngon không ngờ, vừa ngọt, vừa êm, uống say lúc nào không hay.
Chưa hết, ông Năm Huệ còn muốn rượu bưởi thì phải đựng trong… trái bưởi. Vì vậy, ông chủ của mảnh vườn vài hecta trồng bưởi này lại đi nhờ thợ sành, sứ chế tạo bình đựng mang hình trái bưởi vỏ xanh, núm hơi vẹo. Ông ta cười hỉ hả giải thích: “Núm có vẹo mới đúng hình trái bưởi nhen, vì bưởi mọc thành chùm nên luôn luôn vẹo đầu”.
Du khách chọn mua bưởi về làm quà. Ảnh: Đông Nghi Ngày nay, rượu bưởi đã trở thành đặc sản không chỉ của riêng làng bưởi Tân Triều mà của cả đất Đồng Nai để nhiều người dân nơi đây luôn lấy rượu bưởi làm món quà quê, tặng khách phương xa vào những dịp đặc biệt.
Về làng bưởi, bạn sẽ có ngày cuối tuần sống giữa thiên nhiên trong lành, vui những thú vui của vùng quê thôn dã như ra vườn hái bưởi, chèo thuyền, câu cá, nghe ca nhạc tài tử... Đi giữa vườn bưởi trĩu cành, bạn có thể tự hái những trái bưởi theo ý thích để dành làm quà cho bạn bè.
Người làng bưởi vẫn giữ truyền thống, tính chục mười hai quả chứ không phải chục mười quả như thời hiện đại. Mua bưởi, chọn bưởi cũng là cách bạn chia sẻ phần nào với niềm hạnh phúc của người nông dân một nắng hai sương khi gặt hái thành quả lao động của mình sau bao tháng ngày chờ đợi. Còn với trò câu cá, biết đâu bạn sẽ kiếm được một mẻ cá lớn rồi nhờ nhà hàng “xử” ngay tại chỗ hoặc mang về nhà, cải thiện bữa ăn chiều với chút hương vị đồng quê...
Đông Nghi |
đăng 03:27 24-08-2012 bởi Nhan Pham
[
cập nhật 04:22 25-10-2012 bởi Pham Hoai Nhan
]
Không như những gì tôi vẫn tưởng tượng về một khu rừng đại ngàn đất đỏ trơn trượt mùa mưa, cửa rừng Mã Đà (huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai) mở ra như một bức tranh thủy mặc vào buổi sớm mai sương chưa kịp tan trên từng cành lá.
Tỉnh lộ 716 trải nhựa xa tít như một dải lụa vắt giữa rừng xanh thẳm. Hơn 30 km từ cửa rừng vào đến làng Lý Lịch của người Châu Ro là chập chùng dốc nối tiếp nhau. Con đường hun hút khiến người ta thích thú bởi cảm giác mọi thứ đã bị che khuất ngay trước mắt. Nếu có ý định khám phá khu di tích bảo tồn lịch sử huyện Vĩnh Cửu này bằng xe máy, nhất thiết bạn phải chọn một chú “ngựa sắt” thật chiến mới đủ sức chinh phục được những con dốc cao ngút nhưng êm ái như lụa này.
Hai bên đường vàng rực hoa cây giá tị, điểm xuyết màu tím của hoa bằng lăng và chen chúc màu xanh của sao, dầu, gõ mật, cẩm lai, gõ đỏ... Hàng trăm lối mòn nằm hai bên đường, bất kể rẽ vào đường nào bạn cũng có thể đi sâu vào rừng và như lạc vào ngay một khu rừng nguyên sinh trong cổ tích.
Những gốc cây vài người ôm xòe tán che mát khắp con đường, chim hót líu lo, dây giăng khắp lối. Thỉnh thoảng lại bắt gặp nụ cười tươi roi rói của cư dân sống rải rác sâu trong rừng hoặc những chú kiểm lâm áo xanh đi kiểm tra. Họ sẵn sàng chỉ cho bạn tên gọi những loại cây, nơi nào có nhiều lan rừng, mai rừng, những con suối mát trong hay vài loại trái rừng có thể tìm thấy vào mùa này…
Tỉnh lộ 716 - con đường rừng vào xã Phú Lý Phải vất vả từ chối “cám dỗ” của rừng tôi mới đến được xã Phú Lý. Ngay gần chợ Lý Lịch là một đoạn đường xôm tụ với những ngôi nhà quét sơn vàng, lợp tôn đỏ cùng kích cỡ nằm cận kề nhau. Người Châu Ro bây giờ không đóng khố ở nhà sàn nhưng vẫn giữ nét hồn hậu, hiền lành không thể nhầm lẫn. Tôi dừng xe trước một ngôi nhà. Mấy chị phụ nữ Châu Ro cười giòn tan như đã quen biết từ lâu lắm và thi nhau mời ở lại khi nghĩ tôi sẽ qua đêm nơi đây.
Người Châu Ro ở đây thường không theo tôn giáo đa thần truyền thống mà chỉ thờ Bác Hồ, ông bà tổ tiên như người Kinh và vẫn luôn bảo nhau giữ gìn truyền thống dân tộc cho con cháu mai sau. Tuy nhiên, nếu để ý kỹ sẽ thấy ngay trước cửa mỗi ngôi nhà thường có một tổ ong vò vẽ để xua đuổi tà ma và chữa bệnh.
Một trong những chứng tích chiến tranh mà già làng Năm Nổi lưu giữ trong “bảo tàng” độc nhất vô nhị của mình Người Châu Ro ở Phú Lý tự hào khi nhắc đến già làng Năm Nổi. “Trăm nghe không bằng mắt thấy”, già làng Năm Nổi 81 tuổi, có bộ râu được ví như suối rừng nơi đại ngàn khiến người ta không khỏi ngưỡng mộ khi được tiếp xúc trực tiếp. Ông kể người Châu Ro vốn theo chế độ mẫu hệ nên ông đã nhìn bông bí nở từ ngày ở rể để biết số tuổi, đến bây giờ những người con gái của ông lấy chồng cũng được cho một mảnh đất quanh đây làm ăn sinh sống.
Dù luôn tự nhận mình già, yếu nhưng giọng nói ông vẫn nhịp nhàng lên xuống theo từng cao trào pha lẫn sự hài hước trong từng câu chuyện, và thoăn thoắt dắt tôi đi khắp nơi để tận mắt nhìn thấy “gia tài” của mình, mà đúng hơn đó là tài sản của cả dân tộc Châu Ro. Những câu mở đầu và kết thúc câu chuyện của ông luôn có cùng một nội dung: “Người Châu Ro có được ngày hôm nay là nhờ cả vào Nhà nước…”.
Sự tin yêu ấy còn được thể hiện qua từng ngõ ngách, vật dụng, hình ảnh trong ngôi nhà của ông. Giữa ngôi nhà khách là bàn thờ Bác Hồ với lá cờ đỏ thắm và chân dung, bức tượng của Bác, xung quanh là những tấm hình lưu niệm chụp với cán bộ lãnh đạo tỉnh, trung ương, đồng đội xưa và vô số bằng khen...
Già làng Năm Nổi trong “bào tàng” của mình
Một trong những ngôi nhà của người Châu Ro xã Phú Lý với cùng kích cỡ: dài 10m, rộng 5m Và không chỉ được biết đến như một người tiên phong trong phong trào đấu tranh cách mạng, góp phần bảo vệ căn cứ Trung ương Cục miền Nam, nuôi giấu chiến sĩ, cán bộ, mà già làng Năm Nổi còn là người giữ gìn truyền thống văn hóa cho làng, cho dân tộc Châu Ro.
“Bảo tàng dân tộc của làng” là một ngôi nhà dài - nhà truyền thống của người Châu Ro được xây dựng gần 20 năm nay. Tại đây lưu giữ hơn 100 hiện vật là chứng tích chiến tranh và những sản phẩm văn hóa phi vật thể của đồng bào Châu Ro, như các loại nhạc cụ truyền thống, dụng cụ lao động, săn bắn, sinh hoạt: cồng, chiêng, kèn lá, kèn mô lúa, đàn concal…
“Già chỉ sợ một vài năm nữa khi già qua đời núi rừng sẽ đổi thay. Chứ già còn sống ngày nào nhất định sẽ làm gương cho con cháu một lòng theo Đảng, theo Nhà nước”, ông tâm sự. Tôi tin dân làng Châu Ro sẽ không bao giờ thay đổi và ông sẽ mãi là niềm tự hào không chỉ của dân tộc Châu Ro một đời theo cách mạng.
... Và tôi đã hẹn một ngày trở lại để được tắm trên dòng sông Sa Mách huyền thoại, dự những lễ hội của người Châu Ro và quan trọng hơn hết là lại cùng già làng Năm Nổi ôn lại lịch sử hào hùng mà ông là một trong những nhân chứng tiêu biểu nhất.
NGUYỄN THỊ NHƯ QUỲNH |
đăng 21:18 28-11-2011 bởi Pham Hoai Nhan
[
đã cập nhật 21:31 28-11-2011
]

Những năm sau giải phóng, các địa phương thường mời các nhạc sĩ về (chăm
sóc, bồi dưỡng) để viết nên những ca khúc về quê hương mình. Một trong các địa phương đó là thành phố Biên Hòa, một trong các nhạc sĩ đó là Trần Long Ẩn.
Theo
tôi biết, khi đó chị Út Kiều (Lê Ánh Vân) là trưởng phòng Văn hóa - Thông
tin TP Biên Hòa, chị có đề nghị với Trần Long Ẩn một ý kiến độc đáo như thế này: sáng tác một bài hát không hề
có chữ Biên Hòa hoặc Đồng Nai mà người ta vẫn biết đó là Biên Hòa.
Trần Long Ẩn đã xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ ấy.Bài hát rất thành công, được nhiều người yêu thích. Trong toàn bộ lời ca và cả tựa bài hát đều không có chữ Biên Hòa. Tên bài hát là: Đêm thành phố đầy sao.
Nhà chị Út Kiều có cây hoàng lan (Vườn nhà em, cây hoàng lan bát ngát hương tỏa bay...)
Trần Long Ẩn đã đi dọc bờ sông Đồng Nai để tìm cảm hứng (Em đang đi, đi bên sông chở đầy nắng hồng...)
Ác cái là không có chữ Biên Hòa, và thường được hát
bởi những ca sĩ Sài Gòn, hát ở Sài Gòn (và cũng giống TP Sài Gòn nữa
chứ), nên người Sài Gòn tự nhận nó là bài hát nói về thành phố của mình. Đêm thành phố đầy sao còn được bình chọn là một trong các bài hát được yêu thích nhất viết về Sài Gòn. Trần Long Ẩn cũng không thèm đính chính (vì SG "oai" hơn BH mà!).
Mới đây (năm 2008), trong một chương trình truyền hình trên HTV, nhạc sĩ Trần Long Ẩn mới chính thức thừa nhận rằng đó là bài hát viết về Biên Hòa.
Cũng không sao, đúng không các bạn? Biên Hòa và Sài Gòn cùng chia sẻ một bài hát cho thắm tình anh em há! Phạm Hoài Nhân
Đêm thành phố đầy sao
Nhạc và lời: Trần Long Ẩn
Tôi đang nghe tiếng sóng dòng sông
Tôi đang nghe tiếng gió ngày xuân
Nghe bông hoa, như thương ai rạo rực trên cành
Tôi đang nghe tiếng nói
của đêm
Như đang nghe tiếng hát của em
Tôi đang nghe, nghe con tim như
thủy triều lên
Thành phố đêm nay đầy sao
Dòng sông đêm nay đầy sao
Vườn
nhà em, cây hoàng lan bát ngát hương tỏa bay
Sương khuya nhẹ bay
Thành
phố bát ngát của gió
Tình yêu mênh mông của mây
Được ngày vui, không thể
quên những tháng năm ngược xuôi
Mơ về chân trời, thành phố của tôi
Khi
đi xa rất nhớ dòng sông
Đi đâu xa cũng nhớ về em
Em đang đi, đi bên sông
chở đầy nắng hồng
Đêm nay nghe tiếng sóng biển đông
Nghe trăm năm hát
khúc mười năm
Tôi đang nghe, tôi đang nghe nghe rõ đời tôi
Thành phố cho
em tuổi thơ
Dòng sông cho em mộng mơ
và tình yêu, như mùa xuân ấm áp
trên cành mai
Trong đêm ba mươi
Thành phố đêm nay đầy sao
Dòng sông đêm
nay đầy sao
Được gần nhau, tâm hồn như chấp cánh lên trời cao
Trong
ngần, trong ngần hình bóng của em
|
đăng 08:19 25-11-2011 bởi Pham Hoai Nhan
[
đã cập nhật 08:19 25-11-2011
]
Đạo Tin Lành là một tôn giáo cải cách, tách ra từ đạo Công giáo từ thế kỷ XVI ở châu Âu. Đạo có đường hướng hoạt động năng động, luôn luôn đổi mới từ nội dung đến hình thức để thích nghi với hoàn cảnh xã hội của mọi quốc gia dân tộc mà đạo truyền đến, đặc biệt là chủ trương "nhập thế" lấy hoạt động xã hội làm phương tiện, điều khiển để thu hút tín đồ.
Đạo Tin Lành truyền vào Việt Nam từ những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX do tổ chức Tin Lành Liên hiệp Phúc âm và Truyền giáo Mỹ (CMA) thực hiện. Những năm đầu truyền đạo ở Việt Nam, CMA gặp nhiều khó khăn về chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội, trong đó phải kể đến sự chèn ép, cấm cách của Pháp. Mãi đến năm 1911, CMA mới đặt được cơ sở Hội thánh đầu tiên, rất ít tín đồ ở Đồng Nai, chỉ phát triển từ năm 1954 đến năm 1975.
Đạo Tin Lành truyền vào Đồng Nai chưa lâu, số lượng tín đồ ít, đến nay toàn tỉnh có 8530 tín đồ thuộc 16 hội thánh với 16 thánh đường và 12 tụ điểm nằm rải rác trên khắp các địa bàn từ thành phố, nông thôn đến các vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số trong tỉnh. Đạo Tin Lành ở Đồng Nai đã trở thành một tôn giáo tương đối hoàn chỉnh, lại có mối quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng nên có điều kiện để tiếp tục phát triển.
Hội thánh Tin Lành ở Biên Hòa
Về tổ chức, đạo Tin Lành không lập ra tổ chức giáo hội mang tính chất phổ quát cho toàn đạo, mà đi theo hướng xây dựng các giáo hội riêng rẽ, độc lập với các hình thức khác nhau tùy theo hệ phái, hoặc theo từng quốc gia. Trong cơ cấu tổ chức giáo hội, các hệ phái Tin Lành chủ trương giao quyền tự trị cho các giáo hội cơ sở: chi hội, các cấp hội thánh bên trên hình thành phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cho phép. Trước năm 1975, tổ chức hội thánh Tin Lành miền Nam có 3 cấp: tổng liên hội, địa hạt, chi hội (hay hội thánh cơ sở). Các chi hội ở Đồng Nai thuộc địa hạt miền Đông Nam bộ. Từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng đến nay, đạo chưa xây dựng được tổ chức giáo hội bên trên cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh mới, các hội thánh cơ sở đều độc lập, nhưng với tinh thần đồng đạo, tín đồ các hội thánh vẫn có mối quan hệ tình cảm với nhau, chịu sự tác động và ảnh hưởng lẫn nhau và được phép cử đại diện phối hợp giữa các Hội thánh trong tỉnh để tiến hành một số hoạt động chung như tổ chức bồi linh, mở các lớp giáo lý, các hoạt động từ thiện xã hội
Trích Địa chí Đồng Nai |
đăng 08:12 25-11-2011 bởi Pham Hoai Nhan
Biên Hòa - Đồng Nai là một trong những địa bàn được truyền giáo sớm ở Đàng Trong và đã từng có những giáo sĩ Thừa sai nổi tiếng đương thời hoạt động truyền giáo ở đây. Nhưng từ ngày đầu truyền giáo đến năm 1954 đạo Công giáo ở Biên Hòa - Đồng Nai không trở thành một tôn giáo sâu rộng như Phật Giáo. Số dân đến Biên Hòa - Đồng Nai cư trú từ lâu đời theo đạo Công giáo chiếm tỷ lệ rất thấp. Một vùng đất vốn có truyền thống tín ngưỡng tôn giáo hỗn dung nhiều nguồn, nhiều phía nên khi tiếp nhận đạo Công giáo, người giáo dân Biên Hòa - Đồng Nai cũng không có niềm tin "tinh dòng", lễ nghi, phong tục, tập quán cũng không quá rườm rà, hình thức. Đạo không có vùng tập trung đông giáo dân, các xứ họ không phải là một lãnh địa khép kín, giáo dân sống xen kẽ với người ngoài đạo chan hòa cởi mở. Trong một dòng họ, một gia đình cũng có người đi lương, người đi giáo. Thậm chí trong một con người họ là tín đồ đạo Công giáo, họ đi nhà thờ cầu phúc, nhưng cũng có khi họ đi đình, chùa cầu cúng thần, Phật.
 Đại chủng viện Xuân Lộc - Ảnh: Phạm Hoài Nhân
Đạo Công giáo ở Biên Hòa - Đồng Nai là một giáo phận thuộc giáo tỉnh Sài Gòn của giáo hội Công giáo Việt Nam. Giáo phận có Tòa giám mục, 16 giáo hạt, 252 giáo xứ và hơn 100 họ lẻ và các cụm giáo dân ở các vùng kinh tế mới. Có 2 giám mục và 282 linh mục với 842.809 giáo dân.
Bên cạnh hệ thống triều, các dòng tu cũng là một tổ chức của giáo hội với nhiều loại hình khác nhau. Các dòng tu do Tòa thánh thiết lập hầu hết là dòng miễn trừ, đặt dưới quyền kiểm soát trực tiếp của Tòa thánh ít bị chi phối của giáo quyền, giáo phận. Các dòng tu do Tòa thánh thiết lập có cơ sở ở Việt Nam đều thuộc tỉnh dòng nước ngoài và do các tỉnh dòng nước ngoài chi phối. Mãi đến năm 1956 trở đi Việt Nam mới có tỉnh dòng riêng, nhưng cho đến nay vẫn còn các dòng tu trực thuộc tỉnh dòng nước ngoài. Các dòng tu do Giám mục giáo phận thiết lập thì mọi hoạt động đều đặt dưới sự kiểm soát của Giám mục giáo phận.
Hầu hết các dòng tu có ở Việt Nam đều có các cơ sở ở Biên Hòa - Đồng Nai. Đến nay số dòng tu đã đăng ký hoạt động có 13 dòng nam và 24 dòng nữ với 62 cơ sở dòng tu và 1510 tu sĩ.
Trích Địa chí Đồng Nai |
đăng 08:06 25-11-2011 bởi Pham Hoai Nhan
Đồng Nai là địa bàn Phật giáo đã được truyền vào từ xa xưa trong lịch sử và đã từng là một trong những cái nôi của Phật giáo Đàng Trong thời các chúa, các vua nhà Nguyễn, có ảnh hưởng không những đối với Phật giáo ở Nam bộ mà còn ảnh hưởng cả đến Phật giáo ở miền Trung. Nhiều nhà sư nối tiếp ở Đàng Trong đã từng tu hành, hoằng hóa ở Đồng Nai và có nhiều đệ tử nổi danh khác đi hoằng hóa ở các nơi. Đồng Nai có nhiều ngôi chùa cổ kính, trong đó có ba ngôi đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa là chùa Long Thiền, chùa Đại Giác, chùa Bửu Phong.
Chùa Đại Giác - Ảnh: Phạm Tường Nhân Từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, phật tử ở các nơi, nhất là ở miền Trung về Đồng Nai làm ăn sinh sống, tăng ni ở các nơi về Đồng Nai tu hành làm cho Phật giáo Đồng Nai có bước phát triển mới. Hơn 20 năm qua, số tăng ni gấp ba lần sau giải phóng. Toàn tỉnh chỉ có 419.286 tín đồ nhưng đã có 2.250 tăng ni, trong đó có 4 hòa thượng, 38 thượng tọa và 12 ni sư. Trong thời gian ngắn từ năm 1980 đến nay đã có hơn 100 chùa, tu viện... được trùng tu, xây dựng mới, đưa số cơ sở thờ tự ở Đồng Nai là 448. Nhiều chùa, thiền viện, tịnh xá được xây dựng mới khang trang và hiện đại, được kiến trúc và trang trí khác nhau theo từng hệ phái càng tô điểm thêm cho sự phong phú, nhiều màu sắc của Phật giáo Đồng Nai.
Phật giáo Đồng Nai có nhiều tông môn, hệ phái cả Bắc tông và Nam tông, bao gồm: Cổ truyền, Phật giáo Việt Nam thống nhất, Thiền tông, Khất sĩ, Tịnh Độ tông, Nam tông Theravada, Phật giáo Khơ - me... Nhưng Thiền tông nhập thế hòa nhập với tín ngưỡng dân gian truyền thống là chủ yếu, có ảnh hưởng sâu rộng trong dân gian, không chỉ có ảnh hưởng trong phật tử mà còn có ảnh hưởng cả trong những người theo đạo thờ cúng ông bà tổ tiên... theo quan niệm Thần, Phật ở bên cạnh con người để "hộ quốc an dân".
Trích Địa chí Đồng Nai |
đăng 07:56 25-11-2011 bởi Pham Hoai Nhan
Đồng Nai từ lâu đời là một địa bàn sinh tụ và cư trú của nhiều dân tộc với các tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, có sự giao lưu và ảnh hưởng tôn giáo lẫn nhau.
Vào khai hoang lập ấp ở Đồng Nai, người Việt đã trải qua nhiều giai đoạn, nhiều chặng đường. Ngoài văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo truyền thống được mang theo vào vùng đất mới, người Việt đã tiếp nhận có chọn lọc các yếu tố văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo của các cộng đồng cư dân mà họ cùng sinh sống. Khi người phương Tây vào truyền giáo, họ lại tiếp nhận văn hóa Ki tô giáo. Do điều kiện lịch sử, địa lý nhân văn nên tín ngưỡng tôn giáo Đồng Nai không mang tính cổ điển mà được hỗn dung nhiều nguồn, nhiều phía tạo nên sắc thái riêng. Dù theo tôn giáo này hay tôn giáo khác thì truyền thống thờ cúng ông bà tổ tiên, thờ những người có công với dân, với nước, nhớ ơn nghĩa người xưa theo đạo lý "uống nước nhớ nguồn" vẫn là truyền thống phổ biến nhất, sâu rộng nhất.
Đêm Noel ở Long Khánh - Ảnh: Nguyễn Thương
Hiện nay Đồng Nai là một địa bàn đa tôn giáo: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao đài, Hòa Hảo, Hồi giáo... Trong đó, Công giáo và Phật giáo là hai tôn giáo có số lượng tín đồ đông nhất. (Công giáo: 718.255 tín đồ, Phật giáo: 419.268 tín đồ, Cao Đài: 9.652 tín đồ, Hồi giáo: 1.709 tín đồ, Hòa Hảo: 210 tín đồ... theo thống kê tháng 5 - 1997)
Trích Địa chí Đồng Nai |
đăng 20:43 26-06-2011 bởi Pham Hoai Nhan
[
đã cập nhật 19:38 02-09-2011
]
Tranh gốm có nhiều loại. Có loại
được vẽ men sống trực tiếp trên mặt phẳng. Có loại họa sĩ tô men
trên một bức phù điêu mỏng… Tại các trường mỹ thuật hiện nay cũng
phổ biến loại tranh chất liệu, thực hiện bằng nhiều loại vật liệu
kết hợp – trong đó có gốm - trên một bề mặt phẳng… Ngoài ra, còn có
một loại tranh gốm khác, thuần chất gốm, được lắp ghép từ nhiều, rất
nhiều các mảnh gốm màu bé xíu: tranh ghép gốm, hay còn gọi là tranh
gốm mosaic.
Mosaic
(hay khảm, ghép), là một kỹ
thuật cổ xưa. Từ thiên niên kỷ thứ 3 trước công nguyên, mosaic đã xuất
hiện ở vùng Lưỡng Hà, như một thể loại trang trí bằng đá màu và
ngà voi. Khoảng 1.500 năm trước công nguyên, mosaic gốm ra đời, nhưng chỉ
thật sự phát triển từ thời đế chế Ba Tư (thế kỷ thứ 8 trước công
nguyên) cùng với các loại vật liệu mosaic khác, chủ yếu dùng trong
trang trí các cung điện và đền thờ. Mosaic tiếp tục ảnh hưởng sang
các nền văn minh Hy Lạp, La Mã, phát triển cả về kỹ thuật và màu
sắc, được nhiều thế hệ nghệ sĩ kế tục, trở thành một thể loại nghệ thuật
đặc thù, và định danh tên gọi. Mêhicô, Liên Xô (cũ) và một số nước khác đã
có nhiều thành công về thể loại này.
Tranh
mosaic có nhiều loại: ghép từ mảnh thủy tinh, ghép từ đá, sỏi, hay
ghép từ mảnh gốm. Ở Châu Âu, phổ biến là tranh ghép thủy tinh hay
ghép đá. Tại Châu Á, nhiều công trình cổ Trung Quốc có tranh ghép
gốm sứ. Ở Việt Nam, khách du lịch cũng thường được giới thiệu về
chùa Chén kiểu ở Sóc Trăng, Lăng Khải Định ở Huế, và một số ngôi
chùa cổ của người Hoa ở TP. HCM có nhiều mảng trang trí làm từ mảnh
gốm, sứ hay sành.
Tại
Đồng Nai, người dân qua lại trên đường Nguyễn Ái Quốc cũng có thể
thấy các mảng gốm ghép trang trí hai bên cầu vượt trước trường Tiểu
học Hùng Vương. Chùa Ông, một ngôi chùa cổ nổi tiếng trên đất Cù lao
cũng có một vài chi tiết ghép gốm.
Tuy
nhiên, trong hầu hết các công trình tại Châu Á và Việt Nam,
kỹ thuật ghép gốm thường chỉ mang tính chất trang trí. Không ít
người còn hiểu sai: ghép gốm như một kỹ thuật tận dụng các mảnh
chén vỡ, là việc làm chỉ của thợ xây dựng ở các vùng quê!
Lần
đầu tiên, từ một số cuộc triển lãm uy tín tại TP. HCM và Bình Dương
năm 2010, khách tham quan được làm quen với những tác phẩm mỹ thuật
thực sự, từ nguyên liệu gốm và kỹ thuật ghép mosaic.
Hằng
ngàn mảnh gốm nhỏ nhiều sắc màu, qua bàn tay tỉ mỉ của các nghệ
nhân, được ghép lại cạnh nhau theo một chủ ý nhất định và hình thành nên
những tác phẩm nghệ thuật thực sự, chắc khỏe, độc đáo, có một sức
thu hút khó kềm chế được. Đây là những sản phẩm bền bĩ với thời
gian, có thể trưng bày cả trong nhà và ngoài trời, hay tự tạo nên
những mảng tường trang trí độc đáo, phù hợp cho các công trình thể
thao, văn hóa, tôn giáo…
Quy trình
chế tác một bức tranh ghép gốm cũng thật công phu. Bắt đầu từ ý
tưởng, họa sĩ phác thảo nên bức tranh mẫu với đầy đủ sắc màu dự
kiến. Căn cứ trên sắc màu này, các nghệ nhân bắt đầu pha chế men
gốm. Sau khi qua lò nung ở nhiệt độ khoảng 1.200oC, các miếng
gốm với đủ sắc màu cần thiết cho bức tranh hình thành. Bắt đầu công
đoạn chế tác, căn cứ vào hình dạng cụ thể của từng mảng màu và tông
màu, sắc độ màu của từng vị trí trên tranh, nghệ nhân dùng kềm bấm
tạo hình chi tiết cho từng mảnh gốm. Các mảnh gốm thường chỉ nhỏ
khoảng 0.5 đến 2cm. Một bức tranh có thể có từ vài trăm đến vài
chục ngàn mảnh ghép thủ công như thế tùy theo độ phức tạp. Về màu
sắc, để hoàn thiện, tác phẩm sẽ cần có từ vài chục đến vài trăm
màu men khác nhau. Không có mảnh gốm nào giống nhau hoàn toàn về
hình dạng và màu sắc, nhưng tất cả sau khi ghép chung với nhau, làm
nên một vũ điệu gốm lung linh sắc
màu! Có thể nói không ngoa, quy trình chế tác tranh ghép gốm là
quy trình sáng tạo hai lần: lần thứ nhất họa sĩ thực hiện bức tranh
mẫu gần như một bức tranh hoàn chỉnh; lần thứ hai, nghệ nhân chép lại
bức tranh với đầy đủ chi tiết, màu sắc… nhưng không phải bằng cọ với
màu sơn, mà là bằng kềm và các mảnh gốm. Mỗi một mảnh gốm do nghệ
nhân cắt ra, đặt vào tranh có thể xem như một nhát cọ của họa sĩ,
nhưng được thực hiện bằng kềm bấm và màu sắc phải được chuẩn bị
trước trong lò nung ở nhiệt độ 1.200oC!
Tìm
đến với các nghệ nhân làm ra nó, chúng tôi thực sự ngạc nhiên, vì
dòng tranh này xuất xứ từ Biên Hòa, và nhóm nghệ nhân làm ra nó,
hầu hết là con dân xứ Đồng Nai!
Ai
cũng biết gốm Biên Hòa từng một thời vang bóng. Tại những cuộc đấu
xảo trong thập niên 30 của thế kỷ trước ở châu Âu, màu men xanh đồng
trổ bông cùng với kiểu dáng khác lạ, kỹ thuật sáng tạo của các
nghệ nhân Đồng Nai đã làm ngỡ ngàng những nhà sưu tập sành điệu trên
thế giới. Trải qua thời gian, với nhiều tác động của thị trường,
gốm Biên Hòa cũng thăng trầm như những người tâm huyết đã làm ra nó.
Những năm gần đây, trong sự giao lưu với các vùng gốm khác, cùng với
sự mở rộng thị trường xuất khẩu, gốm Biên Hòa đang dần được hồi
sinh…
Và
hôm nay, tranh ghép gốm Đồng Nai với thương hiệu Mosa (hai âm đầu của
từ mosaic), kế thừa kỹ thuật cổ
châu Âu, kinh nghiệm của người Hoa, sự khéo léo của người Việt,
truyền thống men Biên Hòa, cùng với một số kỹ thuật mới và tin học
bổ trợ, có thể hy vọng là một dòng sản phẩm sẽ tạo nên sự khác
biệt, bổ sung cho truyền thống gốm Biên Hòa? Một số hình ảnh tranh ghép gốm MOSA
 Đoạn tranh ghép gốm do công ty MOSA thực hiện trên Con đường Gốm sứ - Công trình kỷ lục Guiness chào mừng 1.000 nămThăng Long
Địa chỉ tham khảoCông ty TNHH 1 thành viên MOSA
Thành Nhân
|
|