Chùa, cơ sở tôn giáo


Chùa Phật Tích Tòng Lâm

đăng 00:17 17-11-2011 bởi Nhân Phạm Hoài   [ cập nhật 02:30 01-02-2012 bởi Pham Hoai Nhan ]

Tam quan chùa

Mặt tiền chùa

Toàn cảnh chùa

Tên thường gọi: 
Chùa Phật Tích

Chùa tọa lạc ấp Thanh Nguyên, xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. ĐT: 061.511262, 061.511776. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông.

Chùa do Hòa thượng Thích Nhựt Minh khai sáng vào năm 1959. Ngôi chánh điện được xây dựng vào năm 1963 theo kiểu kiến trúc Ấn Độ do nhóm thợ Nguyễn Văn Ba ở Sóc Trăng thực hiện. Hòa thượng Thích Nhựt Minh viên tịch năm 1997. Trụ trì chùa hiện nay là Thượng tọa Thích Minh Trí.

Trước chùa có hồ sen, giữa hồ đặt bảo tượng Bồ tát Quan Thế Âm cao 12m, tôn trí năm 1963. Bên trái chùa có tháp Tam Bảo cộng đồng cao 22m, được xây dựng năm 1982.

Trong sân trước chùa, nối qua chùa Bạch Liên, có tôn trí nhiều pho tượng lộ thiên lớn như tượng đài Phật Thích Ca, tượng đài Phật nhập niết bàn, tượng  đài Di Lặc...

Chùa Bạch Liên


Đài Di Lặc

Đài Quan Âm

Tượng đản sanh

Tượng Đức Phật nhập Niết bàn

Tượng xuất gia

Chùa ngày nay là một điểm chiêm bái, du lịch hấp dẫn của Phật tử và du khách gần xa.


Chùa Việt Nam - Xưa và Nay
Võ văn Tường

Thiền viện Tuệ Thông

đăng 20:19 16-11-2011 bởi Nhân Phạm Hoài   [ cập nhật 03:34 01-02-2012 bởi Pham Hoai Nhan ]

Thiền viện Tuệ Thông tọa lạc tại ấp 1C, Phước Thái, Long Thành, Đồng Nai

Trùng tu năm 2002
Trụ trì : Ni sư Thích nữ Như Minh
Điện thoại : (061) 384-1235


Thiền viện Tuệ Thông, vốn là chùa Bửu Sơn trên núi Tao Phùng, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Chùa theo hệ phái Bắc Tông. Chủ trì là Ni sư thích nữ Như Minh. Ni nư xuất gia tại chùa Từ Quang ở Thủ Đức, và được Hòa thượng Thiện Hòa gởi vào trường Dược Sư tu học 7 năm.

Năm 1972, Ni sư theo học khóa thiền ở thiền viện Chân Không với Hòa thượng Thanh Từ và đổi sang hệ phái Thiền tông từ đó.

Năm 1986, chùa nằm trong khu quân sự nên bị giải tỏa, Trụ trì cùng Ni chúng tháo gỡ tôn, gạch, cây … chuyển về khu đất rộng 2000m2, do bà Năm Osawha cúng dường tại xã Phước Thái. Chính là khu đất mà thiền viện đang tọa lạc hiện nay.

Ban đầu chùa chỉ có một chánh điện diện tích 24m2 (6mX4m). Ni chúng chỉ có Sư trụ trì và hai Ni. Dần dà chùa lên đến 72 người.

Năm 2000 được sự chấp thuận của Giáo Hội, chùa đổi tên thành Tuệ Thông.

Năm 2002 thiền viện được trùng tu mở rộng, diện tích lên đến 108m2 (12mx9m). Ngoài chánh điện được xây ở vị trí trung tâm, thiền viện còn có các công trình sinh hoạt khác như giảng đường, thiền đường, Ni đường, nhà trù và hai ngôi tịnh thât dành cho sư trụ trì và sư phó.

Thông tin và hình ảnh được trích từ: Website Thiền viện Thường Chiếu

Tịnh xá Ngọc Uyển

đăng 20:06 18-07-2011 bởi Nhân Phạm Hoài   [ cập nhật 07:16 25-10-2012 bởi Pham Hoai Nhan ]

Tịnh xá Ngọc Uyển tọa lạc cạnh quốc lộ 1K, ấp Tân Bản, phường Bửu Hòa, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Bên trái tịnh xá là núi Châu Thới, bên phải là dòng sông Đồng Nai, trước mặt là ngọn núi Bửu Long.

Tịnh xá Ngọc Uyển được thành lập từ năm 1968, tổng diện tích là 6 mẫu.

Vào năm 1968, cố Ni trưởng Huỳnh Liên lấy cơ sở này thành lập cô nhi viện Nhất Chi Mai. Cô nhi viện này hoạt động rất hiệu quả. Ban giám đốc phối hợp với Ban điều hành quản lý và với Ni chúng trực tiếp chăm sóc, dạy dỗ các cô nhi.

Đến năm 1975, sau ngày thống nhất đất nước Cô nhi viện được Sở Lao động -Thương binh và Xã hội Đồng Nai tiếp nhận. Phần đất thuộc diện tích của cô nhi viện là 1 mẫu 4 được cố Ni trưởng Huỳnh Liên hiến tặng luôn cho Sở lao động – Thương binh và Xã hội sử dụng (hiện nay là Trung tâm nuôi dạy trẻ khuyết tật tỉnh Đồng Nai). Phần đất còn lại hơn 3 mẫu được sử dụng làm nơi tu học và sản xuất của Ni chúng tại đây.



Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Tịnh xá Ngọc Uyển tọa lạc cạnh quốc lộ 1K, ấp Tân Bản, phường Bửu Hòa, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Bên trái tịnh xá là núi Châu Thới, bên phải là dòng sông Đồng Nai, trước mặt là ngọn núi Bửu Long.

Tịnh xá Ngọc Uyển được thành lập từ năm 1968, tổng diện tích là 6 mẫu.

Vào năm 1968, cố Ni trưởng Huỳnh Liên lấy cơ sở này thành lập cô nhi viện Nhất Chi Mai. Cô nhi viện này hoạt động rất hiệu quả. Ban giám đốc phối hợp với Ban điều hành quản lý và với Ni chúng trực tiếp chăm sóc, dạy dỗ các cô nhi.

Đến năm 1975, sau ngày thống nhất đất nước Cô nhi viện được Sở Lao động -Thương binh và Xã hội Đồng Nai tiếp nhận. Phần đất thuộc diện tích của cô nhi viện là 1 mẫu 4 được cố Ni trưởng Huỳnh Liên hiến tặng luôn cho Sở lao động – Thương binh và Xã hội sử dụng (hiện nay là Trung tâm nuôi dạy trẻ khuyết tật tỉnh Đồng Nai). Phần đất còn lại hơn 3 mẫu được sử dụng làm nơi tu học và sản xuất của Ni chúng tại đây.

Hoàng Ân cổ tự

đăng 01:31 28-04-2011 bởi Nhân Phạm Hoài   [ cập nhật 02:42 01-02-2012 bởi Pham Hoai Nhan ]

Trên con đường nhỏ ở ấp Nhị Hòa, xã Hiệp Hòa (Cù lao Phố), nếu chú ý bạn sẽ thấy một cổng chùa đơn sơ, mộc mạc như thế này:


Đi sâu vào con hẽm nhỏ, ngôi chùa hiện ra, cũng rất bình dị:


Như niên đại trên chùa cho thấy, chùa được xây dựng năm 1726, đã gần ba trăm năm.

Ngôi Hoàng Ân cổ tự này gắn với một truyền tích như sau:


Ngôi chùa làng Hoàng Ân nhỏ bé xưa có vị sư già sớm khuya kinh kệ cầu phước cho dân làng. Một hôm, trời nhá nhem tối, vị sư già cùng đệ tử đang tụng kinh thì có một đôi vợ chồng từ xa đến xin trú qua đêm. Hai người kể sự tình vì không có con cháu và ý nguyện phát tâm nên xin ở lại chùa làm công quả cho đến khi chết.

Ba năm trôi qua, đôi vợ chồng cho nhà sư biết cả hai đều bị bệnh phong (cùi). Không muốn cho những người xung quanh dị nghị, xa lánh, nhà sư bèn làm một cái chòi nhỏ cạnh chùa cho hai vợ chồng ra đó tá túc. Bệnh tình của hai người khởi phát và càng nặng thêm, họ không làm gì được nên ẩn ở chòi trông chờ vào thức bố thí của chùa hằng ngày. Hằng ngày, đích thân nhà sư đem cơm cho vợ chồng kia.

Ngày kia, trong làng có tang, nhà sư phải đi cúng. Trưa hôm đó, người đệ tử đem cơm đến. Nhìn thấy hai vợ chồng phong cùi ghẻ lỡ, người đệ tử tỏ vẻ gớm ghiếc, xem thường. Cơm được đưa qua một cái lỗ nhỏ bằng cành cây. Thấy vậy, đôi vợ chồng kia tủi thân, hai người cố lết ra cái giếng gần đó và gieo mình cùng chết. Khi tẩm liệm, thấy xác của người chồng thiếu một ngón chân, người vợ thiếu một ngón tay. Nhà sư bèn ra giếng và nhặt được, đem vào rửa sạch sẽ, phơi khô và cất giữ trong một cái hũ để thờ trong chùa.

Hai mươi năm sau, người đệ tử xưa trở thành vị sư trụ trì kế tiếp đón một đôi thanh nam nữ tú đến viếng chùa. Họ xin bái kiến Phật và Tổ sư. Đứng nhìn họ lạy Phật, sư trụ trì thấy bàn chân người thanh niên thiếu một ngón chân, thiếu nữ thiếu một ngón tay. Nhớ lời Tổ dặn, ông bèn đem cái hũ đưa cho đôi thanh niên và nói: “Tôi làm theo lời Tổ dặn, thí chủ hãy nhận cái hũ này”. Đôi thanh niên nam nữ ngạc nhiên nhận lấy hũ. Họ mở ra và thấy trong đó có một ngón chân và một ngón tay. Họ đem gắn vào bàn chân, bàn tay thiêu ngón của mình thì vừa vặn, da thịt kéo liền lại nguyên vẹn.

Đêm ấy, họ xin ở lại chùa. Họ cùng sư trụ trì nói chuyện. Khi kể về gốc tích của nhau, sư trụ trì mới biết họ chính là công chúa và hoàng tử của một vương quốc xa đến viếng. Nhà sư thầm nghĩ có thể họ là hậu thân của đôi đôi vợ chồng bị bệnh phong xưa kia từng trú náu nơi nhà chùa.

Câu chuyện cứ thế được truyền tụng trong dân gian như bài học về lòng từ bi hỉ xả của Phật và cách đối ứng tâm thành của con người.

(Bạn có thể xem thêm tại bài này: Di tích chùa Hoàng Ân ở Cù lao Phố và chuyện tích liên quan)

Bạn hãy bước tới, vào cổng chùa để chiêm ngưỡng không gian yên ắng và mặt tiền trang nghiêm của ngôi cổ tự này:


Chuyện kể ngày xưa được lưu dấu ở đây:



Tượng Phật Di Lặc bên cây cổ thụ thật to và cao ngút trời xanh




Quan Âm đài


Đóa sen trong chùa


Có một chi tiết mà các tài liệu, sách báo của tỉnh Đồng Nai không nói tới là: Khoảng 5 năm nay chùa Hoàng Ân còn được người dân gọi là chùa Xá Lợi.

Sở dĩ gọi như vậy là vì sư cô trụ trì chùa Huệ Tâm do cơ duyên đã thỉnh về chùa được rất nhiều Xá Lợi Phật. Phật tử từ nhiều nơi đã về đây để xin chiêm bái.

Ảnh tháp thờ Ngọc Xá Lợi trong chùa



Sư cô Huệ Tâm, trụ trì chùa Hoàng Ân


Bạn có thể xem thêm bài viết của sư cô Huệ Tâm kể về cơ duyên cung thỉnh được Xá Lợi Phật tại đây: https://docs.google.com/document/d/1fhkJiRmrorKfQLPrOMjdARhEZJTQs6RFwNghB3co07k/edit?hl=en

Chùa Phật bốn tay

đăng 23:47 17-03-2011 bởi Nhân Phạm Hoài   [ cập nhật 02:28 01-02-2012 bởi Pham Hoai Nhan ]

Bạn đã từng đi ăn lẩu tôm Năm Ri ở Biên Hòa chưa?

Không phải tôi quảng cáo cho lẩu tôm Năm Ri đâu, nhưng vì đây là địa điểm khá nổi tiếng và quen thuộc đối với dân Biên Hòa và cả Sài Gòn nên tôi muốn dùng nó để định vị cho bạn tìm đến một địa điểm khác, đó là một... ngôi chùa!

Trên đường vào lẩu tôm Năm Ri, bạn nhìn bên tay trái, có một ngôi chùa.

Ngôi chùa nhỏ, không phải chùa cổ, ngay cả tên chùa cũng rất bình thường, trùng tên với vô số chùa khác trên cả nước: Chùa Bửu Sơn.

Photobucket

Dân ở đây quen gọi chùa là chùa Phật bốn tay!

Sở dĩ có tên gọi như vậy là vì ở hậu điện chùa có một bức tượng thờ một vị thần tiên trong tư thế ngồi, có bốn tay cầm bốn linh vật, phía sau có lá đề khắc những dòng chữ Phạn. Người dân quen gọi là Phật bốn tay.

Photobucket

Những bậc cao niên cho biết ngày xưa người dân địa phương đi đốn cây thì phát hiện bức tượng này và rước vào chùa để thờ. (Có nghĩa là có chùa rồi mới ngẫu nhiên tìm ra tượng mà rước vào).

Kỳ thật, đây... không phải tượng Phật!

Căn cứ vào hình dáng tượng và minh văn tiếng Phạn phía sau tượng, các nhà nghiên cứu xác định rằng: Đây là tượng thần Vishnu của đạo Hindu. Minh văn này cho biết tượng được tạo dựng bởi hoàng tử Chămpa là Nauk Klaun Vijaya nhờ vào chiến lợi phẩm mà ông chiếm được từ người Chân Lạp. Việc dựng tượng khắc bia này nhằm tôn vinh vị thần Bảo hộ - thần Vishnu và khẳng định vương quyền của mình trên vùng đất mới chiếm được.

Có 2 điều thú vị rút ra từ sự việc này:
  1. Niên đại của tượng được xác định là ở những năm đầu công nguyên (cách nay 2.000 năm). Tượng thần Vishnu là một di tích khảo cổ quan trọng để tìm hiểu lịch sử vùng đất Biên Hòa cách nay 20 thế kỷ!
  2. Tính mộc mạc, chơn chất của người dân, thấy tượng thì gọi là Phật, và đã gọi là Phật thì mang vào chùa để thờ phụng - chứ không cần biết tượng đó là ai, của tôn giáo nào!
Nếu bạn thấy chuyện tôi kể là thú vị thì hôm nào đi ăn lẩu tôm Năm Ri, bạn hãy ghé bước qua chùa Bửu Sơn một tí. Ở đó có bức tượng 2.000 năm tuổi trong ngôi chùa chưa tới 100 tuổi. Ở đó có vị thần Vishnu của Ấn độ giáo được thờ phụng như một đức Phật của Phật giáo!

(Ghi chú: 2  ảnh trong bài này được scan lại từ tư liệu nên chất lượng ảnh không tốt lắm. Hôm nào tiện tôi sẽ đi chụp lại và post lên sau.)

Ngôi cổ miếu chứng kiến sự ra đời của 2 thành phố

đăng 01:39 09-03-2011 bởi Nhân Phạm Hoài   [ cập nhật 02:37 01-02-2012 bởi Pham Hoai Nhan ]

Sài Gòn và Biên Hòa được thành lập cách nay hơn ba trăm năm, từ nằm 1698.

Trước đó, vào năm 1684 - 14 năm trước khi Sài Gòn và Biên Hòa ra đời - có một ngôi miếu được dựng nên ở cù lao Phố, Biên Hòa, Đồng Nai.

Photobucket
Bên ngoài chùa Ông

Sử sách ghi lại rằng năm 1679, Trần Thượng Xuyên và 3.000 người Hoa đến gặp chúa Nguyễn, xin làm "dân mọn nước Nam" (Gia định thành thông chí). Triều đình chuẩn y và lệnh cho đến đất Nông Nại (Đồng Nai) khai phá đất đai.

Đến đây, cộng đồng người Hoa gồm 7 phủ: Phước Châu, Chương Châu, Quảng Châu, Triều Châu, Quỳnh Châu và Ninh Ba cùng góp công tạo dựng một ngôi miếu thờ Quan Công, gọi là miếu Quan Đế hay Thất phủ cổ miếu. tại Cù lao Phố vào năm 1684.Photobucket

Photobucket

Cơ sở tín ngưỡng này là nơi đồng bào người Hoa tụ tập để gửi gấm tấm lòng về cố quốc. Có thể xem đây chính là cơ sở tín ngưỡng đầu tiên của người Hoa trên cả vùng Nam bộ.

Photobucket

Thuở ấy, với sự có mặt của cộng đồng người Hoa, cù lao Phố trở thành một trung tâm thương mại lớn ở phía Nam. Rồi thời cuộc xoay vần, những cư dân này theo chân Nguyễn Ánh tiến về Sài Gòn - Gia Định để tạo dựng nên Sài Gòn Gia Định.

Photobucket
Photobucket

Vì không thờ Phật, nên đây phải gọi là miếu, nhưng dân gian quen gọi là chùa. Chùa Ông. Ông ở đây là Quan Công.

Trên 300 năm nằm yên bình bên bờ sông Đồng Nai, chứng kiến bao thăng trầm của thời cuộc, sự ra đời của 2 thành phố, chùa Ông vẫn còn đó lặng lẽ ngắm dòng sông trôi...

Photobucket
Hàng năm, vào các dịp lễ hội, nhiều người - đặc biệt là người Hoa ở Sài Gòn Chợ Lớn - đến đây để chiêm bái, cầu lộc, dập dìu đông đúc cả một mạn Nam cù lao Phố.

Năm 2010, di tích này qua một đợt trùng tu lớn. Công trình vẫn cố gắng duy trì được những nét văn hóa cổ xưa của chứng nhân lịch sử này.

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Chùa Cô hồn

đăng 05:14 07-03-2011 bởi Nhân Phạm Hoài   [ cập nhật 02:23 01-02-2012 bởi Pham Hoai Nhan ]

Người dân thường gọi tên ngôi chùa theo cái tên rất dân dã, do dân gian tự đặt. Ở Biên Hòa, bạn nói tên chùa Đại Phước thì ít người biết, nhưng nói chùa Ông Tám là người ta biết ngay, hoặc chùa Đại Giác thường được gọi là chùa Phật Lớn. Tương tự như vậy, có một ngôi chùa người dân thường gọi là chùa Cô hồn, dù tên chính thức của chùa là Bửu Hưng Tự.

Chùa Cô hồn nằm gần cổng sân bay Biên Hòa, trên đường Phan Đình Phùng, phường Quang Vinh.

So với các ngôi chùa ở Biên Hòa, chùa Cô Hồn có quy mô nhỏ, kiến trúc được xây theo lối chữ nhị. Phía trước là gian chính điện được bày trí hệ thống tượng thờ Phật khá phong phú. Chùa được xây bằng vật liệu kiên cố, bốn bên là tường gạch, mái ngói lợp vẩy cá. Giá khung kiến trúc của chùa bằng gỗ, phía trên bàn thờ chánh được tôn cao tạo nên khoảng lầu trống thông thiên.

Nhìn chung kiến trúc và quy mô của chùa không có gì đặc sắc. Đây cũng không phải là ngôi chùa cổ, vì mới được xây dựng từ 1920. Điều đặc biệt chính là xuất xứ của chùa và tên gọi chùa Cô Hồn.


Năm 1861, Pháp đánh chiếm và xây dựng chính quyền thuộc địa tại Biên Hòa. Trước cảnh nước mất nhà tan, người dân Biên Hòa đã đứng dậy chống lại kẻ thù với nhiều hình thức khác nhau, trong đó phải kể đến tổ chức Hội kín yêu nước với tên gọi là Lâm Trung trại, được thành lập ở Biên Hòa vào đầu thế kỷ XX. Mục đích của Lâm Trung Trại là tập hợp nhân dân, xây dựng lực lượng để chống Pháp. Trại có căn cứ đóng tại xã Thiện Tân, Vĩnh Cửu, do nhiều nhân vật tinh thông võ nghệ như: Tư Hy, Tư Hổ, Ba Hầu, Hai Lực, Ba Vạn, Bảy Đen... tổ chức, ngày đêm luyện tập võ nghệ để mưu cầu đại sự cho quê hương.

Tháng 2/1916, Lâm Trung trại tổ chức tấn công vào các công sở của Pháp ở Biên Hòa nhưng do vũ khí thô sơ, lực lượng lại mỏng nên đã thất bại. Thực dân lùng sục và tìm mọi cách bắt giam các nghĩa sĩ chỉ huy.

Tháng 6/1916, thực dân Pháp xử bắn 9 nghĩa sĩ Lâm Trung trại tại Dốc Sỏi (gần thành cổ Biên Hòa), và chôn xác 9 người chung một nấm mồ trước sự chứng kiến đau thương của người dân địa phương. Cảm động tấm lòng yêu nước của các nghĩa sĩ Lâm Trung trại, người dân địa phương đã xây dựng ngôi miếu nhỏ trên triền đồi nhằm tưởng nhớ và thờ cúng những linh hồn các sĩ tử.

Đến năm 1920, nhân dân địa phương góp tiền của, công sức xây dựng ngôi miếu thành ngôi chùa có tên gọi Bửu Hưng tự.


Chùa Bửu Hưng được UBND tỉnh Đồng Nai xếp hạng di tích lịch sử từ năm 1979.

Những năm gần đây, cùng với các phật tử, Ban trụ trì nhà chùa đã không ngừng phát huy công tác xã hội hóa di tích, trùng tu và sửa chữa một số hạng mục quan trọng như: nhà thờ tổ, nhà giảng; một số cột gỗ, lót mới nền nhà, thay ngói... Đặc biệt, Bửu Hưng tự đã trở thành ngôi nhà quen thuộc của những mảnh đời bất hạnh nhưng tràn đầy tình nhân ái trong vòng tay yêu thương và che chở của những tấm lòng từ bi, nguyện hướng đến cái chân - thiện - mỹ trong cuộc sống thường nhật của con người.

Chùa Bửu Phong

đăng 04:13 23-02-2011 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 02:22 01-02-2012 ]

Tổng quan

Ngôi chùa tọa lạc trên núi Bình Điện, phường Bửu Long, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai. Đây là ngôi chùa cổ có niên đại sớm của Đồng Nai (xây dựng năm 1616), với lối kiến trúc và các chạm trổ, trang trí hoa văn tinh vi độc đáo, là kiệt tác mang đậm phong cách dân tộc của nền văn hoá nghệ thuật Việt Nam.

Chùa đã đã được Bộ Văn hoá - Thông tin công nhận là di tích lịch sử - văn hoá quốc gia từ tháng 04-1991. Lễ giỗ tổ khai sơn của chùa được tổ chức vào ngày 12-08 âm lịch với sự tham gia của đông đảo bà con trong vùng và du khách khắp nơi.

Lịch sử

Đầu thế kỷ XVII, Bửu Long còn là vùng rừng núi hoang vu thuộc Chân Lạp. Năm 1616, một nhà sư người Việt theo sự bang giao Lạp – Việt đã đặt chân lên đất này, thấy cảnh núi non tươi đẹp, sư xin lập một am tranh đơn sơ, đặt tên là Bửu Phong tự. Ông tự xưng là Bửu Phong thiền sư. Từ khi có ngôi chùa, dân chúng các nơi tụ tập về sinh sống đông dần lên. Nhà sư đặt tên vùng đất này Bửu Long - 寳龍,ngụ ý đây là vùng đất thiên có thế ẩn của rồng.

Dân tụ về càng đông, xóm Bửu Long tr thành ấp Bửu Long rồi xã Bửu Long.... Vsau, một thầy địa lý đến thăm vùng đất này cho biết đây là nơi rồng ẩn. Ông giải thích rằng: chùa Bửu Phong tọa lạc trên trái châu của rồng (tức núi Bình Điện), núi kế bên hướng về trái châu là nơi rồng ẩn (núi Long n hiện nay). Rồng ẩn mình trong lòng đất, có khúc ẩn, khúc hiện, quả là đất lành muôn thuở.

Vào cuối thế kỷ XVIII, số người Hoa đến vùng đất này sinh sống ngày càng đông, trong đó có những người mộ đạo Phật đã xây cất lại ngôi chùa bằng gạch ngói. Họ đã mời thiền sư Thành Trí, pháp danh Pháp Thông - Thiện Hỉ, thuộc Thiền phái Tào Động thế hệ thứ 36, đến trụ trì và tôn làm vị Tổ đầu tiên của chùa. Lúc này, ngôi chùa có  kiến trúc kiểu chữ Tam - , gồm ngôi chánh điện, giảng đường và nhà thờ tổ.

Theo tài liệu của ông Nguyễn Hiền Đức in trong sách Thiền sư Việt Nam của hoà thượng Thích Thanh Từ, thì hoà thượng Pháp Thông không có đệ tử thay thế, nên sau khi ngài viên tịch, thiền sư Viên Quang (người Minh Hương thuộc Thiền phái Lâm Tế đời thứ 36) được cử về trụ trì chùa Bửu Phong. Năm 1760, thiền sư Viên Quang đã trùng tu chùa này.

Năm 1829, Tham tướng Nguyễn Văn Hiệp và Hương bảo Nguyễn Văn Tâm đã tổ chức xây cất mở rộng ngôi chùa. Năm 1898, hoà thượng Pháp Truyền tiếp tục trùng tu giảng đường, nhà tổ... Năm 1944, hoà thượng Huệ Quang tổ chức trùng tu và mở rộng hậu đường. Năm 1963, yết ma Thiện Giáo cho xây đài Quan Thế Âm trước chùa. Năm 1964, hoà thượng Huệ Thành cho xây đài Tam Thế Phật trên cụm tảng đá thiên nhiên xếp chồng lên nhau ở phía bên trái của ngôi chùa.

Từ năm 1974 đến nay, chùa Bửu Phong trở thành chùa ni, chỉ có các sư cô ở tu tập. Ni sư Huệ Hương đã không ngừng sửa chữa và trang trí để ngôi chùa được trang nghiêm. Giữa năm 2005, ni sư tiếp tục cho trùng tu nhà thờ tổ, chánh điện và xây dựng, sửa chữa thêm một số hạng mục trong khuôn viên chùa đã bị hư hỏng. Trong đó, có hai con rồng uốn mình phủ phục hai bên bậc thang lên chùa.

Kiến trúc

Cổng tam quan chùa nằm dưới chân núi Bình Điện, bên trục lộ 24. Từ đây, du khách leo lên 99 bậc đá, vừa tới độ cao 30 m sẽ gặp Bửu Phong cổ tự nằm thấp thoáng sau cây bồ đề lớn. Chùa được xây dựng trên một mỏm đá khá bằng phẳng, kiến trúc theo kiểu chữ Tam - , giống như hầu hết các chùa xưa ở miền Nam hay các chùa đời Trần ở miền Bắc. Chùa gồm có các hạng mục: chánh điện, giảng đường và nơi thờ tổ. Chùa được xây dựng bằng gạch thẻ, vôi hợp chất, mái lợp ngói âm dương. Nền lót gạch vuông tài và gạch bông. Bộ khung vì kèo làm bằng gỗ núi rất tốt. Mặt tiền chùa nhìn về hướng Đông Bắc, được trang trí các hoa văn đắp nổi bằng mảnh sành, mảnh sứ rất công phu và độc đáo. Hai câu đối ở hai cột chính nói lên ý nghĩa của tên chùa:

寳岳配提依鷲嶺

風山群美似奇園
Bửu nhạc phối đề y Thứu Lĩnh
Phong sơn quần mỹ tự Kỳ Viên

Vietgle dịch:

Bửu nhạc trập trùng như Thứu Lĩnh

Phong sơn rạng rỡ tựa Kỳ Viên

Trung tâm ngôi chánh điện thờ Phật Di Đà Tam Tôn, Đức Phật Thích Ca, Ngọc Hoàng thượng đế, Bồ Tát Văn Thù, Bồ Tát Phổ Hiền. Hai bên tả hữu thờ Quan Công và Tổ sư Đạt Ma. Ngoài ra còn có hương án thờ Bồ Tát Di Lặc, Bồ Tát Địa Tạng và bàn thờ Thập Điện Diêm Vương. Ngôi bảo tháp sau chánh điện thờ Xá Lợi Phật.

Trước chùa, dưới chân núi là những ô ruộng xanh mượt. Phía sau chùa 500 m có sông Đồng Nai uốn khúc. Bên trái có đá Thanh Long (còn gọi là Hàm Rồng), bên phải có hang Bạch Hổ và đài Tam thế Phật. Xung quanh chùa có nhiều cây cối mọc um tùm, rậm rạp. Nhiều tảng đá to nhỏ tạo hình kỳ dị. Tảng nhỏ có hình như voi, thấp như rùa, cá và nhiều pho tượng lộ thiên khá lớn. Đặc biệt, giếng nước phía sau chùa do vua Gia Long cho đào để lấy nước sử dụng trong thời gian trốn chạy do quân Tây Sơn đến nay vẫn còn. Chùa còn giữ lại nhiều bình hoa, chén, đĩa, bát nhang cổ từ đời Thanh và một số tượng Phật nhỏ bằng đồng.



(Các phần Tổng quan - Lịch sử - Kiến trúc chùa Bửu Phong được trích từ http://www.vietgle.vn. - Ảnh: PHN)

Cảm nhận:

Trước đây đường lên chùa qua 99 bậc thang, nay đã có đường nhựa đi được bằng xe máy.

Đến đây ngoài việc chiêm ngưỡng một ngôi chùa cổ gần bốn trăm năm với kiến trúc, hoa văn độc đáo còn là một chốn thiên nhiên hữu tình để thưởng ngoạn.

Mời bạn hãy đến, để tưởng tượng rằng mình đang ở hòn ngọc châu nơi miệng rồng.



Chùa Ông Tám

đăng 03:06 22-12-2010 bởi Nhân Phạm Hoài   [ cập nhật 02:31 01-02-2012 bởi Pham Hoai Nhan ]

Ngọc Phát Riverside là một điểm thư giãn khá lý thú ở thành phố Biên Hòa, với quán cà phê, nhà hàng ven sông,...

Thế nhưng điều tôi muốn giới thiệu với các bạn ở đây không phải là Ngọc Phát, mà là một ngôi chùa mà bạn sẽ đi ngang qua trước khi đến Ngọc Phát Riverside.

Dân gian ở đây quen gọi là chùa Ông Tám, dù tên chính thức là chùa Đại Phước.

Photobucket

Không phải ngôi chùa cổ, vì chùa được xây năm 1930. Điều khiến bạn dừng chân là ngôi chùa rất đẹp, tọa lạc ở một không gian rất đẹp.

Trước mặt chùa là Quan Âm đài, nằm trên một hồ lục bình ngan ngát, vừa tôn nghiêm, vừa xao xuyến cõi lòng.

Photobucket

Không chỉ muốn bạn dừng chân, tôi còn muốn bạn dừng chút suy tư để nghe tôi kể vì sao người ta gọi là chùa Ông Tám...
Hồi đầu thế kỷ trước, có một tướng cướp hung tàn, gây rất nhiều tội ác lang bạt đến vùng đất này. Ông ta được một người cảm hóa, khuyên hãy ăn năn sám hối. Người xưa có câu Quay đầu là bờ, Buông đao thành Phật. Tướng cướp nghe theo, nguyện quy y. Vị hảo tâm kia phát tâm xây một ngôi chùa để tướng cướp có nơi tu niệm.
Đó là năm 1930. Người ta thấy có một ngôi chùa hiện lên, sư trụ trì có gương mặt rất dữ dằn, nhưng tấm lòng thì từ bi đức độ. Người ta gọi ông là Ông Tám. Ngôi chùa ấy trước khi có tên, và mãi cho tới tận bây giờ người dân vẫn quen gọi tên là chùa Ông Tám.
Bạn hãy dừng một chút ở Quan Âm đài, ngắm lục bình xanh mượt trên hồ (vâng, lục bình chứ không phải sen), nhớ lại câu chuyện này để nghe lòng bao dung, để chiêm nghiệm lẽ đời...

Photobucket

Và hãy ngắm lục bình để nghe mênh mang điệu buồn phương Nam:

Về phương Nam ngắm sông ngậm ngùi Thương những đời như lục bình trôi...

1-9 of 9