10. Chiến khu Đ

Chiến khu Đ là căn cứ cách mạng trong hai thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ ở miền Đông Nam Bộ. Khởi thủy Chiến khu Đ là căn cứ của tỉnh Biên Hòa được thành lập vào tháng 2 năm 1946, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Sau khi Pháp chiếm Biên Hòa, các lực lượng vũ trang tỉnh Biên Hòa rút về vùng rừng núi Tân Uyên (thuộc quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa) để đứng chân. Thời kỳ đầu, chiến khu Đ từ hạt nhân của 5 xã: Tân Hòa, Mỹ Lộc, Tân Tịch, Thường Lang, Lạc An.

Sau Hội nghị quân sự Lạc An, Chiến khu Đ lần được mở rộng ra với một địa bàn rộng hơn trước và trở thành căn cứ địa không chỉ của tỉnh Biên Hòa mà còn của Khu 7 từ đầu năm 1947 đến 1950. Đến năm 1951, chiến khu Đ trở thành một trong hệ thống căn cứ địa của Nam Bộ gồm: Chiến Khu Đ, chiến khu Dương Minh Châu, chiến khu Đồng Tháp Mười, chiến khu U Minh.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, chiến khu Đ không ngừng được mở rộng, vượt khỏi phạm vi địa bàn trong kháng chiến chống Pháp. Chiến khu Đ phát triển rộng về phía  Đông và Đông Bắc giáp biên giới Campuchia và Đắc Lắc (Nam Tây Nguyên). Vùng căn cứ Chiến khu Đ là nơi thành lập đầu tiên của các đơn vị vũ trang miền Đông và chủ lực Miền, nơi đứng chân của Khu ủy miền Đông và đặc biệt là nơi thành lập đầu tiên của Trung ương Cục miền Nam  vào năm 1961.

Trong hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, từ Chiến khu Đ, lực lượng cách mạng tổ chức nhiều trận tấn công vào kẻ thù với chiến thắng vang dội. Kẻ thù luôn tìm, mọi cách đánh phá nhưng thất bại. Địch từng chua xót nhận định: “Chiến khu Đ còn, Sài Gòn mất”.

Comments