18. Thi tướng chiến khu xanh Huỳnh văn Nghệ

Huỳnh Văn Nghệ sinh ngày 2-2-1914 tại làng Tân Tịch, huyện Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa (nay là xã Thường Tân, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương). Học ở trường Pétrus Ký. Năm 1936-1939, làm viên chức Sở xe lửa Sài Gòn, ông tham gia phong trào Đông Dương Đại hội tại đây.

Năm 1945, ông trực tiếp tham gia cướp chính quyền ở Biên Hoà. Ông được giao các chức vụ: cố vấn cho Uỷ ban Kháng chiến miền Đông, Chỉ huy trưởng Giải phóng quân Biên Hoà, Khu trưởng khu 7, Phó tư lệnh rồi Tư lệnh Bộ Tư lệnh khu 7. Huỳnh Văn Nghệ nổi tiếng là một nhà lãnh đạo quân sự tài ba trong thời kỳ kháng Pháp ở vùng rừng núi miền Đông Nam Bộ.

Ông là một trong những người thành lập và lãnh đạo lực lượng vũ trang cách mạng đầu tiên ở Biên Hòa. Tên tuổi của ông gắn liền với Chiến khu Đ – căn cứ cách mạng nổi tiếng trên vùng đất miền Đông Nam Bộ, với lực lượng vũ trang Chi đội 10 mà người Biên Hòa gọi với cái tên thân thương là bộ đội “Tám Nghệ”.

 Dưới sự lãnh đạo của Huỳnh Văn Nghệ, lực lượng vũ trang Biên Hòa, miền Đông, Khu 7 đã thực hiện nhiều trận tấn công, làm nên những chiến thắng vẻ vang như: trận tấn công tỉnh lỵ Biên Hòa, Bàu Cá, Trảng Bom, La Ngà, Bến Sắn…Cấp quân hàm cao nhất của ông là thượng tá, nhưng nhân dân ngưỡng mộ gọi ông là tướng. 

Giữa năm 1953, ông ra miền Bắc ở lại công tác 12 năm trong quân đội với chức vụ Phó Cục trưởng Cục quân huấn. Sau này, ông tham gia công tác trong ngành lâm nghiệp với chức vụ Tổng cục phó Tổng cục Lâm nghiệp. Từ năm 1965, ông trở về miền Nam trực tiếp tham gia chống Mỹ. Sau năm 1975, ông là Thứ trưởng Bộ Lâm nghiệp. Huỳnh Văn Nghệ mất năm 1977 tại thành phố Hồ Chí Minh.

Ngoài tài năng thiên bẩm về quân sự, Huỳnh Văn Nghệ được biết đến với tư cách là một nhà thơ. Ông làm thơ từ năm 21 tuổi. Những bài thơ viết về cuộc đời, thân phận của người dân trong cảnh sống lầm than khi nước nhà còn bóng quân xâm lược.

Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp ở chiến khu Đ, nhiều tác phẩm của Huỳnh Văn Nghệ phản ánh sinh động về đời sống, quá trình trưởng thành của lực lượng cách mạng, về người mẹ, về đồng đội, Tổ quốc với nhiều sắc thái. Một tuyển tập thơ văn Huỳnh Văn Nghệ do Nhà xuất bản Đồng Nai thực hiện, giới thiệu 3 hồi ký, 5 truyện ngắn và 43 bài thơ của ông. Đó chỉ là những tác phẩm của ông mà những người thực hiện sưu tầm được.

Khi nhắc đến Huỳnh Văn Nghệ, hình ảnh được nhiều người khắc họa đẹp về ông là một chiến sĩ, nhà thơ, tay gươm, tay bút xông xáo trên mọi chiến trường. Hai câu thơ trong bài Nhớ Bắc của Huỳnh Văn Nghệ như một “tuyên ngôn” của đất và người Nam Bộ hướng về cội nguồn Tổ quốc:

       Từ độ mang gươm đi mở cõi

Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.   

Comments