62. Nội dung Văn bia Đền thờ Liệt sĩ huyện Nhơn Trạch

Đền thờ Liệt sĩ huyện Nhơn Trạch được khánh thành nhân dịp Kỷ niệm Quốc khánh ngày 2 tháng 9 năm 1999. Trong khuôn viên của Đền thờ, có nhà văn bia do Đảng bộ, nhân dân Nhơn Trạch lập, nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng cẩn đề.

          Với thể loại văn bia, tác giả đã nêu lên được những chặng đường lịch sử hào hùng của con người Nhơn Trạch, những chiến thắng vang dội của quân dân địa phương qua các thời kỳ lịch sử và lòng tri ân của con người hôm nay đối với bao thế hệ tiền nhân.

          Nội dung văn bia như sau:

                   Núi sông là báu vật của trời,

          Ruộng rẫy, làng thôn là do bởi mồ hôi mà có.

Xứ Nhơn Trạch xưa, vốnrừng giồng, nối liền rừng Sác. Vũng Gấm ráng chiều pha sắc thắm như dệt như thêu, thế nhưng lời tục kể rằng: Rạch, tắc, lạch, luồng có sấu “ông Kèo” bắt người ăn thịt đã thành tinh; ngã ba nọ, hạm gầm – con chim kêu phải sợ.

“Hà chính mãnh ư hổ” – lời thánh dân dạy thật không ngoa. Bởi lẽ thói thường d6ẽ gì bỏ nơi chôn nhau cắt rún mà đi, nhưng sưu sai, tạp dịch: sáng bắt phu, chiều đòi thuế, bữa đói chưa biết bữa no nên vượt biển bằng đèo tìm phương sanh kế. Cũng có kẻ dao tu nón gõ phiêu linh nơi nam ải, hải đồ; lại có người nagng ngạnh phải tội lưu đày nơi biên tái…người xa xứ gác mái chèo, lập vạn nơi sông Bà Ký – theo nghề Hạ Bạc; kẻ lạc loài dọn rẫy làm nương ở xứ Đồng Môn; cặm cụi nôg tang, canh cửi. “Đâm hà bá phá sơn lâm” gầy dựng cơ đồ; ngâm câu hát “cây cứng lá dai, gió lay mặc gió” làm khuôn nhân nghĩa.

Lợi đất thênh thênh, vời vợi núi Mô Xoài – Bà Rịa: Mậu Tuất một chữ “Phước” trời ban; sông rạch dọc ngang, triều lên sóng dợn Ngã Bảy, Đồng Tranh, Lòng Tàu, Rạch Lá…chúa đặt chử “An” cho dân lạc nghiệp. Trên cau, thóc dưới cá tôm: nhà đủ người no; nước Mạch Bà, trà Phú Hội: quán chợ đông vui, bến cầu người qua kẻ lại. Ngược Nhà Bè lên Biên Hòa về Bến Nghé thiết tha tiếng hát con đò; xuôi Đồng Tranh qua Ba Doi, Tắc Rỗi inh ỏi hò khoan bạn chài, bạn lưới.

Hỡi ôi!

Cuộc thế xoay vần, con tạo treo ngươi đầu gió; cây đước đứng giữa trời nơi ngọn sóng nào dễ lung lay. Súng đại bác giặc đà hạ pháo đaiPhước Thắng: ta đắp hàn ngăn chặn đường sông. Giặc lòn qua Xoài Rạp đánh vô: vận bỉ nước nhà đau lòng con đỏ. Nhật tảo hỏa hồng, Trương Công ban hịch: Gò Công, Hiệp Phước, Lý Nhơn, Long Thành, Bến Bạ, Phước An…cơ binh đội ngũ rập ràng, quyết công đồn giết giặc. Cơ trời chẳng thuận, giặc  cỏ bò lan Tướng quân mắc hại: Trên trại đồn điền hoa khóc chủ, dưới vàm Bạo Ngược sóng kêu oan; nghe chốn Lý Nhơn người sửng sốt, lời nguyền trung nghĩa há làm thinh!

Chẳng qua vận trời đến buổi gian nan, cho nên nỗi việc nướ c nhiều nơi hoạn nạn. Bọn đốn mạt mới thấy đồn Gò Công thất thủ đà sấp mặt hàng Tây, mới nghe thành Biên Hòa bị chiếm đã đành lòng theo giặc. Ở đâu mà chẳng thấy: đào mồ  mả, phá miễu chùa, làm những việc bất nhân; ở đâu mà không hay: đốt nhà cửa, hăm vợ con làm nhiều điều vô đạo.

Hoa chùm gởi mua ngày: Phủ Hựu Tây đoan, Tây sở, cường hào lộng lạc mấy năm – rày thì đầu xa cổ.

Chí dõng dược liều thân vì nghĩa có đôi vầng nhật nguyệt chứng tri; tiếng hào hùng đồn mãi gương trừ bạo loạn Long Thàn ai cũng để trên đầu trên cổ.

Dẫu chịu cảnh đá ngàn cân đè trứng, nhân nghĩa tính trời đã sẵn nào dễ đổi thay; hằng ủ trấu giữ bếp lòng chờ ngày gió dậy, bập bùng nổi ngọn. đêm tối mịt mù rồi mai lại rạng, ánh dương quang đỏ rực sao vàng: lũ bảy, đoàn ba quyết đi theo Đảng làm cách mạng. Lửa thử vàng, gian nan htử sức: chốn bưng biền mài mác, rèn dao mưu đại sự; sông rạch, rừng sâu nay thành căn cứ: Rừng Sác, Phước An chiến khu án ngữ, không cho giặc ra vào tự tung tự tác.

“Rừng Sác, Lòng Tàu sông rạch ấy: tàu binh, tàu chiến đâu dễ vào ra

Thành Tuy Hạ mấy lần: Kho đạn nổ tung như trờ long đất lở”

Chiến công ấy rỡ ràng, trên Biên Hòa bia đá đà ghi; trận đánh hủy kho Nhà Bè, Cát Lái, phá tàu Tây, tàu Mỹ tan tành, giặc thù đến nay còn nhớ.

Pháo đặc công tự tạo cũng làm chiến hạm giặc chạy re, nã đạn vỡ nóc “dinh Độc Lập”, sập lễ đài: Mỹ - ngụy chui xuống gầm, mặt cắt không còn hột máu; lấy bom lép, gắn ngòi phèn chua: nhận chìm tàu vạn tấn. Đánh dưới nước, đánh trên giồng: đào địa đạo thông liền thôn, xã; ngày bắn tỉa phá kềm, đêm công đồn diệt bót: Anh Cả Đỏ, Kỵ binh bay, Bình Định, Phượng Hòang kinh hồn vỡ mật.

Ở đâu: trái gùi, quả bứa, rau kìm, rau cám, đọt chà là, con ba khia cũng tạo được chiến công; nơi nào 12 xã có đến hàng ngàn anh hùng liệt sĩ.

Ở đây: hạt gạo luồn qua dây kẽm gai tươm máu đỏ cũng gởi đến rừng sâu; hạt sương đọng kẻ lá chà là cũng nuôi được người chiến sĩ.

Cờ Độc Lập nào không tô bằng máu đỏ: Đoàn 10 hơn tám trăm người ngã xuống tại đây; đài Tự Do nào không xây bằng xương tráng anh hùng: hơn năm trăm hài cốt các anh còn nơi bãi bờ, sông biển…

Đã đành: Mất mát đau thương nát lòng cha mẹ, nhưng vì vận nước đang hồi còn mất, khuyên con trọn phận làm trai, ngọn đèn khuya leo lắt trong lều, cạn nước mắt đôi ba lần già khóc trẻ.

Kính vậy thay:Cổ kim da ngựa bọc thây. Thác mà nợ nước đã đền, danh thơm trường tồn thì anh hùng phỉ chí; thác mà ưng đền miếu để thờ ai mà chẳng mộ.

Biết nói mấy cho vừa;

Biết kể bao cho hết.

Nay, cậy tấm lòng thanh, ép giọt mực son nắn nót mấy hàng đầu ngọn bút hoa: một tấm thạch bi, hỡi ôi, điều ghi được chỉ là muôn một.

Comments