06. Tín ngưỡng dân gian của cư dân người Việt ở Đồng Nai

Với tỷ lệ đa số (trên 90% dân số) trong tỉnh, người Việt ở Đồng Nai đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội ở địa phương. Tín ngưỡng dân gian của người Việt ở Đồng Nai là một phức hệ bao gồm nhiều nhân tổ hiện gắn bó thiết thực với đời sống tinh thần của người địa phương, thể hiện trong sinh hoạt gắn với vòng đời người (việc sinh, dưỡng, tang, cưới, mừng thọ…)  với sinh hoạt cộng đồng ( thờ cúng trong nhà, cúng đình, cũng miễu, lễ chùa…).  Qua khảo sát tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt trên địa bàn Đồng Nai, bước đầu chúng tôi có những nhận xét như sau:

I. Nguồn gốc và các nhân tố hợp thành:

 1. Tín ngưỡng dân gian của người Việt gốc Trung bộ  là cốt lõi.  Với kinh nghiệm sản xuất và “ông bà” “thần linh” mang theo, cư dân Việt có vốn liếng để hoà nhập vào vùng đất mới, không phải bắt đầu bằng “cảm hứng thần thoại” mà bằng tài sản tinh thần đã định hình. Với tài sản ấy, người Việt đã tồn tại với tư cách là chủ thể xã hội, không phải là nô lệ của tự nhiên. Niềm tin và thần thánh mang theo được ứng dụng ngay vào đời sống mới và nhanh chóng có trú sở thích hợp. Bàn thờ gia tiên, tục thờ thần bản gia, thần độ mạng trong nhà được hình thành cùng lúc với việc tại ra mái nhà:  cái đền, cái miễu cũng sớm định hình dễ dàng theo thiết chế đọng trong trí nhớ; kinh nghiệm và lễ tục về sinh dưỡng, hôn nhân, tang tế, chạp giỗ… được vận dụng cho vòng đời người mới theo bài  bản cũ mang theo. Trải nghiệm qua thực tế khoảng 3 thế kỷ, tín ngưỡng dân gian cư dân Việt ở đồng bằng Bắc bộ vẫn còn cốt lõi trong sinh hoạt của cư dân Việt ở Đồng Nai và chắc chắn ở nhiều vùng khác cũng vậy. Ghi chép của Lê Quý Đôn, Phan Huy Trú và Trịnh Hoài Đức trong tác phẩm của các ông cũng cho thấy lớp cư dân Việt  sớm vào khai thác xưa Gia Định – Đồng Nai đa phần có nguồn gốc Trung bộ. Như vậy, tín ngưỡng dân gian truyền thống của cư dân Việt từ cái nôi là đồng bằng Bắc   chuyển cư vào Đồng Nai – Gia Định đã trải qua trạm trung gian “nhuộm màu Trung bộ”. Điều này có thể được chứng minh qua những biểu hiện trong tín ngưỡng dân gian có nguồn gốc Bắc bộ nhưng in đậm dấu hiệu của Trung bộ. Gói đường phèn đường phổi trên bàn thờ ông bà trong ngày Tết rõ ràng là một sự hoài niệm về xứ Quảng. Những nhân thần nguồn gốc Trung bộ như: Bùi Tá Hán, Lương Văn Chánh, Nguyễn Phúc Diễn… thường được mời gọi trong văn cúng đình, lai lịch của nữ thần Dinh Cô, gốc tích Hát trả bạo, tục thờ cúng cá Ong, tàn tích của lễ cúng Tá thổ, uy thế của bà Chúa Ngọc, bà Chúa Động v v…cùng với âm vang của các vị thần biển khác trong tín ngưỡng dân gian chứng tỏ rằng lớp tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Trung bộ đã tác động trực tiếp đến Đồng Nai trong đó in cả dấu ấn lớp “tín ngưỡng nguồn” ở đồng bằng Bắc bộ. Việc thời Quốc tổ Hùng Vương, Lạc Long Quân, mẹ Au Cơ, Trần Hưng đạo và hát chầu văn ở miễu thờ Liễu Hạnh Công chúa… cũng là biểu hiện (gần như nguyên dạng) của tín ngưỡng dân gian truyền thống của cư dân Việt ở đồng bằng Bắc bộ nhưng là lớp văn hóa mới du nhập từ đầu thế kỷ XX đến nay, chủ yếu gắn với nhóm cư dân Việt “mộ phu” và “di cư” hiện còn da diết với cố hương.

Tín ngưỡng dân gian truyền thống của cư dân Việt gồm nhiều lớp, xuất phát chung một gốc, đến với Đồng Nai qua hai hệ (Bắc bộ và Trung bộ) đã tạo ra mẫu số chung trong sinh hoạt văn hóa – tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai; đó là chất kết dính cư dân Việt ở Đồng Nai với cội nguồn, là hạt nhân, là “gien nội sinh” trong quá trình giao lưu, tích hợp tín ngưỡng của các tộc người khác.

2. Tín ngưỡng của người Hoa in đậm dấu ấn trong tín ngưỡng dân gian của người Việt ở Đồng Nai.  Suy cho cùng, tín ngưỡng dân gian truyền thống của dân tộc Việt hóa thành tài sản tinh thần của cư dân Việt từ lâu đời. Ơ đây muốn nói đến hệ tín ngưỡng của người Hoa mới nhập cư từ thế kỷ XVII trở lại đây.

Ở Đồng Nai, tập đoàn người Hoa xuất hiện gần như là cùng lúc với quá trình khai phá lập làng của cư dân Việt với thế và lực chẳng thua kém, nếu không nói là hơn về quân sự, thương mại và tiềm lực kinh tế. Người Hoa đã sớm khẳng định vai trò của mình ở địa phương, họ khuyến khích thương mại và nghề thủ công, phát huy lực lượng quân sự, thiết lập hệ thống trú sở cho mình lẫn thần linh. Người Hoa có truyền thống sống có tổ chức, biết tương trợ nhau, tín ngưỡng của mình trong quan hệ với dân tộc khác. Với những đặc điểm như thế, người Hoa ở Đồng Nai có đầy đủ điều kiện để chi phối, thậm chí làm chủ sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của cư dân Việt ở Đồng Nai. Nhưng điều ấy đã không xảy ra. Những di sản tín ngưỡng của người Hoa mang theo hiện dễ tìm thấy trong đời sống sinh hoạt của người Đồng Nai: tục đốt nhiều vàng bạc, thờ cúng các vị thần Thiên Hậu, Cửu Thiên Huyền Nữ, Quan Thánh đế quân, Ngũ phương Ngũ thổ long thần, Tiền Hậu địa chủ Tài thần, bà mẹ Thai sanh… Nhưng đó là sự bổ sung chứ không phải thay thế.

Tín ngưỡng của người Hoa nhập cư vào Đồng Nai không phải là triết lý Nho giáo mà là những yếu tố mới mẻ của nền văn minh nông nghiệp quen thuộc gắn với đám  thương nhân bình dân cùng nỗi niềm tha hương của cư dân Việt, cho nên hai hệ tín ngưỡng dễ dàng chan hòa, dung hợp lẫn nhau, dần dần cư dân Việt và người Hoa chung mộ thần điện dân gian, đến mức khó phân biệt cội nguồn Hoa – Việt. Những hình tượng Phật và Quan Âm, Ngũ Hành nương nương, Thổ thần, Thổ địa, Chúa Tiên, Chúa Ngọc, Quan Công, Táo quân… cùng có sức sống ngang nhau trong tâm linh người Hoa cũng như cư  dân Việt. Các vị thần Việt  có họ hàng với Hoa là hiện tượng phổ biến ở Nam bộ nhưng không phải vì vật mà phủ nhận “Việt tịch” của các vị thần ấy.

Tuy nhiên sự dung nạp yếu tố tín ngưỡng của người Hoa vào tâm linh cư dân Việt không phải hỗn tạp mà là tiếp thu có chọn lọc và trong chừng mực nhất định. Người Hoa với tài lực dồi dào đã được trú sở bề thế cho thần thánh của mình như: Thất thủ Quan Võ miếu ( thờ Quan Thánh Đế ở Cù Lao Phố, Phụng Sơn tự (thờ Quảng Trạch Tôn vương) ở phường Quyết Thắng, chùa bà Thiên Hậu ở Bửu Long, chùa ông ở Phước Thiền…  tuy nhiên không  vì thế mà uy thế của các vị thần linh của họ trùm bóng lên thần điện của cư dân Việt. Những vị thần gốc Hoa ấy khi được dung nạp vào tín ngưỡng cư dân Việt, được thờ ở nhà hay ở đình, miễu đều trong sự hài hòa, bình đẳng với thần linh gốc Việt, thậm chí họ sẽ bị lẻ loi khi xa dời thần điện của cư dân Việt. Do vậy, quá trình Việt hóa các thần thánh của người Hoa nhanh chóng trên cơ sở tín ngưỡng cư dân Việt đã có nền móng và luôn sẵn chỗ để dung nạp thành tố mới.

Mặt khác, cư dân Việt ở Đồng Nai luôn có ý thức không sao chép nguyên bản của người Hoa. Thường cải biến hay dừng lại ở một mức độ nào đóđể tín ngưỡng của mình không bị hòa tan hoặc biến dạng. Thần tài ngồi riêng một “ghế” ắt dễ nhầm với Tài Bạch tinh quân của người Hoa, nhưng kho thành một hệ với ông Địa, thì không thể nhầm “quốc tịch” . quan niệm về tục lệ tang chế cũng na ná như nhau, nhưng nhìn hướng đầ hòm (quay đầu vào hay quay đầu ra là đủ biết Hoa hay Việt. Tương tự, xem cách xử lý chén rượu cúng (uống hay đổ ra đất cũng phân biệt đâu là cách của cư dân Việt.

Trong khi tài sản tinh thần mang theo không đủ để xử lý các tình huống mới lạ ở vùng đất mới, triều Nguyễn lại không tạo được gì thêm cho thần dân khai phá, thì tín ngưỡng của người Hoa đã đem đến cho cư dân Việt những hình ảnh mới làm phong phú thêm, đa dạng hơn những sinh hoạt văn hóa – tín ngưỡng tại Đồng Nai. Việc tiếp nhận yếu tố Hoa và sử dụng nó làm tài sản của mình đã thể hiện bản lĩnh và sức sống của tín ngưỡng dân gian truyền thống của cư dân Việt luôn bền vững trong giao lưu văn hóa và tiến trình phát triển.

3. Tín ngưỡng của người bổn địa là thành tố quan trọng trong việc hình thành tín ngưỡng dân gian của người Việt ở Đồng Nai. Đồng Nai là cái đuôi củadải Trường Sơn về phía Nam, là nơi giao thương giữa miền ngược với miền xuôi ắt thường xuyên diễn ra quan hệ trao đổi cũng như giao lưu văn hóa. Địa bàn trung du hiện nay ở Đồng Nai hiện nay còn có những tộc người: Mạ, Xtiêng, Châu Ro, K’ho.. những những tộc người thiểu số này còn ở trình độ thấp, sống du canh du cư, ít truyền thống văn hóa; trong đó chỉ có người Mạ để lại nhiều dấu vết có quan hệ với cư dân Việt nhiều nhất. Theo truyền thuyết, người Mạ đã từng là chủ nhân của vùng đất thượng du dọc sông Đồng Nai Thượng, từng có những cuộc buôn bán, giao tranh với người Chăm, sau đó phải nhường bước rút lên vùng cao, để lại những “Gò Mọi, Đạ Đờng, Đạ Dung…  cho cư dân người Việt làm chủ. Tiếc là những tài liệu ghi chép trước đây thường gom các fân tộc thiểu số vào tên gọi “ Man, Mọi, Thượng” khiến đời sau khó phân biệt, chỉ hiểu đại khái đó là cư dân các tộc ít người ở Tây Nguyên. Tàn dư tín ngưỡng của họ để lại trong cư dân Việt không nhiều lắm, chỉ thấy bóng dáng của “ó ma lai” trong kiêng kỵ của người phụ nữ sinh nở và thấp thoáng uy lực của “nữ thần lúa” trong vai trò của người phụ nữ trong việc chọn giữ bông lúc giống, “ đón mẹ lúa” vào bồ…

Di chỉ khảo cổ học lại cho thấy chủ nhân tài hoa của những mộ đá Hàng Gòn, đàn đá Bình Đa, qua đồng Long Giao, Miễu ông Chồn gần như có mặt khắp nơi nhưng là những lớp người (có thể) gắn với nền văn hóa Phù Nam chỉ còn tên gọi qua suy luận từ kết quả khai quật của các nhà khải cổ. Cho nên, hiện chưa có cơ sở để nêu ý kiến nào đó về mối quan hệ trong tín ngưỡng giữa người Phù Nam bổn địa xưa với cư dân Việt.

Người Khmer là lớp cư dân bản địa còn lưu nhiều vết tích trong sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của cư dân Việt ở Đồng Nai. Sử sách cho thấy, người Khmer có mặt ở Nam bộ sớm hơn cư dân Việt; đến năm 1888 còn 10.673 người ở tỉnh Biên Hòa nhưng trước đó họ là chủ nhân cả một vùng rộng lớn. Không rõ Đền Ngũ Công ở đầu nguồn Băng Bột mà Trịnh Hoài Đức cho rằng “Những thần ấy là lấy tên 5 cái thác hiểm mà theo như Man ngữ đế xưng hô” có phải thuộc hệ tín ngưỡng của người Khơmer không, cứ theo tên gọi: Tà Mã quận công, Tà Môn quận công, Tà Nông quận công, Tà Việt quận công, Tà Khuông quận công thì có thể đoán định họ hàng với ông Tà (Niek Ta), một vị thần đất của người Khơmer.

            Với ông Tà mang lý lịch người Khơmer, cư dân Việt ở Đồng Nam có thêm một vị thần đất “Ông Địa giữ nhà, ông Tà giữ ruộng”,  và khi cần thiết để phù trợ việc gì đó. Ông Tà cùng ông Địa được tin cậy, nhờ vả bằng lời khấn: “Vái ông Tà, Ông Địa”. Từ đó Niek Ta thâm nhập vào thần điện miễu Thổ thần cư dân Việt với bộ dạng là hòn đá lạ. Tàn dư tín ngưỡng của người Khơmer còn biểu hiện ở Linh Sơn Thánh Mẫu với lai lịch một nữ thần Khmau của người Khơmer, tục gọi là Bà Đen được cư dân Việt lẫn người Khơmer phụng thờ. Còn có thể nhắn đến vị thần  Ả rặc chi y mế thường được mời gọi phối hưởng ở các lễ cúng đình, cũng miễu; đó là vị nữ thần coi sóc biệc hầu bóng trong thần điện của người Khơmer tuy đã mất trú sở nhưng hãy còn âm vang trong tín ngưỡng của cư dân Việt.

            Yếu tố bổn địa rõ nét nhất trong tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai có lẽ là tín ngưỡng của người Chăm. Đồng Nai không nhiều vết tích cư trú của người Chăm như ở Khánh Hòa, Bình Định, Thuận Hóa. Sử sách cũng không cho thấy có sự giao lưu trực tiếp đáng kể giữa hai dân tộc Việt – Chăm trên mảnh đất Đồng Nai. Nhưng văn hóa Chăm thì in đậm dấu ấn của nó trong sinh hoạt văn hóa của cư dân Việt. Nó lắng sâu trong tâm thức và thể hiện trong đời sống hàng ngày, từ lễ thức gắn với đời người đến sinh hoạt cộng đồng, gia đình và xã hội. Có thể nó thâm nhập vào tâm linh cư dân Việt với “chiếc áo khoác” của tín ngưỡng cư dân Việt ở Trung bộ, Nhánh xương rồng giữ cửa cho sản phụ chỉ có thể xuất phát từ xứ sở của tháp Chàm. Tục Nằm lửa của sản phụ và chiếc  vỏ lửa  làm dấu hiệu mà Trịnh Hoài Đức đã không nêu rõ từ đâu vốn có nguồn gốc từ cổ tục của người Chăm. Người Chăm theo mẫu hệ nên  đầu củi cháy quay vào trong là dấu hiệu sinh con gái,  còn cư dân Việt thì ngược lại. Tương tự, có thể truy nguyên ra bóng dáng của tín ngưỡng Chăm qua hàng loạt sinh hoạt tín ngưỡng như: Cúng tá thổ, thờ cúng Thiên Y A Na Ngọc Diễn phi, thờ cúng cá Ông. Rõ nhất là vũ điệu “múa bóng dâng bà” của xứ sở Chăm đã được tích hợp trong Hát bóng rỗi; vị thần mang lý lịch Chăm Maha Khẩn (Cẩn) lại thường được mời gọi trang trọng ở các lễ hội đình, miễu và luôn có vị thế ngang hàng với các vị thần phối tự khác. Yếu tố Chăm hòa nhập vào tín ngưỡng cư dân Việt bền chặt đến nỗi khó có thể bóc tách ra thành một lớp văn hóa thuần chất. Chính những yếu tố Chăm này đã làm cho tín ngưỡng của cư dân Việt ở Đồng Nai nhiều mẫu sắc, hơn thế nữa, nó tạo nhịp cầu cho tâm linh của cư dân Việt gắn kết với Đất và Người ở Đồng Nai. Yếu tố bổn địa xuất hiện trong tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai không phải là phép cộng mà là một sự hòa nhập, cuối cùng tạo ra một kết quả không chỉ có lợi riêng cho phía cư dân Việt.

            Cư dân Việt ở Đồng Nai đối với văn hóa bổn địa không phải bằng thái độ của kẻ chiến thắng,  mà là bằng tâm thế cuả người chủ mới  biết ơn, thủy chung, rộng mở với các chủ nhân vô danh. Đĩa rau luộc – chén mắm nêm, mâm cúng đất đai, bánh cúng bánh cấp trong lễ thí thực, cổ tục  cúng Tá thổ ở vườn ruộng… đó là những nghía cử trong tín ngưỡng của cư dân Việt thể hiện lòng thành của mình đối với người bản địa, chính nó tạo ra sự chung sống hòa bình chứ không phải xung đột.

            4. Các yếu tố Việt – Hoa – Chăm – Khơmer  có sự sống hòa hợp tạo thành sự “ cân bằng sinh thái tâm linh” trong tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt, trong đó, yếu tố tín ngưỡng dân gian truyền thống của dân tộc Việt là cái trục, là cốt lõi  của sự vận hành, phát triển. Nhưng sự vận hành, phát triển ấy không phải tự thân, một chiều  mà diễn ra trong  ảnh hưởng chi phối của tam giáo: Phật, Nho, Lão.

             Tín ngưỡng dân gian truyền thống của cư dân Việt cũng như của người Hoa vốn đã có ảnh hưởng của tam giáo và định hình trong đời sống tinh thần của cư dân Việt từ lâu đời. Đến vùng đất mới, Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo lại tạo cơ sở mới bám rễ trong đời sống tâm linh của cư dân Việt, qua đó có sự ảnh hưởng qua lại giữa tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng tôn giáo.

            Phật giáo gần như là tôn giáo chính của cư dân Việt, có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong tín ngưỡng dân gian. Đạo Phật du nhập vào Nam bộ khá sớm, trung tâm ban đầu là Đồng Nai – Gia Định, từ đó làm bàn đạp đưa Phật giáo tiến dần vào Nam bộ và ngày càng đóng vai trò quan trọng ở vùng đất mới. Theo Trần Hồng Liên, Phật giáo truyền thừa vào Đồng Nai bằng nhiều con đường:  Một  bộ phận từ Thuận Quảng vào  với dòng Phật giáo không còn nét chính thống, một bộ phận từ các thiền sư Trung Hoa đến lưu trú và hành đạo tại Trung bộ, Nam bộ  chủ yếu thuộc hệ phái Lâm Tế dòng Bổn Ngươn, nhưng dòng Phật giáo Trung Hoa này nhanh chóng  được Việt hóa qua ảnh hưởng của các thiền sư Nam bộ như Thành Đẳng, Phật ý, Tổ Tông, hải Tịnh; một bộ phận khác do các thiền sư Trung Hoa theo chân người Hoa nhập cư vào Nam bộ với dòng đạo Minh Sư, tiền thân của Thiền giáo Thiên Thai sau này. Các dòng Phật giáo chủ yếu nêu trên đến Đồng Nai có xuất phát điểm khác nhau nhưng cùng chung số phận đặc biệt là: Thành phần dân dã, thuộc tầng lớp nghèo, thân phận phiêu tán… cho nên dễ đồng cảm với cư dân Việt, dễ hòa vào dòng mạch tín ngưỡng dân gian. Giáo lý của Phật giáo nhằm giải thoát chúng sinh cho nên đồng hành với người cùng khổ; nhưng cư dân Việt ở Đồng Nai dường như chỉ dung nạp “tâm Phật” của Phật giáo chứ ít chìm đắm vào thiên la địa võng của giáo lý và con đường tu tập khổ hạnh. Phật Thích Ca cao vời quá, người ta kính lạy ở chùa nhưng ít quen thân. Quan Âm chỉ là hàng Bồ tát nhưng có chức năng “xóa đói giảm nghèo” nên gắn với tín ngưỡng dân gian hơn, được thờ chủ yếu ở nhà, ở chùa, ở đình miễu. Nghi thức Phật giáo được vận dụng trong việc thờ cúng của cư dân Việt: cầu siêu ở đám tang, chay đàn thí thực, cúng cô hồn, cúng lễ ngày sóc – vọng hàng tháng, thậm chí sư ni cũng tham gia cúng lễ cầu an ở đình, miễu trước khi tiến hành lễ Đàn cả. Tính tích cực xã hội đậm màu sắc dân dã của cư dân Việt, đồng hành với ý nguyện hướng thiện cầu an, tôn kính ông bà, hiếu thảo với cha mẹ, cư xử tốt với mọi người vốn là truyền thống tốt đẹp của cộng đồng dân tộc Việt Nam (cũng là đạo lý của Nho gia) khiến cho khó có thể phân định được nguồn gốc tín ngưỡng dân gian hay tín ngưỡng Phật giáo – Nho giáo. Mặt khác, chính nhờ nhanh chóng hòa vào dòng mạch tín ngưỡng dân gian, thậm chí bằng con đường tín ngưỡng dân gian mà Phật giáo bám dễ trong tâm linh của cư dân Việt. Những huyền tích về các ngôi chùa, tích Phật Mục Kiền Liên – Thành Đề, Phật thoại về kết quả tu hành của Thủ Huồng… đều được cổ tích hóa theo con đường tín ngưỡng dân gian. Cho nên tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng Phật giáo gắn kết với nhau trong quá trình phát triển xã hội, ngay cả khi đương đầu với thế lực mới là thực dân Pháp. Khi người Pháp giữ quyền cai trị, Nho giáo bị phân hóa và khủng hoảng thì tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng Phật giáo vẫn chung một trận tuyến đứng về phía dân tộc, thậm chí còn là bệ đỡ tinh thần cho các sĩ phu yêu nước.

            Nho giáo – Đạo Khổng tử ít tính chất tôn giáo nhưng lại có quyền lực thực tế qua bộ máy thống trị của triều đình phong kiến. Ngoài những phẩm chất của Nho giáo đã thấm sâu vào đời sống của người Việt từ lâu đời, Nho giáo đến với vùng đất mới còn tác động đến tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai bằng hai con đường chủ yếu: Tư tưởng chính thống qua bộ máy hành chính và tri thức của nho sĩ bình dân.

            Ở Đồng Nai, bộ máy hành chính ra đời muộn hơn sự hình thành cộng đồng dân cư ít nhất hơn 20 năm. Cho nên tư tưởng chính thống được tái lập trong tâm lý cư dân Việt đương nhiên là  hậu sinh so với tín ngưỡng dân gian. Gọi là tái lập vì tư tưởng chính thống vốn đã có cội rễ ở cư dân Việt từ xa xưa, nhưng người Việt đến Đồng Nai từ thế kỷ XVII-XVIII tạm thời thoát ly guồng máy ấy trong thời gian khá dài, đủ vốn sống đế thận trọng và dè dặt khi tái nhận nó qua sự áp đặt của bộ máy cai trị.

            Cho nên ở Đồng Nai, tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt có cội rễ bền vững hơn tư tưởng Nho giáo. Thậm chí nhiều lúc, nó đã chiến thắng. Cái chết của tướng Lê Văn Lễ và “sự sống” của Cô Bóng Hiên là một thí dụ. Một thí dụ nữa có thể lấy từ bản ghi chép của Trịnh Hoài Đức,  rằng: Chánh thống suất Nguyễn Cửu Vân đã phải “mặc niệm cầu đảo” trước ngôi đền cổ của người địa phương mới thoát được tình thế nguy hiểm. Tuy nhiên với quyền lực thống trị, triều Nguyễn vẫn nén được tư tưởng chính thống vào tín ngưỡng dân gian bằng cách sắc phong cho Thành Hoàng, định điển lệ, ban hành nghi thức tế lễ, thờ cúng ở làng xã. Theo đó, nghi lễ thờ cúng ở Đồng Nai đi vào khuôn phép, phân rõ thứ  bậc, tôn ti. Tín ngưỡng dân gian đã phục tùng chữ “Lễ” của Nho giáo. Nhưng chính Nho giáo cũng phải thừa nhận thần linh trong tín ngưỡng dân gian. Nếu Khổng Tử chưa chính thức thừa nhận quỷ thần thì các Chúa Nguyễn, từ Nguyễn Hoàng trở đi  đều tiếp nhận và huy động các thần linh của dân gianvào việc vun đắp và bảo vệ sự nghiệp của mình. do đó mà nhiều thần linh như  thần nữ áo xanh, thần rái cá… đều có thần tích gắn với việc tôn vinh nhà Nguyễn.

            Đến thời Tự Đức, việc phong Thành Hoàng hàng loạt cho đình làng Nam bộ nhằm tập hợp thần linh địa phương xung quanh quyền lực “thiên tử” đã không ngăn chặn đường tàu đồng đại bác, nhưng ít nhất cũng đã tạo được hàng rào tinh thần ở nông thôn làm cản trở ý đồ thôn tính Nam bộ của thực dân Pháp.

            Nho giáo bằng con đường của các sĩ tử bình dân đến với tín ngưỡng dân gian êm dịu hơn. Đó là những quan niệm về đạo lý làm người đã đặc điểm hiện thực hóa trong cuộc sống mẫu mực của các nho sĩ, đặc điểm công chúng tiếp nhận nạp vào hệ giá trị của mình rồi tái hiện trong các sinh hoạt hàng ngày cũng như trong sinh hoạt văn hóa – tín ngưỡng dân gian, lâu dần thành tài sản chung của cộng đồng. Khi quyền lực của triều đình Huế suy yếu, nhất là khi họ cắt ba tỉnh miền Đông rồi Nam kỳ lục tỉnh cho thực dân Pháp, nhiều sĩ phu yêu nước tự điều chỉnh lý tưởng Nho gia, từ giã biểu tượng “ rồng chầu ngòai Huế” mà hòa nhập với dòng mạch “ngựa tế Đồng Nai” cùng với nhân dân kháng chiến chống Pháp. Qua đó, điện thờ của đình, miễu ở Đồng Nai cũng như ở Nam bộ bổ sung những nhân thần mang lý tưởng “vị quốc vong thân” của Nho giáo. Nhờ hòa nhập vào dòng mạch dân gian, dù thể chế đã suy tàn rồi mất hẳn trong xã hội Au hóa, giá trị của Nho giáo vẫn còn tác dụng trong đời sống xã hội. Ngược lại, trong khuôn phép của Nho giáo, tín ngưỡng dân gian được hệ thống và có chỗ dựa để tồn tại lâu dài.

            Đạo giáo ở Đồng Nai không có hệ thống cơ sở thờ cúng như nhiều nơi khác nhưng ảnh hưởng của nó rất sâu rộng trong đời sống người Đồng Nai. Trò đồng bóng người Việt ở Đồng Nai – Gia Định rất tin chuộng mà Trịnh Hoài Đức nhắc đến trong Gia Định Thành thông chí có lễ là một dạng biểu hiện của Đạo giáo. Trước đó nữa, Đạo giáo phát triển ảnh hưởng sâu rộng đến mức Chúa Nguyễn  lập những ti trong phủ Chúa bổ dụng các thầy pháp, đạo sĩ coi sóc việc đạo, gồm cả hai phái: Pháp lục và Đạo gian (142:56); năm 1789, Chúa Nguyễn thấy các ti này không còn phù hợp nữa đã bãi bỏ nhưng không chấm dứt được vai trò của thầy pháp, đạo sĩ trong dân gian. Anh hưởng của Đạo giáo trong dân gian rõ nhất là vai trò của thầy pháp trong thờ cúng. Họ là những “ môi giới” giữa cõi người và cõi âm, có pháp thuật điều khiển âm binh âm tướng, chuyển nhận thông tin từ cõi âm đến cõi người và ngược lại. Ơ những lễ cúng: Tá thổ, cúng thế, động thổ, tống phong… thầy pháp là nhân vật chính; thầy pháp còn phối hợp cùng  thầy chùa điều hành các lễ cúng cô hồn, thí thực ở đình, chùa. Do nhu cầu thực tế, trong các làng thường có một vài thầy pháp chuyên nghiệp lo việc cầu cúng.

Bóng dáng của Đạo giáo còn thể hiện ở tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt qua các vi hành binh, hành khiến luân phiên cai quản cõi người trong năm, hoặc cặc ma thuật trối yếm, bùa chú... trong sinh hoạt thường ngày. Có thể nói, ảnh hưởng của Đạo giáo tuy không có chiều sâu trong nhận thức nhưng phổ biến trong sinh hoạt tín ngưỡng của dân gian.

Tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai không có hệ thống lý luận hoàn chỉnh về vũ trụ quan, nhân sinh quan, thế giới quan; ảnh hưởng của các tôn giáo đã bù đắp cho khoảng trống vắng đó. Các tâm của Phật, cái lễ của Nho và ma thuật của Đạo đã tác động làm phức tạp hóa sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng dân gian; đồng thời chính nó cũng bi thu hút trong quá trình dân gian hóa khiến cho các hình thức biểu hiện của tôn  giáo cũng nương theo dòng mạch của tín ngưỡng dân gian.

Nói đến cặc yếu tố ảnh hưởng đến sinh hoạt văn hóa- tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai, không thể không kể đến Thiên Chúa giáo và văn minh Âu Tây. Thiên Chúa giáo gia nhập muộn, sự xuất hiện của nó gây lo âu cho tinh thần dân tộc, khiến tín ngưỡng dân gian và Tôn giáo nhích lại gần nhau hơn, có bước tự điều chỉnh để cùng ứng biến với vị thần dị tộc đang được chính quyền Pháp, Mỹ ưu ái.

Sự thống trị của thực dân Pháp rồi đế quốc Mỹ tạo ra sự đứt gãy, chia cắt tín ngưỡng dân gian với thiết chế chính thống của Nho giáo. Thần linh của cư dân Việt lại quay về vị thế dân dã, vừa gánh chịu đạn bom, vừa bị tổn thất do Nho học suy tàn. Thêm một vết gãy nữa khi chín nam trường kỳ chống Pháp, nhân dân thực hiện tiêu thổ kháng chiến, trú sở của thần linh bị đột phá, tín ngưỡng dân gian bị đưa ra khỏi hệ thống mới. Những sinh hoạt văn hóa – tín ngưỡng dân gian hiện tồn chẳng qua là sự khôi phục không đầy đủ sau nhiều chục năm đứt gãy. Càng phải thừa nhận rằng, văn minh Âu Tây có khoa học và kỹ thuật hiện đại ngoài việc đẩy lùi tín ngưỡng dân gian vào quá khứ, càng có tác dụng làm cho cư dân Việt thức tỉnh, tìm cách dung hợp cái mới, cải biến sinh hoạt của mình cho phù hợp với nhịp sống mới. Như vậy, những yếu tố phi lý, hoang đường bị loại dần, còn lại là cốt lõi của niềm tin và ''cái lý'' dễ chấp nhận.

Rõ ràng, những sinh hoạt và hóa - tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai không phải tự nhiên có hay sẵn có mà là quá tình hình thành từ sự tích hợp của nhiều nhân tố. Việt - Hoa - bổn địa trong sự tác động của tôm giáo và các nhân tố ngoại lai khiến cho sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai có nhiều màu sắc, đa hệ,  hòa hợp được với các hệ văn hóa khác nhau mà không đánh mất cắt lõi của mình.

II. Những đặc điểm đáng lưu ý

            Do nguồn gốc hình thành và những quan hệ tác động đến nó, sinh hoạt văn hóa – tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai bộc lộ nhiều đặc điểm; ở đây, chỉ xin nêu những đặc điểm quan trọng có liên quan mật thiết đến đời  sống kinh tế - xã hội ở địa phương.

1. Trước hết, sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai mang tính  hỗn dung, hay nói cách khác là đa hệ trong cơ cấu cũng như trong biểu hiện. Đây không phải là đặc tính riêng của cư dân Việt ở Đồng Nai, nhưng nó thể hiện ở Đồng Nai rất đậm nét. Cơ sở kinh tế - xã hội của nó là nền nông nghiệp đa hệ sinh thái: Biển sông rạch - vườn ruộng bán sơn địa  với nền thương nghiệp phắt triển khá sớm. Cho nên, các chủ thể tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt gồm đa thành phần, trong đó tầng lớp thương nhân và thị dân đóng vai trò quan trọng. Tất cả đều hướng lòng tin vào thần linh phù hợp với vị thế của tầng lớp mình rồi lại vươn đến hình ảnh chung  nhất của cộng đông. Ví dụ, về phần Đất chẳng hạn, từ một vị thần  chung chung phân hóa thành nhiều vị thần khác vị thần chung chung phân hóa thành nhiều vị thần khác nhau có chức năng liên quan đến đất, rồi lại tích hợp thành một bộ ''ông Địa - Thần Tài''  hợp  tình với cả nông dân, thương nhân và thị dân; thậm chí có sức thuyết phục cả giáo dân. Dường như, bất cứ sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng dân gian nào của cư dân Việt ở Đồng Nai cũng biểu hiện tính đa hệ ở cả ba mặt: Nguồn gốc hình thành, cơ  cấu bên trong và biểu hiện bên ngoài. Chỉ riêng việc “nằm lửa” của       sản phụ cũng đã thấy các hệ tín ngưỡng Hoa – Việt – Chăm đan xen, hội nhập và cùng biểu hiện.

Đa hệ, hỗn dung nhưng không hỗn tạp, bởi cặc nhân tố hợp thành tín ngưỡng dân gian chẳng phải theo phé cộng đơn thuần mà là sự tích hợp có hệ thống. Xét ở mặt nào thì hệ thống ấy cũng bền chặt; tín ngưỡng dân gian trọn vẹn với: Vòng đời  người - cộng đồng gia đìnhcộng đồng xã hội, bao quát ở các cõi: Trời - Người - Đất, trải rộng ở các vùng: Sông nước - vườn ruộng - rừng núi, gồm các hệ tín ngưỡng: Truyền thống - ngoại nhập bổn  địa với hệ thần linh gồm các dạng: ông bà (tổ tiên) nhân thần - thiên thần, có giới tính: Nam - trung tính - nữ, và tên tuổi: Hữu danh - ý niệm chung - vô danh, dưới hình thức: Riêng lẻ - cặp đôi - bộ (gồm nhiều vị), thuộc các loại: Chính thống - nửa chính thống - dân dã, có quan hệ tiếp biến với: Nho giáo - Phật giáo - Đạo giáo, được phân bố vị trí thờ cúng hài hòa giữa trung tâm với trái - phái, trước- sau, trong - ngoài, trên - dưới... nó bền chặt đến mức nếu có nhân tố gia nhập mới thì đó chỉ là sự hòa nhập, thêm vào chứ không phải là sự thay thế hoặc thay đổi cơ chế. Nhưng nó không khép kín, không bảo thủ, mà chính sự đa hệ, đa dạng đã tạo ra khả năng nhạy thích ứng, dễ “làm quen” với văn hóa Đông - Tây, kim - cổ... trên cơ sở giữ được truyền thống của cư dân Việt ( Từ đặc điểm này, có thể giải thích được tính quảng giáo, rộng mở, nhạy bén với cái mới nhưng không ở rời cội nguồn dân tộc của người việt ở Đồng Nai.

2. Sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai ít thần bí, sự lý giải về thần linh thường dựa vào lôgich hiện thực hơn là trí tưởng tượng thần thoại. Cho nên, các yếu tố phi lý bị giản lược, hủ tục không nhiều, thần linh có lý lịch và thần tích giản đơn, hợp lý, ít được cường điệu hoặc kỳ diệu hóa; từ đó gần gũi và thân thiết với cõi người hơn. Bà Ngũ Hành với ý niệm chung về sự vận hành của trời đất dần dần được thờ phụng phổ biến hơn các bà đầy huyền thoại khác. Thành Hoàng bổn cảnh cũng được biểu niệm chung gắn với vai trò 'bảo hộ quản đất đai '' tại chỗ hơn là việc tìm đường nối kết với thần linh ''bề trên'' bằng con đường thần thoại hóa. Tục ''hèm'' tránh sát sanh khi cúng Phi Vân tướng  quân Nguyễn Phục và những điều kiêng: Kiêng cúng Quan Công thịt gà và hơn mào gà, không cúng Võ Tánh heo quay, không cúng Tả quân Lê Văn Duyệt heo thiến… vì tế nhị chứ không phải do kiêng sợ.

Thần linh trong tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai không đối lập, cũng không cách biệt vời cõi người, nhân tính nhiều hơn thiên tính, ban phúc hơn là giáng họa, hiếm thấy tà thần, dâm thần; do vậy, người Đồng Nai đối với thần  linh bằng lòng thành tri ân hơn là sự sợ hãi, phục tùng; thậm chí thần linh còn bị con người hành hạ, phiền trách, bỡn cợt. Hình tượng, tính cách và chức năng của Ông Địa là ví dụ rõ nhất. Bởi vậy, sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai không xa cách với đời sống hiện thực, tính tích cực xã hội của nó được hiện thực hóa trong sinh hoạt xã hội rất rõ nét: nó thường nối kết giữa đời sống tâm linh và hoạt động xã hội: Mụ Vườn vừa trong vai trò thầy cúng thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng dân gian, vừa là thầy thuốc góp phần chăm lo việc sinh sản ở nông thôn khi hệ thống y tế cơ sở chư hoàn chỉnh; tục lệ về hôn nhân có cốt lõi là hợp  đồng trách nhiệm giữa đôi vợ chồng mới với gia đình hai bên và xã hội; việc tang nghiêng về ý nghĩa báo hiếm cái  chết; hội đình, hội miễu tham gia tích cực trong công tác xã  hội của làng như tang tế, bốc thuốc, dạy học, hòa giải, từ thiện... (riêng trong năm 1996, thu nhập từ lễ hội Dinh Cô đă đóng góp cho công tác xã hội ở địa phương hơn 500 triệu đồng). Sự nhích gần giữa sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng dân gian với  đời sống hiện thực  cũng sự nhích gần  giữa trú sở của thần linh với thiết chế văn hóa cơ sở.

3. Sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng dân gian của cư  dân Việt ở Đồng Nai thể hiện ý nghĩa nhân bản ở mức độ cao. Người Đồng Nai thành kính thờ phụng thần linh nhưng không lệ thuộc vào thần linh, càng không chịu đóng khung trong khuôn mẫu có sẵn. Nghi thức cúng đình thần tuân theo điển lệ nhưng thực hiện không “nghiêm túc'', như việc sử dụng cờ, lọng, lỗ bộ chẳng hạn. Triều đình Nguyễn ban hành rất nhiều qui định nhằm khuôn phép hóa việc cúng tế ở đình, nhưng ít có qui định nào được chấp hành đầy đủ; mỗi đình đều có cách làm khác đi, ở miễu càng phóng túng hơn, ở gia đình thì hoàn toàn từ tâm. Khi vương quyền Nguyễn suy yếu rồi sụp đổ, các thiết chế của phong kiến sụp đổ theo, nhưng cái đình vẫn nguyên vẹn ý nghĩa trong tín ngưỡng dân gian; đến khi thực dân Pháp rồi đế quốc Mỹ cai trị bằng một thiết chế khắc hẳn, cái đình vẫn vững gốc mặc dù vỏ vật chất của nó bị tổn hại nặng nề.

Với số nữ thần được thờ cúng đa dạng, đa hệ; tính nhân bản trong tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai bộc lộ rõ nhất. Những nữ thần của khắp ba miền đất nước gần như hội nhập đủ mặt và khuếch đại uy lực ở Đồng Nai, nó thâm nhập vào thần điện của đình, chùa; lôi kéo cả nữ thần của Phật giáo, Thiên Chúa giáo, thậm ch lấn át cả nam thần. Qua kết quả nghiên cứu địa bạ của Nguyễn Đình Đầu, chúng ta đã thấy vai trò đặc biệt của phụ nữ Biên Hòa trong chủ quyền đất đai thì cũng sẽ dễ thấy vị thế tương tự của họ ở đình làng - vốn  là thế giới của nam quyền. Ngoài các thánh mẫu thừơng phải dự phần, nhiều đình ở Đồng Nai còn có bàn thờ ''Tiên đại phụ nhân”, với nghi thức thờ cúng vượt khỏi tục giỗ hậu thông thường. Khi có một hệ thống nữ thần đầy uy lực trong tâm tưởng, sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai không chìm đắm trong khuôn khổ Nho giáo, không bị ràng buộc trong các nghi thức cổ hủ rườm rà; đã sàng lọc, loại bỏ nhiều yếu tố phi nhân bản. Cho dù có thay đổi như thế nào thì nhân tố con người vẫn là hạ nhân giữ vai trò chủ thể trong tín ngưỡng chứ không phải thần linh hay áp lực nào khác.

4. Do hình thành muộn và bị đứt gãy bởi nhiều biến cố lịch sử, sinh hoạt văn hóa – tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai hiện tồn tại trong mâu thuẫn giữa miền  tin tri thức. Niềm tin ở tín ngưỡng dân gian còn cội rễ trong lòng người nhưng tri thức về nó đã rơi rụng nhiều dẫn đến sai lạc, chắp vá và sự phục hồi tùy tiện, thậm chí trăm với bản  tính ban đầu. Hiện tượng tâm lý ''có thờ có thiêng', ''tứ tung linh tàng'' đang phổ biến. Đó là mảnh đất hoang để những kẻ vụ lợi gieo cấy mầm mống có hại. Việc phục cổ một cách máy móc và hành vi mua thần bán thánh tinh vi cũng có nguồn gốc từ đây. Tín ngưỡng có lòng tin mà thiếu hiểu biết rất dễ đồng hành với mê tín, dị đoan.

5. Sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai là một hiện tượng  thực tế không thể phủ nhận được. Nó đã từng là “ món ăn  tinh thần'' để người Việt ở Đồng Nai hình thành, phát triển, vượt qua gian khổ, chiến tranh; và nay tiếp tục gắn với đời sống tinh thần của con người trên bước đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Dù muốn hay không muốn thì vai trò, ý nghĩa của sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng dân gian vẫn tác động đến công cuộc xây dựng và phát triển xã hội. Hiệu quả tác động thế nào tùy thuộc vào thể  chế xã hội  ứng xử với nó. Nếu biế nuôi dưỡng, dẫn dắt, khai thác và cải biến ''hạt nhân hợp lý trong nó'' thì có thể hướng tín ngưỡng dân gian đi vào mục tiêu nhân văn, xây dựng được  xã hội bình ổn đậm đà bản  sắc dân tộc. Ngược lại, nếu phủ nhận hoặc bỏ rơi tín ngưỡng dân gian trong quá trình xây dựng và phát  triển thì niềm tin của con người sẽ bị tổn thương, “phần  xác'' có thể đồ sộ nhưng “phần hồn”, dễ trống rỗng. Thục ra, tâm linh con người không thể trống rỗng. Khi chân lý khoa học chưa chiếm lĩnh hoàn toàn trọng tâm thức, nếu thần linh đã rời xa thì “quỉ sứ'' sẽ chui vào, rồi sự phá hoại sẽ thay chỗ của tín ngưỡng khuyến thiện.

III. Kiến nghị

Cái gì thuộc về con người thì không thể xa lạ với đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước, sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai là một mặt quan trọng trong đời sống tinh thần của con người, cần được Đảng và Nhà nước quan tâm đến như là một thành tố quan trọng trong ''chiến lược con người''.

1. Trước hết phải thừa nhận sự tồn tại mang tính lịch sử cụ thể và vai trò, ý nghĩa của tín nguững dân gian trong đời sống xã hội; cốt lõi của nó là: Niềm tin và khát vọng bình an của con người gởi gắm vào các biểu tượng  nằm ngoài con người. Biểu tượng cụ thể có thể thay đổi, tùy thuộc vào trình độ phát triển của xã hội, nhưng lòng tin và khát vọng thì luôn luôn sống cùng con người, nó tham gia vào việc hình thành các chuẩn mực, nhân cách và qui định các ứng xử xã hội. Nói như GS TS Tô Ngọc Thanh, niềm tin mang tín ngưỡng dân gian có tính hợp lý của nó, ở chỗ “nó chứng minh cho sự tồn tại của một đời sống tâm linh như là một cứu cánh, một chỗ dựa tinh thần, một hạt nhân cố kết xã hội của cha ông”.

Tín ngưỡng dân gian là hiện tượng xã hội không thể giải thích chỉ bằng công thức khoa học và kiểu tư duy duy lý còn phải bằng sự trải nghiệm thực tế và sự cộng cảm của trái tim nhân văn. Cho nên, khi đặt vấn đề “chiến lược con người”, những gì con người mang theo trong đầu, trong tim, không thể gạt ra mà phải tìm hiểu thấu đáo, nghiên cứu đầy đủ, thậm chí còn phải trân trọng giữ gìn. Hiện nay, kế hoạch xây dựng và phát triển vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đang triển khai nhiều chương trình kinh tế – xã hội qui mô lớn, trong đó chưa thấy tính đến sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng dân gian của người địa phương. Điện đã sáng ngời nông thôn nhưng những ẩn uất về hài cốt ở lòng hồ Trị An vẫn chưa ta; đó là bài học nhắc nhở về nhận thức và sự quan tâm đối với tín ngưỡng dân gian trong xây dựng và phát triển. Thiết nghĩ, trong việc quy hoạch xây dựng các mô hình kinh tế – xã hội, cần thiết phải có sự qui hoạch về nơi và cách sinh hoạt tín ngưỡng dân gian phù hợp với thực tế. Đài tưởng niệm Bến Dược ( Củ Chi) là thí dụ về một kiểu sinh hoạt hợp lòng dân cần được phổ biến.

2. Sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng dân gian à một sự tồn tại thực tế. Mọi sự tồn  tại thực tế đều không thể nằm  ngoài phạm vi điều chỉnh của pháp luật. Các triều đại phong kiến đều lưu ý đến việc thể chế hóa tín ngưỡng dân gian. Với việc “phong thần”, ban hành điều lệ và nhiều qui định pháp luật khác, các vua chúa nhà Nguyễn đã khôn ngoan mượn danh thần linh để cai trị, dựa vào tín ngưỡng dân gian để vun đắp cho quyền lực của mình. Nhà nước ta khác hẳn nhà nước phong kiến về bản chất và mục đích nhưng cách ứng xử với tín ngưỡng dân gian của nhà nước phong kiến không phải là không đáng để lưu ý. Nhà nước ta đang chuẩn bị ban hành pháp lệnh về tôn giáo và tín ngưỡng, pháp lệnh ấy cần thiết bao hàm cả tín ngưỡng dân gian. Cần có hành lang pháp luật rộng mở và rõ ràng để những sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng dân gian có ranh giới cụ thể. Pháp lệnh về bảo vệ di tích văn hóa đã lỗi thời kém hiệu lực và phạm vi điều chỉnh của nó hẹp hơn thực tế. Qui chế về lễ hội của Bộ Văn hóa chỉ mới điều chỉnh phần biểu hiện bên ngoài chưa tác động vào cơ chế bên trong của lễ hội. Ơ địa phương, chỉ có hoạt động của tôn giáo mới thuộc đối tượng quản ný của Ban Tôn giáo, tín ngưỡng dân gian thuộc hệ ''vận động'' của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp; còn bộ máy chính quyền các cơ sở thì mù mờ về luật lệ và  ở lĩnh vực này. Do vậy, tín ngưỡng dân gian gần như còn nằm ngoài vòng điều chỉnh và bảo hộ của pháp luật. Những hiện trạng xúc phạm đến mồ mả, tổ tiên, thần thánh, cơ sở tín ngưỡng dân gian... hiện chỉ được điều chỉnh bởi chế định ngang bằng với sự vi phạm hành chính thì quả là tổn thương cho đời sống tinh thần của dân gian. Lăng mộ của danh nhân Trịnh Hoài Đức bị xâm hại, gây uế tạp mà pháp luật chưa điều chỉnh nổi thì các giá trị tinh thần khác cũng có thể bị đe dọa. Và không chỉ là vấn đề hành lang pháp lý, còn là vấn đề nghiên cứu, gạn lọc trong tín những dân gian những gía trị nhân văn để kế thừa, phát triển thành hệ thống giá trị văn hóa dân tộc tham gia và việc hình thành nhân cách và tập quán tốt đẹp cho xã hội. Ví dụ, những hạt nhân cốt lõi  trong tín ngưỡng dân gian như : Truyền thống thờ phụng ông bà, tổ tiên; lòng biết ơn, thủy chung đối với  mọi yếu tố liên quan đến việc hình thành phát triến cộng đồng; thái độ nhân ái, quan tâm đến sự sống của mọi người... đó là những giá trị kết đọng trong tín ngưỡng dân gian cần  được duy trì và phát triển thành giá trị xă hội. Hiện nay, giữa thuần phong mỹ tục và mê tín dì đoan đang ''lẫn lộn vàng thau'' trong chiếc áo khoác “phóng tục cổ truyền''  chính là bởi hành lang pháp lý cũng như hệ chuẩn giá trị của tín ngưỡng dân gian chưa được xác định rõ.

3. Niềm tin trong tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai còn cội rễ bền vững nhưng tri thức về nó đã thất tán; vả lại, vũ trụ quan, thế giới quan và nhân sinh quan của tín ngưỡng dân gian không có lập luận hoàn chỉnh cho nên niềm tin dễ bị dẫn dắt đi lạc lối. Dường như đang có mọt cuộc ngầm cạnh tranh chiếm lĩnh tâm linh giữa nhiều thế lực, tất cả đều đang triển khai lực lượng ở “trận địa niềm tin'' này. Các tôn giáo lớn đều đã có chương trình 'lan tỏa'' cụ thể. Bọn buôn thần bán thánh biết cách đầu tư kiếm lợi ở đây. Chiến lược “diễn biến hòa bình'' cũng khai thác triệt để ở lĩnh vực này. Thần linh của người Hoa cũng vậy, đang dần chiếm lĩnh thần điện dân gian, nhiều khi bằng những giải pháp rất đơn giản; ví dụ: Cốt tượng  Cửu Thiên Huyền Nữ và  Thiên Hậu được sản xuất hàng loạt, giá rẻ, tiện dụng, thoắt chốc tràn ngập cac đình, chùa, miễu và bàn thờ tại gia, không bao lâu nữa sẽ khuất lấp các nữ thần khác. Hình như, chỉ có Nhà nước ta là chưa có “chiến lược”  cụ thể đối với tín ngưỡng dân gian. Đáng lẽ Nhà nước có nhiều ưu thế nhất trong việc tác động, cải biến, hướng dẫn sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng dân gian đi đến mục tiêu nhân văn, văn hóa. Ngoài việc sử dụng công cụ pháp luật một cách chủ động, Nhà nước còn có thể có các chương trình tái tạo tri thức tín ngưỡng dân gian lành mạnh cho công chúng, thêm dần vào đó những tri thức mới; ưu đãi những sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng dân gian mang bản sắc  dân tộc; dần dần  cải biến trú sở của thần linh thành cơ sở văn hóa lành mạnh; dung nạp đình, chùa, miễu vào thiết chế văn hóa cơ sở; vừa khai thác tính tích cục xã hội của nó vừa tạo môi trường để tự nó loại dần các hủ tục, mê tín, dị đoan. Tùy theo hình thức sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng dân gian cụ thể mà có biện pháp thích ứng. Ví như việc tang chẳng hạn, cốt lõi hiếu thảo và “bảo hiếm về cái chết'' mang ý nghĩa nhân văn cần giữ nhưng các tục cúng bái lãng phí cùng hình thức tang lễ , rườm rà, nặng nề cần cải biến cho giản tiện và vệ sinh. Địa  táng là kiểu an táng lỗi thời nhưng đó là tục cổ truyền đã ăn sâu vào tập quán của công chúng nên việc cải tạo nó không phải giản đơn, cần có biện pháp khéo léo chuyển dần từ địa táng sang hỏa táng mà không xâm hại đến ý  nghĩa cốt lõi của việc tang cổ truyền. Về cơ sở đình miễu cũng vậy; trong khi ở nông thôn cơ sở văn hóa thông tin  chưa hoàn thiện còn nội dung sinh hoạt của đình, miễu  đang nghèo nàn cần có sinh khí mới; nếu có chương trình  thích hợp, đình, miễu có thể trở thành cơ sở sinh hoạt văn hóa xã hội ở nông thôn. Thực tế, ở Đồng Nai, đây đó đã xuất hiện nhiều đình, miễu ngày thường trở thành nơi xóa  mù chữ, khám chữa bệnh miễn phí, hội trường sinh hoạt  của các đoàn thể, nơi tập dưỡng sinh của người già, tụ điểm văn hóa để diễn văn nghệ, truyền đạt thông tin... .Nhưng đấy mới chỉ là những sinh hoạt tự phát, chưa thành chương trình có mục tiêu rõ rệt. Những ý kiến nêu trên chỉ mới xuất phát từ góc nhìn tín ngưỡng dân gian, còn nặng cảm  tính nhưng thảy đều bắt nguồn từ cuộc sống cho nên nó có ý nghĩa thực tế.


 

                                                                        Tiến sĩ Huỳnh Văn Tới

Comments