10. Đền Hùng Vương Biên Hòa với tục thờ cúng tổ tiên

Trên trục lộ 15 hướng về Tam Hòa, qua khỏi trường phổ thông trung học Tam Hiệp khoảng 200 m, nhìn về phía tay phải sẽ thấy cổng đền đề biển: ''Đền Hùng Vương”.

Đền Hùng Vương cách vùng đất Tổ gần hai nghìn cây số! Điều nay không lạ vì đây là biểu hiện đặc sắc văn hóa cổ truyền của Việt Nam, gắn liền với tục thờ cúng tổ tiên của người Việt. Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nói: Dân tộc Việt Nam có truyền thống tốt đẹp không phải quốc gia nào cũng có được là biết tôn kính, thờ cúng tổ tiên, uống nước nhớ nguồn..

Chim có tổ, người có tông. Mọi người Việt Nam nhìn nhận mình là con cháu vua Hùng. Dù đi đâu, ở đâu, làm gì... tấm lòng người Việt luôn hướng về cội nguồn. Tâm niệm về con Hồng cháu Lạc liền mạch chảy suốt qua bao vùng, miền, bao thế hệ.

Ấy là nhân tố tạo nên sức mạnh tinh thần bất diệt, tạo nên truyền thống đoàn kết dân tộc, tình nghĩa đồng bào, và trở thành lực lượng vật chất đánh bại các mưu toan xâm lược chia cắt đất nước ta, dân tộc ta. Có lúc kẻ thù ngoại bang đã chiếm được kinh thành và ngai vàng của vua nước ta, nhưng không thắng được nhân dân Việt Nam là do vậy.

Từ lâu đời, dân gian truyền nhau câu hát:

Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba
Khắp miền truyền mãi câu ca
Nước non vẫn nước non nhà nghìn năm.

Giỗ tổ Hùng Vương vào trung tuần tháng ba âm lịch hàng năm là ngày hội để nhân dân cả nước tỏ lòng tô kính đối vời tổ tiên, hướng cội nguồn, sum vầy cùng nhau trên đất tổ. Nhưng do  điều kiện làm ăn sinh sống ở phương xa, ngăn sông cách núi không về được, người Việt nghĩ cách lập đền thờ vọng. Đền thờ vọng cũng phỏng theo các nghi thức cổ truyền 'ở đền Hùng đất tổ nhằm để con cháu vua Hùng bày tỏ nỗi niềm: Xa mặt nhưng khôn cách lòng.

Tài liệu Sở Văn hóa - Thông tin Vĩnh Phú cho biết riêng ở Vĩnh Phú có 627 điểm thuốc 387 làng xã thờ vua Hùng và các tướng lĩnh của vua Hùng Bộ Lễ thời Lê thống kê trong sách bách thần có 1.026 đình, đền ở 944 làng xã thờ vọng Hùng Vương và các nhân vật liên quan; ở Hưng Hóa: 158, Kinh Bắc: l 12, Hải Dương: 112, Thanh Hóa: 261 , Sơn Nam: 231, Nghệ An: 70...

Với quan niệm ''Con cháu ở đâu, tổ  tiên ở đấy '', các cộng đồng Việt di cư tìm nơi sinh sống thường mang theo tổ tiên và truyền thống, phong tục của quê hương xứ sở. Lịch sử khẩn hoang ở miền Nam cho thấy, việc hình thành làng xã, các vùng cư dân ở Nam bộ muộn hơn Bắc bộ, nên đình, đền, miếu, chùa cũng được tạo lập muộn hơn. Nhưng tấm lòng đối với tổ tiên thì không bao giờ muộn màng. Do vậy mà đền thờ Hùng Vương có mặt hầu hết ở các tỉnh phía Nam.  Chưa có khảo sát cụ thể để kể hết, nhưng được biết, hiện nay ở Thành phố Hò Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Lâm Đồng, Bảo Lộc, Tiền Giang, An Giang, Hậu Giang... đều có đền thờ vọng vua Hùng, như đền thờ vua Hùng ở Thảo cầm viên - thành phố Hồ Chí Minh; đền thờ Lạc Long Quân -Âu Cơ ở Vũng Tàu... Chưa kể rất nhiều công trình văn hóa giáo dục ở nhiều nơi mang tên Hùng Vương để tường nhớ tổ tiên. Đáng nói là kiều bào Việt Nam ở Pháp, Mỹ, Srilanca công lập nơi thờ Hùng Vương, có người về nước trang trọng ''thỉnh'' chân hương ở đền Hùng đất tổ mang sang thờ để không thấy cách biệt với cội nguồn.

Riêng ở Đồng Nai. tổ tiên vẫn luôn  ngự trong lòng mỗi người. Đồng Nai được hình thành từ nhiều đợt di dân, nhiều nguồn dân cư nhưng chung một tổ tiên: Hùng Vương. Ơ huyện Thống Nhất, Tân Phú, Long Khánh, Biên Hòa, có đền hoặc điện thờ vọng Hùng Vương gắn liền với phong tục tập quán ở địa phương. Ơ Biên Hòa, ngoài đền thờ Hùng Vương ở Bình Đa, nhân dân còn tưởng nhớ tổ nên bằng những hình thức tế lễ hàng năm ở đình chùa khác như: Đình thờ Trần Hưng Đạo (Phường Tân Tiến), các chùa Bửu Phong (xã Tân Bửu)... và tại trung tâm thành phố Biên Hòa có một ngôi trường lớn vinh  dự mang tên Hùng Vương.

Đền thờ Hùng Vương Biên Hòa ở Bình Đa tuy đã tạo lập muộn nhưng không tách rời phong tục , truyền thống cổ truyền của dân tộc, mà là biểu hiện cụ thể tấm lòng và bản lĩnh của nhân dân Biên Hòa đối với tổ tiên và đồng bào cả nước.

Hàng năm, vào ngày mùng mười tháng ba, đền Hùng Vương Biên Hòa tiến hành các thỉ tục lễ tưởng nhớ công đức các Vua Hùng. Con cháu Vua Hùng không chỉ ở Biên Hòa, còn ở các nơi xa tìm về như chim gọi bầy cùng tỏ lòng tưởng nhớ và nguyện sống xứng đáng với tổ tiên.

Có “Vua Hùng” hiện diện trong tâm trí, nhân dân Biên Hòa tự hào về dòng giống, có sức mạnh tinh thần bất khuất, biết đoàn kết trong lao động và sản xuất, giữ gìn và phát huy bản sắc, bản lĩnh của dân tộc, đồng tâm nhất trí bảo vệ Tổ quốc đưa đất nước tiến lên theo con đường mà Bác Hồ và nhân dân đã lựa chọn.

Quá trình hình thành Đền Hùng Vương ở Bình Đa

Đền thờ Quốc tổ Hùng Vương tọa lạc bên quốc Lộ 15, khu phố III, phường Bình Đa, thành phố Biên Hòa, được khởi công xây dựng năm 1968, hoàn thành năm 1971, do  sáng kiến và sự vận động của 14 vị trưởng lão xã  Tam Hiệp cũ. Thoạt đầu, 14 vị trưởng lão thống nhất ý kiến, hoạch định kế hoạch, xin phép chính quyền địa phương (lúc đó là chính quyền Mỹ ngụy) được vận động nhân dân trong vùng đóng góp xây dựng đền.

Sự vận động của các vị trưởng lão được hưởng ứng. Bà con gần xa kẻ góp tiền người góp cũng sức, dựng nên ngôi đền tại quê hương. Đền rộng năm gian, mái lợp tôn, tường gạch, vôi trắng, trong điện bày bàn thờ Quốc tổ và tả ban, hữu ban. Năm 1971 đền được hoàn chỉnh, nhân dân trong vùng đến viếng. Ban Quản lý tổ chức tế lễ vào ngà mùng 10 tháng 3 hàng năm. Mặc dù chiến tranh khốc liệt, ngôi đền vẫn được nhân dân bảo vệ nguyên vẹn. Đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đền Hùng Vương được tiếp tục duy trì các hình thức hoạt động như cũ. Mỗi năm một lần, Hội đền tổ chức bầu ra Ban Quản lý. Các vị trưởng Ban Quản lý qua các nhiệm kỳ như sau:

  • 1975 – 1976: Ông Nguyễn Văn Mão 
  • 1977 – 1979: Ông Đàm Xuyến 
  • 1980 – 1981: Ông Trần Văn Phụng
  • 1982 – 1984: Ông Trịnh văn Quảng
  • 1985 – 1986: Ông Lương Đình Cù
  • 1987 – 1990: Ông Trịnh Văn Quảng
  • Từ năm 1991: Ông Nguyễn Đức Hài
Từ năm 1991, ngôi đền hư hỏng, xuống cấp; Ban Quản lý đền Hùng xét thấy cần sửa chữa, mở rộng qui mô ngôi đền để đáp ứng tín ngưỡng của nhân dân nên lập kế hoạch xin phép chính quyền địa phương được tôn tạo, trùng tu ngôi đền. Chính quyền địa phương chấp thuận, cho phép trùng tu đền Hùntheo quyết định số 435/GP - XD ngày 04/ 06/ 199 l do bà Phạm Thị Phú ký.

Căn cứ vào quyết định cho phép của chính quyền địa phương, Ban Quản lý đền Hùng mở đợt vận động trong nhân dân. Ban Quản lý nhận được sự đóng góp tự nguyện của nhân dân phường Bình Đa, Tam Hiệp, Tam Hòa, An Bình; của các tổ chức tôn giáo, cơ quan, đơn vị, nhà máy, xí nghiệp trong và ngoài tỉnh. Cuộc vận động chia làm bốn đợt, được ủng hộ bằng tiền và hiện vật: 39.023.000đ (ba mươi chín triệu không trăm hai mươi ba ngàn đồng chẵn) đã quyết toán kinh phí trùng tu: 41.283.000đ (bốn mươi mốt triệu hai trăm tám mươi ba ngàn đồng chẵn).

Khởi công xây dựng từ ngày 9 tháng 9 năm 1991đến ngày 1 tháng 4 năm 1993, công trình trùng tu đền Hùng hoàn thành các hạng mục cơ bản. Từ một ngôi đền nhỏ, đền Hùng Vương ở Bình Đa như một người đẹp được trang điểm lại: Khang trang hơn, uy nghi hơn; gồm 5 gian rộng, tổng diện tích 230 m2 vời lối kiến trúc vừa truyền thống vừa hiện đại; trụ bê tông cốt thép, khiến ngôi đền vững chãi với thời gian; mái sọc hai tầng viền cong hình mũi hài tạo dáng cổ kính đậm màu sắc mỹ thuật A Đông. Trên đỉnh đền có hình ngọc châu tỏa sáng như vờn mây chan hòa với bầu trời xanh thẳm. Phía trước là bãi sân rộng sạch sẽ, cách cổng tường gạch vững chắc mà rộng mở mang biển “Đền Hùng Vương'' chữ đỏ nổi bật trên nền vôi  trắng, sẵn sàng đón tiếp mọi người. Phía bên trái ngôi đền là cây cổ thụ bồ đề ngang tuổi với ngôi đền, suốt ngày đêm uy nghi, trầm mặc tỏa bóng mát rượi sân đền, cho những học sinh quanh vùng đến ôn bài hoặc vui chơi.

Đền Hùng Vương tuy hẹp về diện tích tổng thể nhưng rất rộng mở về lòng hiếu khách, có sự kết hợp hài hòa giữa thiên nhiên và con người; giữa cảnh và tình; giữa sự trang nghiêm và vẻ đẹp trữ tình. Ngày 10 thăng 3 năm 1993 âm lịch, ngày giỗ tổ Hùng Vương được tổ chức trọng thể, lần đầu tiên ngôi đền vừa được trùng tu đón khách thập phương, hàng ngàn lượt người đến viếng đền, có sự tham dự của quan khách chính quyền địa phương... Ngày ấy, đền Hùng đông vui, rộn ràng, thành kính, đúng nghĩa với ngày giỗ tổ tiên.

Thờ tự, tế lễ.

Đền Hùng  Vương ở Bình Đa thờ vọng Quốc tổ Hùng Vương là chính, ngoài ra còn có thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh và công đức của các vị trưởng lão khai công xây dựng đền. Nội điện gồm 5 gian. Từ ngoài hướng vào chính điện, gian bên trái để khách thập phương tọa vị, chuẩn bị tế lễ; gian bên phải là bàn thờ, bảng ghi danh công đức các vị trưởng lão đóng góp lớn cho Hội đền. Việc thờ, ghi danh công đức các vị tiền hiền ở các đình, đền, chùa miếu...là điều bình thường thể hiện truyền thống “An trái nhớ kẻ trồng cây'' của dân tộc ta. Gian chính điện được bài trí theo phong cách A Đông, giản dị mà trang nghiêm. Hai hàng bặt bửu và đôi lọng vàng long trọng mở lối đi vào điện thờ. Bàn thờ Hồ Chủ tịch đặt ở tiền điện để mọi người đều được viếng Bác trước khi vào dâng hương vua Hùng. Bác trong ảnh thờ tươi vui, thân ái, đôn hậu, vừa thánh thiện, vừa gần gũi. Việc lập bàn thờ Bác trong điện thờ Hùng Vương là hiện tượng đặc sắc biểu hiện truyền thống “Uống nước nhớ nguồn'' của nhân dân ta. Trong tâm niệm của người Biên Hòa, Quốc tổ Hùng Vương có công dựng nước; Bác Hồ là người có công dẫn đường, mở lối, lãnh đạo toàn dân đấu tranh chống ngoại xâm, xây dựng và phát triển đất nước. Công lao và đức độ của Bác Hồ xứng đáng được nhân dân đời đời tưởng nhớ như tưởng nhớ Quốc tổ.

Tại gian chính điện, một bức lam chạm trổ hình “lưỡng long tranh châu'' với đường nét tinh xảo làm tăng vẻ thiêng liêng của thần điện. Phía trên là biển đề Hùng Vương Quốc Tổ  bằng chữ Hán, nhũ vàng, nổi bật trên nền đỏ có viền vàng tạo ấn tượng thành kính đối với mọi người. Hai bên là đôi câu đối thếp vàng bằng nét chữ hoa, do cụ Nguyễn Hữu Kha sưu tầm năm Nhâm Tý:

Thập bát  tương truyền quyết tâm khai thác biên cương triệu bồi Hồng Lạc.

Tứ thiên niên kế nghiệp lịch đại hối ninh phong vũ  kiến tạo Sơn Hà.

Tạm dịch: Mười tám đời truyền ngôi, quyết lòng mở mang bờ cõi, gầy dựng giống Lạc  Hồng. Bốn nghìn năm kế nghiệp, trải bao tối sáng gió mưa, dày công kiến tạo Sơn Hà.

Điện thờ Hùng Vương đặt cao hơn nền gạch một bậc. Trên điện là tượng thờ vua hùng Vương thứ 18 (Hùng Duệ Vương) trong thế ngồi uy nghi, đĩnh đạc với gương mặt cương nghị và đôi mắt tinh anh như nhìn thấu quá khứ, hiện tại và tương lai. Đây là pho tượng sinh động được chế tác theo phiên bản từ tượng thờ chính ở đền Hùng Vương Phú Thọ, do nghệ nhân điêu khắc Đại Nguyên thực hiện từ năm 1982. Vật thờ trên thần điện gồm: Chiêng đồng, giáo đồng, nậm rượu gỗ; và các đồ gốm sứ vốn là đặc sản của Đồng Nai: Đôi ngựa chiến, đĩa  bàng thang, bát nhang, bình hoa...Các đồ dùng khác trong điện thờ chủ yếu công bằng gỗ gốm sứ, sản vật của địa phương có từ tàm lòng, bàn tay, khối óc của nhân dân. Ở gian bên trái, trên tường vôi trắng còn được trang điểm bởi bức phù điêu thạch cao do Nguyễn Đức Hài thực hiện với nhan đề ''Công đức lưu truyền,, Hùng Vương điển tích'', thể hiện chủ đề: ''Tồ quốc Việt Nam  thống nhất trong truyền thống Lạc Hùng dựng nước  và giữ nước”.

Đền thờ Hùng Vương mở cưả hàng ngày vào buổi sáng, mọi người đều có thể đến dâng hương, viếng vọng Quốc tổ. Lễ chính được cử hành trong ngày 10/3 âm lịch hàng năm,  gọi là giỗ tổ Hùng Vương. Trước ngày này, Ban Quản lý cùng các hội viên Hội đền phân công chuẩn bị mọi thứ để lễ hội diễn ra chu tất. Kinh phí lễ hội do nhân dân đóng góp bằng nhiều hình thức.  Trong ngày lễ, khách thập phương về viếng cúng rất đông. Hình thức viếng cúng tùy lòng thành tâm của mỗi người, có thể bỏ tiền vào hòm công đức, dâng hương hoa tưởng niệm... Theo thông lệ, các gia đình ở phường Tam Hòa, Bình Đa, Tam Hiệp, An Bình thường sửa soạn mâm xôi, hoa quả, bánh trái đến dâng cúng. Người ta quan niệm rằng, lễ cúng được tròn đầy thánh tổ sẽ ban phước lành. Ban Quản lý đền Hùng chịu trách nhiệm tiến hành các nghi thức tế lễ. Lễ chính có nhạc bát âm dìu dặt; trống đại trống tiểu điểm nhịp nhặt khoan. Các lễ sinh được chọn từ những người có uy tín trong vùng mặc lễ phục cung kính dâng hương, trà, tửu theo tấu nhạc lễ. Trước khi dâng cúng Hùng Vương là lễ yết trước bàn thờ Hồ Chủ tịch. Lễ yết mang ý nghĩa xin phép Bác Hồ, cùng với Bác dâng lòng thành lên tổ tiên.

Tiếp theo là các cá nhân, tổ chúa, hội đoàn dâng cúng theo lòng thành. Chính quyền địa phương, các đoàn thể xã hội cũng có hình thức trang trọng tham dự lễ cúng. Trong ngày nay, trẻ già, trai gái gần xa đều chung lòng, gần gũi, chan hòa với nhau, cùng hướng lòng thành về cội nguồn dân tộc và công đức của tiền nhân. Ngoài ngày giỗ tổ, đền Hùng còn tế lễ trong ngày 19/5  nhằm kỷ niệm ngày sinh của Bác Hồ. Ngày nay, nghi thức tế lễ đơn giản, trang trọng, chủ yếu là dâng hương hoa để tỏ lòng biết ơn và thương nhớ Bác Hồ.

TS Huỳnh Văn Tới

Comments