11. Tục thờ cúng nữ thần ở Đồng Nai

Tục thờ cúng nữ thần là tín ngưỡng dân gian quen thuộc của cư dân nông nghiệp ở các nước Đông Nam A; ở các nước: Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanma,Malaysia,Indonesia...đều có thờ cúng các nữ thần trên cơ sở quan niệm: Sự sinh sản của Đất - Nước Lúa gắn với biểu tượng Mẹ - Nữ thần. Tuy nhiên, mỗi cộng đồng cư dân có niềm tin và cách thờ cúng khác nhau, có quan hệ tiếp biến với nhau phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương. Cộng cư dân Việt ở Đồng Nai mới được hình thành cách đây hơn ba thế kỷ. Tục thờ cúng nữ thần gắn liền với người Việt ngay từ buồi đầu mở đất, đồng hành với quá trình phát triển của xã hội, và hiện nay trở thành hình thức tín ngưỡng sinh động, khá phổ biến ở Đồng Nai.

Đây là một mặt hệ trọng trong đời sống tinh thần của người  Việt ở Đồng Nai đáng được lưu ý. Người Việt ở Đồng Nai có nguồn gốc từ Bắc bộ, Trung bộ di cư và Nam mang theo 'bóng dáng quê hương'', cả ông bà, tổ tiên và thần thánh của mình. Đúng như PGS-PTS Ngô Đức Thịnh nhận định: Tục thờ Mẫu: “…..hình thành và định hình đầu  tiên Bắc bộ, sau đó thế chân người Việt vào phiá Nam, hòa nhập với các thần linh địa phương để rồi  tự biến đối thành các sắc thái thờ phụngđộc đáo ở Huế, ở Nam bộ…”[1]

Khảo sát thần điện thờ Nữ thần ở Đồng Nai, có thể thấy các lớp nữ thần được thờ cúng ở Đồng Nai có sự tiếp hợp nguồn  gốc bản địa và nguồn gốc Bắc nhập cư; có sự phát triển từ rời rạc vươn len mang tính “đạo thờ Mẫu”, rồi lại địa phương hóa các Mẫu được phụng thờ.

Lớp nữ thần bản địa có lẽ mang nguồn gốc tín ngưỡng của dân tộc thiểu số thuộc văn hóa Nam Trường Sơn như: Chăm, Mạ, Châu Ro, Xtiêng… Những nữ thần liên quan đến sản sinh như: đất, nước, rừng, cây lúa đều mang tính nữ là nữ thần. Gẫn gũi nhất là thần Lúa (Yangpa) như là thần Dewi Sri của Ibdonesia. Nữ thần này được người Việt tiếp thu thờ cúng và cầu nguyện trong những lễ giáp hạt, lên đồng, xuống đồng và đón lúa mới vào bồ (kho). Phải là người phụ nữ bưng thúng lúa đầu tiên đưa vào bồ mới không xâm hại đến sự sản sinh của thần Lúa. Lớp nữ thần hiện nay mờ nhạt bóng dáng, hoặc trở thành phiếm thần thờ ở các miếu nhỏ không thần tích, hoặc hội nhập vào chức năng của các nữ thần do người Việt mang theo từ cố hương.

Hệ thống nữ thần nhập cư từ miền Bắc hiện chiếm lĩnh các đền thờ nữ thần ở Đồng Nai. Nhưng đó không phải là sự sao chép nguyên bản mà có cải biến cho  phù hợp với nhận thúc và điều kiện ở quê hương mới. Mẹ Au Cơ - bà mẹ của dân tộc - được thờ vọng ở nhiều nơi. Nhưng nhiều hơn cả à Tam Tòa Thánh Mẫu hoặc Tứ phủ được thờ ở miễu, ở đền; cả ở đình, ở chùa (tiền thân hậu Mẫu). Cách bài trí điện thờ và vị trí các Mẫu không khác mấy so với nguyên gốc. Các miễu thờ Tam Tòa thường là mẫu Thiên mặc ăo đỏ ngôi giữa, mẫu Thoải áo trắng, Mẫu Thượng Ngàn áo xanh ngồi hai bên. Nếu là Tứ Phủ thì mẫu Liễu Hạnh với áo choàng đỏ sậm, trang sức rực rỡ ngự ở điện cao có màn che phủ. Lớp dưới là các cô, các cậu hầu Mẫu. Đáng chú ý là trong bảy cô được hầu điện? Cô út đen đúa, xấu nhất có lý lịch là người dân tộc và giỏi nghề đốn củi đốt than, có lẽ là nữ thần bản địa được nhập điện thờ Mẫu. Trong  hai cậu của Mẫu, có cậu Tài thường ôm con gà trống có đặc tính là ham vui, rất yêu thích và rất giỏi đá gà. Tính cách này sát hợp với người địa phương nên gần gũi mọi người.

Có lẽ tục thờ Mẫu hình thành khá hoàn chỉnh ở Bắc bộ, lại được “đạo hóa'' theo Tiên Thiên Thánh Mẫu của Huế cho nên đến Đồng Nai nó nhập điện một cách dễ dàng. Khi gặp phải dòng vãn hóa của người Hoa cũng đang muốn chiếm lĩnh tâm linh của người Việt, quá trình tiếp biến văn hóa đã biến bộ tứ (Tứ Phủ) thành bộ ngũ (Ngũ Hành). Và người Hoa đã bổ sung thần điện một nữ thần quan trọng: Bà Thiên Hậu. Ngoài việc thờ cúng cộng đồng theo bộ (Tam Tòa Tứ Phủ hoặc Ngũ Hành), người Việt ở Đồng Nai lại có xu hướng cụ thể hóa và ủy nhiệm thêm chức năng cho mỗi vị, từ đó kéo theo việc thờ riêng lẻ mỗi Mẫu theo các nhu cầu khác nhau. Bà Thiên Hậu có chùa thờ riêng ở Bửu Long (Chùa Thiên Hậu), ở Thủ Dầu Một (Chùa Bà), được giới buôn bán xem là mẹ bảo trợ của mình. Bà Cửu Thiên Huyền Nữ (Thiên Phủ) trở thành mẹ sanh mẹ độ mạng người được lập trang thờ ở gia đình. Mẫu Thoải, người địa phương gọi là Bà Thủy “thêm nhiệm vụ'' độ trì, cứu nạn cho người làm nghề sông nước, được thờ cúng theo ghe hoặc các miễu nhỏ ven sông. Người ta cho rằng, những người chết nước linh thiêng  trở thành bộ hạ hầu Bà thủy ở thủy phủ.

Dường như các Mẫu ở Tam Tòa, Tứ Phủ quá cao quá xa với đời thường cho nên người Việt ở địa phương còn có xu hướng tìm đến các nữ thần có lai lịch gắn với địa phương, gần gũi, thiết thực hơn. Vì thế, xuất hiện các bà: Chúa Xứ, Chúa Ngọc, Bà Đen... ở Nam bộ. Riêng ở Đồng Nai, ngườii Việt cũng gởi gắm tâm linh của mình ở những nữ thần tuy không giàu thần tích nhưng gắn bó với mảnh đất họ đang sinh sống. Cô Lê Hồng Thủy, một trinh nữ chết trôi có tấm lòng yêu đất, yêu biển Long Hải nên được phụng thờ ở Dinh Cô (Long Hải). Thị Vải có cá tính khác thường, giàu lòng nhân ái và khát vọng tự do cũng được lập miếu thờ. Cô Bóng Hiên khẳng khái, thực lòng mà phải tội chết trở thành than nữ linh thiêng có miễu thờ khang trang ở Vĩnh Cửu. Tục thờ nữ thần trong tín ngưỡng dân gian có xu hướng thâm nhập vào các hình thức tín ngưỡng khác. Đa số các đình và nhiều chùa có bàn thờ Mẫu ở hậu điện. Đạo giáo cũng thường chọn các hội lễ cúng Bà để bày tỏ đạo  pháp của mình. Quan Thế Âm của Phật giáo và Mẹ Mara của Thiên Chúa giáo được tín đô ưu ái phụng thờ hơn cả, có lẽ do thói quen tín ngưỡng thờ nữ thần. Các tượng Quan Âm Bồ tát ở chùa, ở các nơi lộ thiên thường được “mẫu  hóa'' bằng cách khoác một áo choàng, thường là sắc áo trắng của Bà Thủy (Mẫu Thoải). Người ta tin ràng, Bà Thủy và Quan Âm Bồ tác có họ hàng với nhau trong việc cứu người lâm nạn trên sông nước; vì vậy hai bà cùng được mời gọi khi khấn nguyện. Và, hình tượng Quan Âm Bồ Tát trở nên gần gũi, quen thuộc với mọi người hơn bất cứ vị Phật, Thánh nào khác.

So với lễ hội cúng đình thờ Ông, lễ hội cúng Bà ở miễu, ở đình, đền... cởi mở và sinh động hơn; bởi lẽ không bị ràng buộc bởi nghi thức cung đình. Lễ hội cúng Bà cũng thường tổ chức vào tháng ba âm lịch (tháng mười cúng cha, tháng ba cúng mẹ), không nhất thiết phải theo nghi thức của Đạo ''Tiên Thiên Thánh Mẫu'' gốc Huế. Lễ  Hội cũng gồm các nghi lễ dâng hương, đăng, trà, quả cúng Bà và xin lộc Bà như ở Bắc bộ, có khác là nghi thức thỉnh Bà từ ngoài biển vào vời ý nghĩa như là sự tái hiện hình ảnh di nhập vào Đồng Nai của buổi ban đầu. Ở chùa Thiên Hậu rước Bà bằn ''lễ bắt cầu'' lúc nửa đêm, ở Dinh Cô, thỉn Cô bàng thuyền lúc rạng sáng. Lễ Hội cúng Bà ở Đồng Nai thu hút các sinh hoạt  văn hóa đặc sắc của nhiều vùng: Hát bả trạo hầu Cô ở lễ hội Dinh Cô vốn có nguồn gốc từ Trung bộ gắn với lễ tế cá Ông của cư dân miệt biển; Hát Chầu Văn theo cung cách của Hội Phủ Giầy nhưng bài bản có cải biến hợp với tâm tư ngườii địa phương; Chặp Địa - Nàng, một biến thể của hát bội Nam bộ có cội nguồn từ Trung bộ; hát Bóng rỗi vừa mang tính nghi lễ vừa là trò diễn dân gian mà nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng cho là có dung mạo và cội nguồn từ giao lưu văn hóa Chăm - Việt (xam “Bóng rỗi, Địa - Nàng)... Tùy theo sở thích của Ban quý tế mà chọn lọc một vài trong các sinh hoạt kể trên, không phải theo một công thức nào. Cho nên, lễ hội cúng Bà luôn đem lại cảm hứng rộn vui, tươi mới cho người tham dự.

Rõ ràng tục thờ nữ thần đă ăn sâu vào tâm thức của người Việt ở Đồng Nai, nó có sức sống bền vững, đã hình thành và phát triển từ lâu đài, đáp ứng nhu cầu tâm linh của cộng đồng, hỗn dung nhiều nhân tố mới mà không xa rời cội nguồn. Đấy là biểu tượng đẹp, mang ý nghĩa xã hội và ý nghĩa nhân văn sâu sắc gần liền vời một số truyền thống văn hóa tích cực của dân tộc. Những giá trị văn hóa đích thực ,của nó cần được gạn lọc, bảo tồn và định hướng phát triển lợp lý, đồng thời hạn chế và loại trừ những thứ “bụi bặm”, “vấy bẩn”  do những kẻ buôn thần bán thánh tạo ra để mưu lợi cá nhân.


                                                                        TS Huỳnh Văn Tới


[1]  Tục thờ Mẫu Liễu Hạnh – một sinh hoạt tín ngưỡng văn hóa cộng đồng,  Tạp chí văn học số 5/1992, trang 17.

Comments