17. Bước đầu khảo sát một số cơ sở tín ngưỡng người Hoa ở Đồng Nai

Trên địa bàn Đồng Nai, các cơ sở tín ngưỡng người Hoa rất đa dạng và có mặt hầu hết ở các địa bàn hành chánh cấp huyện, thành phố. Những cơ sở tín ngưỡng được chúng tôi thống kê, khảo sát, phản ánh đủ loại hình cơ sở tín ngưỡng nhưng chưa đầy đủ về số lượng cụ thể, hiện có trên địa bàn toàn tỉnh bởi có những cơ sở có tính đồng dạng, phổ biến. Trong đó, loại hình miếu thờ thổ địa chiếm số lượng nhiều và khó có thể thống kê đầy đủ. Đặc biệt, loại hình cơ sở tín ngưỡng nầy tập trung ở những địa bàn cộng đồng người Hoa canh tác vườn, rẫy (hầu hết ở các huyện Long Khánh, Long Thành, Xuân Lộc, Thống Nhất, Tân Phú). Thành phố Biên Hòa là nơi tập trung nhiều cơ sở tín ngưỡng, trong số này, có cơ sở của cộng đồng người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh (Nghĩa từ Phúc Kiến tại địa bàn xã Hóa An).

Số liệu cơ sở tín ngưỡng người Hoa được khảo sát, phân bố như sau: Biên Hòa (16), Định Qúan (8), Long Khánh (5), Long Thành (3), Nhơn Trạch (2), Tân Phú (5), Thống Nhất (13), Vĩnh Cửu (0), Xuân Lộc (7). (Qúa trình khảo sát diễn ra trước tháng 10 năm 2003/ tức một số địa bàn huyện chưa được chia tách lại).

I Tên gọi cơ sở tín ngưỡng

Cơ sở tín ngưỡng người Hoa có nhiều tên gọi như miếu, cung, đền, tự, nghĩa từ Trong đó, tên gọi miếu chiếm đa số: miếu với cách gọi chung như miếu thần hay miếu được định danh cụ thể (miếu Quan Đế, miếu Thiên Hậu, miếu Đại Vương, miếu Uy Linh, miếu An Thủ, miếu Quan Âm, miếu Địa Mẫu, miếu Sơn Lâm bà bà, miếu Ông Bổn/ ông Công...). Tên gọi miếu Quan Âm theo kiểu gọi tắt, đầy đủ là Quan Âm Hộ Quốc miếu. Thông thường tên gọi của cơ sở tín ngưỡng gắn liền với đối tượng thờ chính hay đặc điểm của địa danh hoặc tính dung hợp trong phối thờ nên chúng có nhiều tên gọi. Một số điển hình:

  • Miếu Thiên Lương/ miếu Cây Đa ở địa bàn ấp Tân Hợp, xã Bàu Hàm, huyện Thống Nhất.
  • Miếu Quan Âm/ miếu Cầu Sập ở địa bàn ấp Suối Cát 2, xã Suối Cát, huyện Xuân Lộc.
  • Miếu Quan Đế/ Thất Phủ cổ miếu/ chùa Ông ở địa bàn xã Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa.
  • Thiên Hậu cổ miếu/ miếu Tổ sư/ chùa Bà ở địa bàn xã Bửu Long, thành phố Biên Hòa.
  • Miếu Quan Âm/ chùa Tư Nguyên ở địa bàn phường Bình Đa, thành phố Biên Hòa.

II. Thời gian xây dựng

Qua khảo sát điều tra, cho thấy cơ sở tín ngưỡng người Hoa ở Đồng Nai được xây dựng trong nhiều thời điểm khác nhau, bắt đầu từ cuối thế kỷ XVII đến nay. Có thể tạm chia ra hai giai đoạn tương ứng với những đợt người Hoa đến Đống Nai sinh sống, đó là từ cuối thế kỷ XVII đến trước 1954 và từ sau năm 1954 đến nay. Cộng đồng người Hoa đến trong giai đoạn trước đến Việt Nam bằng đường thủy, giai đoạn sau bằng đường bộ (xem chi tiết trong chương I).

Một số cơ sở tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa đến trong giai đọan trước được xây dựng khá sớm như: miếu Quan Đế/xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch; miếu Quan Đế/xã An Hòa, huyện Long Thành; miếu Quan Đế/xã Hiệp Hòa và Thiên Hậu cổ miếu/phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa. Thời gian khởi lập các cơ sở nầy kể từ khi cộng đồng người Hoa đến định cư từ cuối thế kỷ XVII (tính từ năm 1679) và xây dựng kiên cố từ thế kỷ XIX.

Hầu hết, các cơ sở tín ngưỡng nầy đều trải qua nhiều lần trùng tu, trùng kiến, nhiều bộ phận kiến trúc không đồng nhất nhưng trong đó vẫn còn bảo lưu những thành tố kiến trúc cổ. Đặc biệt, trong khoảng thời gian từ năm 1894-1895, các cơ sở nầy trải qua một đợt trùng tu lớn mà vật liệu chủ yếu là đá xanh, gỗ. Hầu hết, các cơ sở tín ngưỡng còn lại đều được khởi lập, xây dựng trong thế kỷ XX. Các cơ sở tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa đến sau năm 1954 được tạo dựng trong thập niên 60, thế kỷ XX và một trong những số đó được mở rộng, xây kiên cố sau này.

III. Đối tượng thờ cúng

Đối tượng thờ cúng trong cơ sở tín ngưỡng người Hoa rất phong phú. Tùy thuộc vào đặc điểm của từng nhóm cộng đồng mà người Hoa thỉnh thờ trong cơ sở tín ngưỡng.

Đối tượng thờ cúng chính trong cơ sở tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa đến Đồng Nai từ cuối thế kỷ XVII đến trước năm 1954 chủ yếu là: Những ngưới đã chết, bà Thiên Hậu, Quan Đế và một số nhân thần. Đối tượng thờ cúng chính trong cơ sở tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa đến Đồng Nai từ sau năm 1954 chủ yếu là: Quan Âm, Quan Đế, An Thủ công công và một số vị phối thờ khác.

Qua số liệu khảo sát cho thấy, trong cơ sở tín ngưỡng người Hoa có rất nhiều đối tượng được thờ, phối thờ được định danh rõ ràng và cả không rõ nguồn gốc hoặc mang tính danh chung chung. Một số đối tượng thờ điển hình sau:

  • Những người đã chết: Thể hiện bằng Linh vị đặt tại gian thờ chính trong các Nghĩa từ của bang hội. Địa bàn Biên Hòa tập trung nhiều nghĩa từ của các bang hội như Phúc Kiến, Quảng Đông/ phường Bửu Long; Triều Châu/ phường Bửu Hòa. Ngoài ra, còn có hai cơ sở Nghĩa từ tại xã Hóa An của bang hội người Hoa Phúc Kiến, Sùng Chính ở Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Ông Bổn: Ông Bổn có nghĩ là “ông Tổ, “Bổn” có nghĩa là gốc. Ông Bổn là một biểu tượng, không phải là một nhân vật cụ thể. Phần lớn, người Hoa quan niệm Ông Bổn là” Phước Đức chính thần”/ thần Thổ Địa/ Tam bảo Thái giám Trịnh Hòa/ Huyền Thiên thượng đế. Trên địa bàn Đồng Nai có một số miếu thờ thần của người Hoa có tên gọi là miếu Ông Bổn hay Ông Công.
  • Thổ thần: Hầu hết các cơ sở tín ngưỡng người Hoa đều thờ Thổ thần. Trong các cơ sở thờ các đối tượng khác thì Thổ thần thường được thờ ở một am, miếu riêng hoặc dưới các bàn thiêng. Thổ thần được thờ chính trong các cơ sở tín ngưỡng của người Hoa làm vườn, rẫy. Số lượng miếu thờ Thổ thần dạng này rất nhiều, tập trung ở các khu vực nông thôn mà người Hoa sinh sống, sản xuất nông nghiệp. Điển hình như các miếu ở địa bàn xã Núi Tượng huyện Tân Phú; xã Phú Tân huyện Định Quán; xã lộ 25, xã Sông Thao, Bàu Hàm huyện Thống Nhất…
  • Bà Thiên Hậu: Nguyên ủy bà là người con gái họ Lâm, tên Lâm Mặc, sống vào đời Tống, ở huyện Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Tương truyền, bà là một người thông minh, có hiếu và thương người. Bà đã tu luyện thành thần tiên tại thế và hay giúp đỡ mọi người. Năm 987, bà mất, thọ 28 tuổi. Sau khi chết, bà thường hiển linh, báo ứng cứu người, đặc biệt với cư dân đi biển. Người Hoa tôn thờ bà lên bậc Thánh Mẫu. Cộng đồng người Hoa đến Việt Nam bằng đường biển quan niệm, chính bà Thiên Hậu đã độ trì, giúp họ vượt qua bao cơn giông bão, tai ương trên chuyến hành trình vượt biển tìm đất sống. Vì vậy, khi đến vùng đất mới sinh sống, cộng đồng người Hoa không quên lập miếu thờ bà. Nhóm cộng đồng người Hoa dòng họ Lâm ở huyện Định Quán thờ bà là Cô Tổ. Bà Thiên Hậu vốn được thờ chính hoặc phối thờ trong một số cơ sở tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa ở địa bàn thành phố Biên Hòa (Thiên Hậu cổ miếu/ phường Bửu Long; Thiên Hậu cung, Thiên Hậu tự/ phường Hòa Bình; miếu Thiên Hậu trong Phụng Sơn tự/ phường Quyết Thắng; miếu Quan Đế xã Hiệp Hòa) và miếu Quan Đế ở thị trấn Xuân Lộc huyện Long Khánh; xã Hiệp Phước huyện Nhơn Trạch và Đền thờ họ Lâm ở xã Phú Lợi huyện Định Quán.
  • Phật bà Quan Âm: Quan Âm là “Vị thần linh nhìn xuống” chúng sinh với lòng từ bi, là một trong những vị Bồ Tát quen thuộc của Phật giáo, tông phái Đại thừa. Ngài là vị Bồ Tát tùy tùng của Phật A Di Đà ở thế giới cực lạc Tây phương, được mọi người tôn kính như là biểu hiện của sự từ bi, nhẫn nhục, cứu độ con người. Đối với cộng đồng người Hoa, vị Quan Âm đã được dân gian hóa thành vị nữ thần phù hộ cho những ai cầu khẩn đến người, hay nghe tiếng kêu của chúng sanh. Tượng thờ Quan Âm trong các cơ sở tín ngưỡng người Hoa ở Đồng Nai thường ở tư thế tọa trên đài sen, đầu đội mão, tòan thân phủ áo trắng, thêu nhiều kim tuyến. Trước các miếu Quan Âm thường có hồ phóng sanh, trên đó có tượng Quan Âm Nam hải đứng trên đài sen hoặc con rồng dâng dạ kim châu, hai bên có Thiện tài Long nữ và Huê ngạn Hành giả. Hầu hết, tai các địa bàn tập trung cộng đồng người Hoa đông đảo (đến Đồng Nai sau năm 1954)thường có miếu thờ Quan Âm / tên chữ là Quan Âm Hộ quốc miếu.
  • Bà Thánh: Đây là một trường hợp cá biệt. Thường danh xưng bà Thánh là một trong những cách gọi chung cho các vị nữ được thờ. Tại khu du lịch Bửu Long, thành phố Biên Hòa có miếu Nương tơ tiên/ Tiên cô nương. Người Hoa tại địa phương cho rằng, đối tượng thờ cúng chính trong miếu là một phụ nư người Hẹ, từ Trung Hoa qua Việt Nam sinh sống, lập nghiệp tại Biên Hòa từ thế kỷ 18. Bà là một phụ nữ bình thường, khi qua đời, hiển thánh và được dân chúng tôn thờ. Mộ của bà sau khi chôn (tương truyền ở phía sau miếu hiện nay) một thời gian, phần nấm mộ bị sụt xuống, làm cho các vách hòm lộ thiên. Nhiều người dân trong vùng mắc những bệnh hiểm nghèo đã đến cầu xin và lấy gỗ từ vách hòm về làm thuốc,chữa được bịnh. Tin vào sự giúp đỡ thần bí của Bà nên dân chúng đã lấp lại phần mộ chỉnh trang và xây miếu thờ.
  • Quan Đế (Quan Công, Quan Thánh, Quan Thánh Đế Quân): Tên thật của ông là Quan Vũ (Võ), tự Vân Trường, người quê Giải Châu, tỉnh Sơn Tây, sống vào thời Tam quốc ở Trung Quốc. Ông là vị tướng tài vừa là bạn đồng sinh tử, đóng góp nhiều công sức cho Hán đế Lưu Huyền Đức. Ông sinh năm 162, bị kẻ thù giết năm 219, thọ 58 tuổi. Người Hoa thờ ông làm biểu tượng cho tín nghĩa, trí dũng, cương trực, lắm mưu lược nhưng đầy lòng nhân ái. Ông là đối tượng thờ khá phổ biến trong nhiều cơ sở tín ngưỡng của người Hoa ở Đồng Nai. Thờ chính ở các cơ sở sau: miếu Quan Đế/ phường Thanh Bình; Thất Phủ cổ miếu/ xã Hiệp Hòa; miếu Quan Thánh (chùa Ông)/ xã An Hòa, huyện Long Thành; miếu Quan Thánh (chùa Ông)/ xã Hiệp Phước, xã Long Thọ, huyện Nhơn Trạch; miếu Quan Công/ xã Thanh Bình, xã Bàu Hàm 2 và miếu Quan Đế/ xã Sông Thao, huyện Thống Nhất; miếu Quan Đế/ thị trấn Xuân Lộc, huyện Long Khánh. Hầu hết các cơ sở tín ngưỡng thờ Thiên Hậu, Quan Âm đều có phối thờ Quan Đế. Khi thờ Quan Đế, phần lớn tại các cơ sở tín ngưỡng phối thờ bên cạnh ông hai vị Quan Bình , Châu Xương (Quan Bình là con nuôi của Quan Công, bị địch giết chung với cha; Châu Xương là tùy tướng, đã tử tiết khi hay tin Quan Công bị sát hại).
  • Đức Quảng Trạch: Nhân vật xuất thân từ tầng lớp nghèo khổ nhưng có chí hướng ở vùng Phụng Sơn, huyện Nam An, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốcvào đời nhà Tống. Thời bình sinh, ông giúp dân dẹp loạn, sau khi chết ông hiển linh bảo vệ dân làng nên người Hoa ở Phúc Kiến suy tôn ông làm bực thánh minh, gọi họ làm danh xưng là Quách Thánh vương (còn cách gọi khác là Quảng Trạch vương), thành tâm thờ cúng.
  • Đức Ông Trần Thượng Xuyên: Trần Thượng Xuyên tự là Trần Thắng Tài, người huyện Ngô Xuyên, phũ Cao Châu, tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc, nguyên là Tổng binh 3 châu: Cao, Lôi, Liêm dưới triều nhà Minh. Khi triều Minh sụp đổ, ông không thần phục triều Thanh nên đã phất cờ “kháng Thanh phục Minh” nhưng không thành. Năm 1679, Trần Thượng Xuyên đem 3.000 quân và gia quyến tị nạn. Chúa Nguyễn Phúc Tần chấp thuận, cho vào xứ Đồng Nai khai khẩn. Ông là người có công lớn trong việc xây dựng thương cảng Cù lao Phố một thời sầm uất và giữ an bờ cõi phương Nam của Đại Việt. Ngày 23 tháng 10 năm 1720 (Canh Tý), ông mất và được an táng phía bắc dinh Trấn Biên. Ghi nhớ công lao của Trần Thượng Xuyên, chúa Nguyễn ban danh hiệu “Nguyễn vi vương, Trần vi tướng, đại đại công thần bất tuyệt”. Các vua Minh Mạng, Thiệu Trị phong ông là “Thượng đẳng thần”. Tại Đồng Nai, Trần Thượng Xuyên được tôn là phúc thần của làng xã, được thờ tại đình Tân Lân/ phường Hòa Bình, thành phố Biên Hòa.
  • Địa Mẫu: Hình tượng Địa Mẫu là một phụ nữ tóc bới cao, vận áo đen, đứng trên quả địa cầu, giơ hai tay cứu độ. Theo Địa Mẫu chơn kinh thì vào ngày 9 tiết tháng Giêng năm Quang Tự thứ 9, đời nhà Thanh ở Trung Quốc, tại phủ Hớn Trung, huyện Thành Cố, tỉnh Thiểm Tây có Phật Địa Mẫu ngự chim loan xuống giáng cơ bút truyền kinh. Tục thờ Địa Mẫu là một dạng tín ngưỡng cứu thế, xuất hiện ở Trung Quốc vào thế kỷ XIX, du nhập vào nước ta khoảng một thế kỷ nay và phổ biến ở miền Nam từ sau năm 1975. Địa Mẫu được thờ chính tại miếu Địa Mẫu/ xã Phú Vinh, huyện Định Quán. Địa Mẫu được phố thờ với Kim Mẫu, Hoàng Mẫu – đây là những vị Thánh Mẫu theo quan niệm là ban phúc lộc cho con người. Một số cơ sở tín ngưỡng có phối thờ Địa Mẫu như: Quan Âm các trong miếu Quan Đế/ xã Sông Thao, miếu Sơn Lâm bà bà/ xã lộ 25, huyện Thống Nhất; miếu Quan Âm/ xã Lang Minh, xã Suối Cát thuộc huyện Xuân Lộc.
  • Địa Tạng: Là một vị Bồ Tát, danh hiệu Địa Tạng có nghĩa là an nhẫn, bất động như đại địa, tư duy sâu sa kín đáo như kho tàng bí mật. Tiền thân của người là con gái của dòng họ Bà la môn đầy đủ phước đức, được mọi người cung kính thời tượng pháp của Đức Phật Gíac Hoa Định Tự Tại Vương. Biểu tướng của Ngài là người xuất gia, đầu tròn, mặc áo cà sa, tay phải cầm tích trượng có mười hai khoen, tay trái cầm hạt minh châu, hiện thân là một người Tỳ kheo. Bản nguyện của Ngài là cứu thoát chúng sanh khỏi kiếp trầm luân của địa ngục. Một số cơ sở tín ngưỡng của người Hoa phối thờ Địa tạng như: miếu Quan Đế/ xã Hiệp Phước,huyện Nhơn Trạch; miếu Quan Âm/ xã Lang Minh, huyện Xuân Lộc; các nghĩa từ thường dành gian cuối thờ Địa Tạng nghĩa từ Phúc Kiến/ xã Hóa An.
  • An Thủ công công: Đây là một đối tượng thờ khá phổ biến trong các cơ sở tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa đến sinh sống tại Đồng Nai sau năm 1954. Tượng thờ thể hiện hình ảnh người đàn ông ngồi trên ngai, đầu đội mũ cánh chuồn với tư thế như đang xử án. Nhiều người Hoa cao tuổi cho biết, họ chỉ thờ theo truyền thống cha ông chứ không biết rõ lai lịch của ông An Thủ. Có nhiều giả thiết chung quanh đối tượng nầy: đây là nhân vật có công đi mở đất cho cộng đồng người Hoa thời kỳ đầu đến các tỉnh phía Bắc Việt Nam sinh sống; đây là nhân vật mà những người Hoa đi lính thường thờ vì ông hay hiển linh, báo trước những hiểm họa. Một ý kiến nêu cả tên tuổi của ông, cho rằng: An Thủ công công là danh gọi một người có tên là Phan Thắng. Ông là người Hoa, làm việc cho Pháp những năm cuối thế kỷ XIX, có chức cao, được người Pháp trọng dụng. Trong thời gian phục vụ cho quân đội Pháp, ông thể hiện lòng yêu nước bằng cách giúp đỡ nhiều vũ khí, lương thực cho người Hoa. Quân Pháp phát hiện và đem ra xử án ông. An Thủ là cách gọi người đứng đầu của bản án. Cộng đồng người Hoa sinh sống ở một số tỉnh phía Bắc trước đây thờ Phục Ba tướng quân (tức Mã Viện – người đàn áp phong trào khởi nghĩa của Hai Bà Trưng) với quan niệm về tinh thần chống xâm lăng, bảo vệ đất nước. Khi sinh sống ở miền Bắc Việt Nam, để tránh sự va chạm, tranh thủ sự thiện cảm với người Việt, một thủ lĩnh người Hoa đã vận động cộng đồng người Hoa thỉnh thờ vị An Thủ cũng biểu trưng được tinh thần ái quốc, dân tộc. Khi thờ vị An Thủ, có tượng trên ngai án, thì bao giờ người Hoa cũng bày bài vị phía sau nêu danh Phục Ba tướng quân với tinh thần vọng tưởng. Nêu lên những ý kiến này có tính chất tham khảo vì không có tư liệu để kiểm chứng.

Trên địa bàn Đồng Nai, có hai cơ sở định danh cụ thể là miếu An Thủ, một ở phường Bình Đa, thành phố Biên Hòa(có tượng thờ)và một ở xã Bàu Hàm 2, huyện Thống Nhất (không có tượng). Hầu hết, các miếu Quan Âm đều có phối thờ Án Thủ công công.

  • Tổ họ Lâm: người Hoa dòng họ Lâm thờ ba vị Tổ là Bị Quân Công, Kiên Công và Lộc Công. Bên canh đó, họ còn thờ bà Thiên Hậu với quan niệm là bà cô Tổ. Đền thờ họ Lâm ở địa bàn xã Phú Lợi, huyện Định Quán.
  • Các vị Tổ nghề: Có ba vị Tổ nghề được thờ trong cơ sở tín ngưỡng người Hoa ở Thiên Hậu cổ miếu/ phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa. Đó là các vị: Ngũ Đinh - tổ nghề đá; Lỗ Ban – tổ nghề mộc; Quốc Trì – tổ nghề sắt. Ông tổ nghề mộc tên thật là Công Thâu Ban, người nước Lỗ. Ông từng làm tới chức Bộ Công Thượng Thư, có tài xây dựng, được người đời thán phục, tôn làm tổ sư ngành xây dựng. Lỗ Ban tiên sinh từng viết sách” Lỗ Ban chơn kinh” truyền bá kinh nghiệm nghề xây dựng. Sau khi ông mất, được truy phong Trí Huệ đại sư, đầu đới Minh được truy phong Bắc Thành hầu.
  • Thái Tuế: Là vị thần coi về năm tháng tuổ tác đời người. Mỗi năm, Thái Tuế sẽ chọn một vị thần ứng với con giáp năm đó để ngự trị, ban phát tuổi tác, sức khỏe cho mọi người.

Ngoài các đối tượng thờ cúng chính, trong nhiều cơ sở tín ngưỡng người Hoa có nhiều đối tượng khác xin lược nêu danh xưng như sau: Khổng Tử (551-479 trước CN); Cửu Thiên Huyền nữ (nữ thần tiên cai quản chín tầng trời là: Quân Thiên, Thượng Thiên, Biến Thiên, Huyền Thiên, U Thiên, Hiệu Thiên, Chu Thiên, Viêm Thiên, Dương Thiên); Kim Huê Thánh Mẫu và bà Mẹ Sanh (là những nữ thần chủ quản việc sinh đẻ và bảo dưỡng trẻ em); Mã đầu tướng quân (người giữ ngựa cho Quan Công); Thái Thượng lão quân và một số thân vị của Phật (nhưng không đáng kể).

Trong nhiều cơ sở tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa đến Đồng Nai sau năm 1954, thường có bài vị bằng chữ Hán nêu danh các vị được thờ (tùy theo từng cơ sở mà bài vị nêu nhiều hay ít) như sau: Thần Nông Hoàng Đế, Lý Xã Đại Vương, Hộ Thôn Hộ Quốc Đại Vương, Bảo Thôn Bảo Quốc Đại Vương, Cao Sơn Đại Vương, Đê Sơn Đại Vương, Địa Đầu Đại Vương, Thủy Khẩu Đại Vương, Ô Lôi Đại Vương, Diệp Thắng Đại Vương, Đặng Thông Đại Vương, Bàn Cổ Đại Vương, Bùi Thắng Đại Vương, Trương Chân Đại Vương, Bổn Cảnh Phước Chủ Đại Vương, Hoa Quang đại đế, Lê Thánh Lão Gia, Hồng Cảnh Lão Gia, Phục Hổ Lão Gia, Tam Thánh Công Công, Tam vị Bà Bà,Phục Ba Tướng Quân, Mãnh Dũng Tướng Quân, Nguyễn Đại Nhất Lang, Hà Địa Nhị Lang, Trần Đại Tam Lang, Trần Công Minh, Trần Công Hầu, Trần Công Thánh, Phạm Pháp Long.

IV. Quy mô kiến trúc của cơ sở tín ngưỡng

Qua tổng hợp số liệu thống kê, khảo sát, chúng tôi tạm chia các cơ sở tín ngưỡng người Hoa trên địa bàn Đồng Nai làm ba dạng: nhỏ, vừa và lớn. Lối kiến trúc hầu hết ở các cơ sở theo một trong các lối kiểu chữ sau: chữ nhất, chữ công, chữ tam, chữ khẩu.

Các cơ sở có quy mô nhỏ có số lượng nhiều, thuộc vào loại hình miếu thờ thổ thần (miếu rẫy), kiến trúc không đáng kể, tập trung ở các vùng người Hoa canh tác, sản xuất thuộc các huyện Xuân Lộc, Long Khánh, Tân Phú, Định Quán, Thống Nhất.

Các cơ sở có quy mô vừa tập trung ở các địa bàn có đông dân cư người Hoa (đến Đồng Nai sau 1954) sinh sống. Kiến trúc cơ sở xây chủ yếu theo lối chữ nhất, chữ khẩu, bằng vật liệu kiên cố, thờ thần thể hiện bằng bài vị chữ Hán. Hầu hết, ở địa bàn huyện, thành phố đều có loại hình cơ sở tín ngưỡng này, tập trung trong cộng đồng người Hoa đến Đồng Nai sau 1954.

Các kiến trúc có quy mô lớn tập trung vào các cơ sở tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa sinh họat theo bang hội như: Thiên Hậu cổ miếu/ phường Bửu Long, miếu Quan Đế/xã Hiệp Hòa, Phụng Sơn tự/phường Quyết Thắng(thành phố Biên Hòa); miếu Quan Đế/xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch; miếu Quan Đế/xã An Hòa, huyện Long Thành; miếu Quan Đế/thị trấn Xuân Lộc, huyện Long Khánh…và của nhóm cộng đồng người Hoa đến sau năm 1954 như: miếu Quan Âm ở Bảo Bình, Xuân Tây, Lang Minh, Xuân Bảo…huyện Xuân Lộc; miếu Quan Đế xã Cây Gáo, Bàu Hàm, Thanh Bình…huyện Thống Nhất; miếu Quan Âm thị trấn Định Quán; miếu Quam Âm ở thị trấn Tân Phú; miếu Quan Âm ở xã Bình Lộc và ở thị trấn Xuân Lộc, huyện Long Khánh. Những cơ sở miếu Quan Âm có quy mô lớn thường được xây theo lối chữ nhất. Kiến trúc trong nội điện thường được chia làm ba gian tương ứng với các đối tượng thờ và tùng tự. Trên nóc miếu thường được trang trí hình ảnh lưỡng long triều nhựt và có long, lân chầu hay ngư long, phụng nghinh (cá biệt có trường hợp như miếu Quan Âm/xã Bảo Bình, huyện Xuân Lộc trang trí đôi phụng triều nhựt). Mái miếu thường được xây hai tầng, tạo kiểu lầu trống thông thiên.

Trong số các cơ sở tín ngưỡng có quy mô lớn, mang đặc trưng kiến trúc Hoa gồm: Thiên Hậu cổ miếu/ phường Bửu Long, miếu Quan Đế/xã Hiệp Hòa, Phụng Sơn tự/phường Quyết Thắng và một số các nghĩa từtrên địa bàn thành phố Biên Hòa; miếu Quan Đế/xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch; miếu Quan Đế xã Cây Gáo, huyện Thống Nhất. Các cơ sở tín ngưỡng nầy thường xây theo lối chữ công (là hai kiến trúc song song, nối liền nhau ở giữa) hay chữ Quốc (lối chữ công thường có tường bao bọc hình tứ giác, tạo nên kiểu “nội công ngoại quốc”). Đặc điểm chung của các cơ sở này là các bàn thờ và điện thờ được bố trí thứ tự từ thấp lên cao theo chiều dọc. Cấu trúc các gian miếu theo chiều ngang, nhưng xét theo trục dọc có ba gian: tiền điện, trung điện và chánh điện. Từ tiền điện đến các phần sau thường phải qua một khỏang sân trống (gọi là thiên tĩnh hay giếng trời). Nét độc đáo của các kiến trúc này còn ở hình dáng và lối trang trí bên ngoài như mái được đúc, được lợp loại ngói ống, diềm mái là loại ngói có tráng men xanh. Các đầu bờ mái được tạo dáng cong vuốt lên, tầng mái gian giữa cao hơn các gian khác. Hai bên mặt tiền trên mái thường có tượng thể hiện ông Nhựt bà Nguyệt. Trên bờ nóc mái được trang trí bởi các mảng, tượng, phù điêu gốm, đá rất độc đáo. Những cơ sở tín ngưỡng như Thiên Hậu cổ miếu/ phường Bửu Long, miếu Quan Đế/xã Hiệp Hòa, đình Tân Lân/ phường Hòa Bình thuộc địa bàn thành phố Biên Hòa được trang trí những mảng phù điêu gốm, đá là những tập thành có giá trị nghệ thuật cao. Mặt tiền các cơ sở thờ Bà thường có cặp lân, thờ các võ thần thì có đôi sư tử. Các ngạch cửa, khung cửa và bậc cửa thường xử dụng chất liệu đá. Những phần kiến trúc hai bên thường được dùng vào hoạt động chung của bang hội: hội họp, tiếp khách, chuẩn bị các nghi lễ.

VI. Tính cộng đồng và mối liên hệ

Các cơ sở tín ngưỡng phản ánh mối liên hệ tính cộng đồng của người Hoa.

Trong cộng đồng người Hoa đến Đồng Nai trước năm 1954, chúng ta dễ dàng nhận thấy được mỗi bang hội đều có cơ sở tín ngưỡng riêng và đồng thời cũng là hội quán. Cụ thể như trên địa bàn thành phố Biên Hòa: bang hội Phúc Kiến với cơ sở Phụng Sơn tự/ phường Quyết Thắng; bang hội Sùng Chính và Triều Châu với cơ sở Thiên Hậu cung/ phường Hòa Bình; bang hội Quảng Đông với cơ sở miếu Quan Đế/phường Thanh Bình; bang Hẹ ở địa bàn với cơ sở Thiên Hậu cổ miếu/phường Bửu Long. Trên địa bàn huyện Long Khánh có cơ sở miếu Quan Đế/thị trấn Xuân Lộc của người Quảng Đông. Từng bang hội thường tổ chức bầu ban quản lý cơ sở tín ngưỡng đồng thời cũng là Ban đại diện của bang hội theo nhiệm kỳ, số lượng được thống nhất chung. Các ban quản lý tại các cơ sở tín ngưỡng kiêm quản lý nghĩa từ của bang hội. Trên địa bàn Biên Hòa, cơ sở tín ngưỡng miếu Quan Đế/xã Hiệp Hòa là cơ sở, hội quán chung của cộng đồng người Hoa bốn bang Triều Châu, Quảng Đông, Phúc Kiến, Sùng Chính ở thành phố Biên Hòa. Mỗi bang hội cử ba đại diện tham gia vào ban quản lý chung theo những quy định được các bang thống nhất. Trong nhiệm kỳ một năm, ban đại diện của từng bang chịu trách nhiệm trông quản các mặt họat động tại miếu.

Trong cộng đồng người Hoa đến Đồng Nai sau năm 1954, các cơ sở tín ngưỡng phản ánh từng nhóm cộng đồng tham gia. Loại hình miếu thờ Thổ địa/miếu rẫy có quy mô nhỏ thường do một nhóm người Hoa cùng canh tác, sản xuất trên một khu vực tham gia (thậm chí chỉ một hộ gia đình). Loại hình này mang tính chất tự quản. Loại hình miếu thờ Thần, có quy mô kiến trúc vừa thường do cộng đồng người Hoa cùng sinh sống trên một khu vực (thường của một đơn vị hành chánh ấp) tạo dựng và tham gia. Quản lý các cơ sở tín ngưỡng này, người Hoa cử ban quản lý. Loại hình miếu thờ Quan Âm/Hộ quốc miếu, có quy mô kiến trúc lớn và do cộng đồng người Hoa sinh sống trên địa bàn chung một xã, thị trấn, phường… tham gia. Ban quản lý các cơ sở được bầu cử theo nhiệm kỳ, số người được phân công, quy định cụ thể. Hầu hết, các miếu thờ Quan Âm / Hộ quốc miếu của người Hoa đều có mối quan hệ nhau. Đặc biệt, các miếu Quan Âm của người Hoa trên địa bàn Đồng Nai khi khởi công xây dựng, cộng đồng người Hoa thường tổ chức lễ rước chân nhang từ miếu Quan Âm ở Sông Mao, xã Hải Ninh, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận hoặc tại phường 19, quận Tân Bình. Hai cơ sở tín ngưỡng này được xem như điểm gốc của miếu Quan Âm của người Hoa trong khu vực miền Nam. Miếu Quan Âm gốc của người Hoa theo thứ tự sau: miếu Quan Âm ở tỉnh Quảng Ninh, đến miếu ở Sông Mao rồi mới đến miếu ở Tân Bình. Khi người Hoa ở địa bàn nào muốn lập miếu Quan Âm thì có thể rước chân nhang ở các miếu nầy. Ngoài ra, trên địa bàn Đồng Nai, cá biệt có cơ sở tín ngưỡng của một dòng họ Lâm ở xã Phú Vinh, huyện Định .

Các cơ sở tín ngưỡng người Hoa trên địa bàn Đồng Nai (chủ yếu là các cơ sở có quy mô kiến trúc lớn, cộng đồng tham gia đông đảo), đều có tục xin xăm. Một số cơ sở tín ngưỡng người Hoa có tính dung hợp, trở thành cơ sở tín ngưỡng chung của cộng đồng dân cư tại chỗ; một số cơ sở có tính chất Việt hóa mạnh mẽ như: đình Tân Lân, Thiên Hậu tự, miếu Cây Quăn, miếu Bà Thánh thuộc dịa bàn thành phố Biên Hòa.

VII. Di sản chữ Hán tại các cơ sở tín ngưỡng tiêu biểu

Trong số các cơ sở tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa trên địa bàn Đồng Nai, có hai cơ sở được xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật. Đó là di tích đình Tân Lân/ đền thờ Trần Thượng Xuyên, phường Hòa Bình và miếu Quan Đế/ Thất phủ cổ miếu/ chùa Ông, xã Hiệp Hòa thuộc địa bàn thành phố Biên Hòa. Hiện nay, cơ sở tín ngưỡng Thiên Hậu cổ miếu/ miếu Tiên sư, phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa đang được cơ quan chuyên môn lập hồ sơ khoa học để trình duyệt xếp hạng di tích.

Chúng tôi giới thiệu một số di sản chữ Hán tại ba cơ sở tín ngưỡng này theo tài liệu: “ Di sản chữ Hán trong các đình, chùa, miếu mạo, từ đường ở Biên Hòa – Đồng Nai” của UBND Tp Biên Hòa chủ biên, Giáo sư Huỳnh Minh Đức và các CTV thực hiện năm 1998 và một số tài liệu khác, để tham khảo.

Tại các di tích nầy, phần lớn các liễn đối, hoành phi đại tự bằng chữ Hán đều ca ngợi công đức, tài năng, sự uy linh, phò trợ, giúp người của các đối tượng được thờ chính và tùng tự, sự tôn nghiêm của chốn thờ tự và những ước vọng của người dân. Ngoài ra, còn phản ánh về sự gắn kết cộng đồng người Hoa với nhau, với vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai và cộng đồng người Việt.

* Ca ngợi về đối tượng được thờ:

+ Tại đình Tân Lân, một số hoành phi, liễn đối ca ngợi Trần Thượng Xuyên, vị phúc thần của làng xã như sau:

- “ Đức tham thiên”: Cái đức của thần linh xứng đáng tham với trời.

- “ Thần ân quảng bị “: Ơn của thần đã đầy đủ.

- “ Công vĩ tích”: Công lao của thần linh thật bao la.

- “ Thần ân tý hựu”: Thần ân che chở và bảo hộ cho dân.

- “ Thần quang phổ chiếu”: Ánh sáng của thần linh soi sáng khắp nơi.

- “Thánh đức dương dương nghiễm thượng chân phò chân hữu đức/ Thân ân trạc trạc phổ quang chứng chiếu thị vô tư ”: Cái đức của bậc thánh thật cao vời vợi bên trên, phò hộ người dân, thật sự là có đức/ Cái ơn của thần linh sáng chói và linh hiển tuyêt vời, soi sáng khắp nơi, chúng chiếu vạn dân, đó là lòng vô tư.

- “ Linh sảng đồng thiên chiêu nhật nguyệt / Ân ba tự thủy bái san ha”: Sự khóang đạt sáng sủa của thần linh ví với mặt trời mặt trăng/ Cái ơn của thần linh như nguồn nước chảy tràn ngập núi sông.

- “ Thánh đức hiển thiên niên dân thọ tài phong tứ hải đồng xưng Thuấn nhựt / Thần quang linh vạn tải quốc long phú thạnh cửu châu cộng ngưỡng Nghiêu thiên”: Cái đức của bậc thánh hiển linh ngàn năm, người dân được sống lâu, của cải được dồi dào, khắp bốn biển cùng nhau ca tụng đây là thời kỳ của vua Thuấn / Cái ánh sáng của thần linh chiếu rạng muôn đời, đất nước hưng long, giàu có, khắp chín châu đều ngưỡng mộ như thời vua Nghiêu.

+ Miếu Quan Đế / Thất phủ cổ miếu ca ngợi công lao, nghĩa khí vị Quan Vũ như:

- “Trung nghĩa thiên thu”: Trung nghĩa ngàn năm.

- “Thiên cổ nhất nhân”: Ngàn xưa chỉ có một người / anh hùng như Quan Đế, từ xưa đến nay chỉ có một người.

- “ Uy chấn Hoa Hạ”: Oai trấn khắp cả Trung Hoa...

- “ Xích Thố mã Thanh Long đao phò Hán an Lưu tinh trung chiêu nhật nguyệt / Đọc Xuân Thu duy xã tắc phá Ngô phạt Ngụy nghĩa khí tráng sơn hà”: Nói về Ngài Quan Vũ với con ngựa Xích Thố, thanh Long đao đã theo phò nhà Hán, giúp cho dòng họ Lưu được bình an, lòng tinh trung của ngài thật ví sáng với mặt trời mặt trăng / Ngài với quyển Xuân Thu, đã duy trì xã tắc, phá Ngô (Tôn Quyền), phạt Ngụy (Tào Tháo), nghĩa khí của ngài đã trấn được núi sông.

- “ Tướng mạo trượng Thanh long anh hùng đệ nhất / Oai phong thừa Xích Thố hậu kiệt hữu tam”: Với dáng mạo của tướng cầm Thanh long đao, (Quan Vũ) đã là vị anh hùng đệ nhất / Với uy phong của vị tướng cưỡi Xích Thố mã, (Quan Vũ) thật là một trong ba vị hào kiệt sau này (cùng với Lưu Bị và Trương Phi).

- “ Đại nghĩa trong thiên thu, bảo tướng trang nghiêm huy hải quốc / Sanh linh khâm bách đại, đan tâm hạo đảng tế càn khôn”: Đại nghĩa trong ngàn năm, tướng quí trang nghiêm ngời hải quốc / Sanh linh thờ trăm đời, lòng son rờ rỡ rạng trời đất.

- “ Thất mã trảm Nhan Lương Hà Bắc anh hùng giai tán đởm / Đơn đao hội Lão Túc, Giang Đông hào kiệt tận hàn tâm”: Một ngựa chém Nhan Lương , bọn anh hùng Hà Bắc đều vỡ mật / Một đao gặp Lỗ Túc, đám hào kiệt Giang Đông thảy đứng tim.

- “ Thiết trạch vi tâm, thị Hán thất kình thiên nhất trụ / Xuân Thu đắc lực, dữ Ni sơn bạt địa lưỡng phong”: Lòng dạ như sắt đá, với nhà Hán chống trời duy một cột / Công lực sánh Xuân Thu, cùng núi Ni vạch đất thành hai non.

+ Miếu Thiên Hậu / miếu Tổ sư nghề đá, có một số câu đối ca ngợi Tổ sư, Quan Vũ và bà Thiên Hậu:

- ” Sáng bá nghệ nguyên lưu tượng tâm độc vận / Thùy thiên thu thằng mặc sư thị hàm tôn”: Tổ sư đã sáng tạo ra trăm nghề, là cái nguồn cho những người thợ giỏi / Tổ sư là những người dùng bút mực, đào tạo những bậc thầy từ ngàn năm qua, chúng ta phải biết tôn trọng.

- “ Tinh công diệu đạt quy củ chí kin vô song sĩ / Mặc thằng xảo tạo tự cổ truyền lưu đện nhất nhân”: Tổ sư là người làm ra tác phẩm tinh xảo, đo đạc khéo léo, mọi việc đều rất khuôn mẫu, cho đến này nay không có người thứ hai / Tổ sư là người sử dụng dây và mực để tao ra tác phẩm tinh xảo, từ xưa nay, được xem là người giỏi nhất được lưu truyền.

- “ Diệu thủ tu thành kim bửu điện / Tinh công xảo tạo ngọc long lâu”: Bàn tay khéo léo của tổ sư đã xây dựng ngôi điện vàng ngọc / Việc làm tinh xảo, xây dựng khéo léo tạo nên ngôi lầu xinh đẹp như con rồng bằng ngọc.

- “ Tận nghĩa tận nhân thị ni thất kình thiên nhất trụ / Chí cương chí đại dử thủy sơn bạt địa tề phong”: Quan Vũ là người tận nghĩa, tận nhân, người quả thật là một cây chống trời trong một ngôi nhà gìn giữ theo đạo Khổng / Quan Vũ là người bẩm thụ được khí hạo nhiên chí đại cí cương, là người đã đưa ngọn núi dưới lòng biển lên ngang tần núi lớn.

- “ Vạn phái hồi lan y hậu đức / Thiên thu trứ tự tụng từ hàng”: Mọi người nhớ ơn của Thiên Hậu đã chống đỡ làn sóng dữ và nguyện noi theo cái đức của bà / Vì vậy cho nên mọi người cùng xây nên đền thờ để ca ngợi chiếc bè từ của bà.

* Ca ngợi nơi thờ tự (miếu Tân Lân):

- “ Tân nhật khai cơ thiên cổ tráng / Lân trình thoại khí vạn đại hưng”: Miếu Tân Lân đã có cái ngày bắt đầu xây dựng cái nền tảng của mình và sẽ hùng tráng mãi ngàn năm / Miếu Tân Lân biểu hiện được bầu khí lành làm cho nơi đây được hưng thạnh muôn thuở.

- “ Lộ tiền nhật chiếu thôn trung thạnh / Thủy nhiễu trường lưu ấp nội hưng”: Con đường trước miếu Tân Lân đón ánh mặt trời làm cho xóm làng được thạnh vượng / Con sông chảy quanh miếu Tân Lân lâu dài làm cho thôn ấp được hưng thạnh.

- “ Miếu tiền đại tân cựu thôn trung quy mô thiên cổ / Vũ hậu nhân mục chiêu lý nội bồi trúc vạn niên”: Thời kỳ trước, ngôi miếu từ cho đến cũ vẫn giữ nét mẫu mực của mình cho đến ngàn năm / Người đời sau trong thôn xóm vẫn giữ nét tôn ti trên dưới, tất cả đềo lo việc sửa sang tôn tạo cho ngôi miếu mãi đến vạn năm.

* Sự gắn kết của cộng đồng người Hoa với Biên Hòa – Đồng Nai nói riêng, Việt Nam nói chung (miếu Tân Lân và miếu Quan Đế):

- “ Quảng dự trứ dung môn đại tiểu tam nguơn thiên cồ trong / Triệu nhân sùng Việt hải hinh hương tứ quỵ vạn niên xương”: Chúng ta hết lòng khen tặng và biểu dương cánh cửa cao thượng của nước Việt Nam, vì thế suốt trong những ngày lễ lớn nhỏ: tam nguơn trong năm đều được xem trong ngàn năm / Chúng ta bắt đầu lo việc tế lễ một cách trân trọng và tỏ ra sùng bái nước Việt Nam, vì thế mà bốn mùa đều lo việc nhang khói mong cho được hưng thịnh muôn đời.

- “ Hòa bình hữu tương thành năng cách / Đại tạo vô tư đức thị thân”: Cuộc sống chung hòa bình với kết quả rõ ràng, thành ý đó (của cả nhóm Hoa kiều và người dân Việt Nam) có thể đáng ghi nhớ / Sự xây dựng to lớn mang tính cách vô tư tạo thành cái đức to lớn làm cho hai bên được thân nhau.

- “ Nhạc tấu vân hà ca cảnh phước / Năng xung ngọc chiếu vinh an khương”: Khúc nhạc hòa điệu (giữa Việt Nam và nhóm Hoa kiều) bay vút tới trời xanh, mọi người như muốn ca tụng cái cảnh hạnh phước / Nếu có thể được, chúng ta hãy xem đây như là viên ngọc quí chiếu sáng làm cho chúng ta mãi mãi yên lành và khỏe mạnh.

- “ Việt quốc kiến trung từ thiên tải danh lưu vĩnh thùy bất hủ / Biên Hòa nguyên thắng địa vạn dân chiêm ngưỡng thế đại hình hương”: (Người Trung Quốc) đã xây dựng nên ngôi “Trung nghĩa từ” ở Việt Nam, nhằm lưu danh mãi mãi một cách bất hủ / Đất Biên Hòa nguyên là một nơi thắng địa, hàng vạn người dân cùng chiêm ngưỡng và nhang khói qua bao thế đại.

Ths Phan Đình Dũng và các cộng tác viên

(Bài viết có tham khảo một số tư liệu tại Bảo tàng Đồng Nai)
Comments