22. Tìm hiểu lễ hội Sa Yang Va của người Châu Ro tại Phú Lý huyện Vĩnh Cửu

1. Tên gọi và nguồn gốc:

Tiếng Châu Ro gọi là lễ Sa Yang Va / nghĩa là cúng Thần lúa/ mừng lúa mới. Nguồn gốc của lễ hội theo một số già làng cho biết được truyền từ bao đời nay. Cộng đồng người Châu Ro cứ theo thông lệ hằng năm thì tổ chức cúng theo kiểu “ xưa bày nay theo ”. Trước đây, lễ cúng Sa Yang Va được người Châu Ro cúng theo định kỳ hàng năm. Thời gian cũng không ấn định cụ thể nhưng thường trong khoảng từ tháng hai đến tháng ba âm lịch, vào những ngày trời đẹp, đêm có trăng sáng. Đây là lễ hội lớn nhất của cộng đồng và để lại những dấu ấn về lễ nghi nông nghiệp của người Châu Ro. Trước đây, khi tính cộng đồng còn chặt chẽ, thể chế nhà dài tồn tại, người Châu Ro tổ chức cúng Sa Yang Va tại đây. Lễ hội cúng Sa Yang Va thường kéo dài trong nhiều ngày đêm. Mọi người trong buôn làng đều tham dự. Những người thầy cúng giữ vai trò hành lễ trong các nghi thức.

Lễ cúng được tổ chức với mục đích tạ ơn thần lúa đã ban phúc cho gia đình một mùa bội thu. Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy trong nội dung lời khấn của lễ Sa Yang Va nhắc nhiều đến đối tượng như các loại thần linh, tổ tiên và mang tính chất cầu an, cầu phúc cho cộng đồng, dòng tộc, gia đình hay cá nhân.

Hiện nay, lễ cúng Sa Yang Va ít được người Châu Ro ấp Lý Lịch tổ chức do nhiều nguyên nhân nhưng sâu sa nhất là do đời sống kinh tế khó khăn. Thường chỉ có gia đình già làng Nguyễn Văn Nổi, Hồng Thị Lịch tổ chức. Thông thường những lễ cúng cúng Sa Yang Va tại đây được các cấp chính quyền, các ban ngành hỗ trợ nhiều mặt. Lễ cúng thực hiện đầy đủ những nghi thức cổ truyền và thu hút không chỉ cộng đồng người Châu Ro mà cả các thành phần dân tộc khác tại địa phương đến tham dự.

2. Công tác chuẩn bị cho một lễ cúng cúng Sa Yang Va

* Địa điểm: Thông thường lễ hội diễn ra tại nhà của người Châu Ro mà hai điểm chính là ngôi nhà sàn và kho lúa của gia chủ. Một số địa điểm liên quan là rẫy lúa, rẫy mì và các nơi khác trong rừng khi người Châu Ro chuẩn bị các thứ cần dùng đến trong buổi lễ. Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy ba địa điểm chính, quan trọng tạo nên tuyến tình của lễ cúng Sa Yang Va này là: Rẫy lúa, Nhà sàn và Kho lúa.

* Chùm lúa rẫy: Tại khu rẫy trồng lúa, khi thu hoạch mùa màng, người Châu Ro để lại một vạt lúa tốt có những bông lúa trĩu hạt. Những bông lúa tốt được bó lại bằng tranh, rơm, lá chuối và rào bốn bên bằng các loại gai bằng tre, cây cối để bảo vệ. Vạt lúa cây vẫn sống, bông lúa nhiều hạt và chín vàng. Theo quan niệm của người Châu Ro thì hồn lúa rẫy trú ngụ tại đây và chờ cho đến khi họ tổ chức lễ Sa Yang Va thì rước về. Nghi thứ rước hồn lúa là nghi đầu tiên trong lễ cúng Sa Yang Va và rất quan trọng.

* Bàn thờ Nhang:

* Cây nêu: Khi tổ chức cúng Sa Yang Va, người Châu Ro thường làm một cây nêu đặt trước sân nhà sàn – nhà có bàn thờ nhang chính, diễn ra lễ cúng đồng thời khoảng sân để tổ chức đốt lửa và sinh hoạt cộng đồng khi đêm xuống.

Cây nêu được làm từ cây vàng nghệ (SơrBrơ)– một loại cây trong rừng, có thân suông, thẳng. Đặc biệt, loại cây này khi bào vỏ thì có màu vàng nghệ rất đẹp. Lá của cây xanh, dài và thon, nhọn đầu (giống như lá xoài). Trái của cây vàng nghệ nhỏ vừa, có dạng hình bầu tròn và dài nhọn đầu như trái cau, phía cuống có lớp bao bọc tạo thành như một cái nắp đậy. Lá và vỏ cây thường được người Châu Ro đem giã để suốt cá.

Khi chặt cây vàng nghệ đem về, người Châu Ro chọn phần suông, thẳng để làm cây nêu. Thường thì đoạn gốc dài trở lên khoảng 5 mét. Người Châu Ro đặt cây vàng nghệ với phần gốc chạm đất và phần ngọn cao lên vừa tầm người làm qua một chạng đỡ có hai cây bắt chéo nhau. Thân cây vàng nghệ được bào nhẵn bốn phía, phía gốc to và thon dần lên phía ngọn.

Trang trí trên thân cây nêu: Khi thân cây vàng nghệ được bào nhẵn, người Châu Ro dùng vôi và củ nghệ tươi bôi đều từ gốc đến ngọn. Thân cây thấm nước vôi và màu vàng của nghệ tạo cho cây có màu vàng tươi thêm và giữ được màu sắc trong thời gian dài.

Người Châu Ro dùng lá buông khô, tước đi những gân lá để buộc vào thân cây vàng nghệ. Cách quấn theo hình chéo nhau từ dưới gốc lên đến ngọn, tạo những khoảng trắng hình thoi đối xứng, uốn theo thân cây. Khi buộc lá buông thì chừa đoạn gốc khoảng 1 mét.

Sau đó, người Châu Ro dùng đèn dầu chai. Những cục nhựa từ cây dầu chảy ra, khô lại được người Châu Ro quấn trong lớp lá dứa tạo thành khối hình ống tròn (tựa như đòn bánh tét). Đòn dầu chai được đốt lên cho khói rất nhiều. Người Châu Ro hơ vào thân cây từ gốc lên ngọn và phải trải qua một thời gian rất dài. Đây là công đoạn làm khá tỉ mỉ để giữ cho thân cây có một màu khói ươm vào đều khắp. Khi hun khói xong thì người Châu Ro gỡ lớp lá buông quấn ra. Những nơi trên thân cây vàng nghệ có lá buông quấn sẽ tạo thành nếp sáng giữ màu so với những mảng đen bị khói hun ám vào. Thân cây vàng nghệ có đường nét hoa văn với các hình thoi đen và đường dây trắng liên tục nối chéo nhau.

Trên ngọn của cây nêu, người Châu Ro làm một giỏ hình cái phểu. Để làm giỏ này, người Châu Ro dùng mây buộc chặt một phần của ngọn (cách ngọn khoảng 2 tấc) và chẻ từ ngọn xuống chỗ buộc làm 8 phần rồi nẻ ra. Sau đó, chọn thêm 10 thẻ tre bằng nhau tạo thành hình cái giỏ có 18 phần thẻ bằng nhau. Các thẻ này được bện kết với nhau bằng lạt mây rừng. Từ chỗ buộc dây tạo dáng hình phểu được mở rộng dần lên tạo thành một cái giỏ lớn. Trên vành miệng giỏ, người Châu Ro trang trí 36 chùm tia. Các chùm tia này làm từ cây vàng nghệ. Ban đầu người Châu Ro chặt từng đoạn thẳng bằng nhau được bào vỏ khá kỹ càng. Đoạn cây gỗ vàng nghệ hình chữ nhật. Một đầu đoạn cây gỗ giữ nguyên làm gốc. Người Châu Ro dùng dao côi chẻ tia từ đầu ngọn vào tạo nên một chùm tia với các lát dát mỏng hình vòng cung xoắn đều. Các chùm tia được gắn vào với phần gốc trên vành giỏ, chùm tia tỏa xuống phía dưới và ra bốn bên đều nhau tạo hình bông lúa lớn rất đẹp.

Từ tâm chính của giỏ buộc một đoạn cây tre ngắn cao vượt lên vành giỏ khoảng 40 tấc. Trên đoạn tre này buộc một khoanh bông gòn và trên cùng là chùm lúa chín, nhiều hạt. Trên vành miệng giỏ người Châu Ro trang trí 4 tia hơi ngả ra phía ngoài, đối xứng với qua đoạn cây tre cột chùm lúa chín. Các tia này cũng làm từ thân cây vàng nghệ. Trên thân các tia mỗi đoạn được vạt dồn những dăm bào xoắn dính liền từng nấc cho đến phần ngọn. Đầu hai tia cột một ít lông gà và hai tia còn lại buộc mỗi tia hai dát bông bào mỏng, dài của thân cây vàng nghệ tượng trưng cho lông đuôi của chim chèo bẽo (trước đây người Châu Ro gắn lông đuôi của loài chim chèo bẽo). Từ 4 tia này được cốt nối kết bằng các sợi chỉ qua lại đan xen nhau và trên các sợi chỉ gắn trang trí những cục bông gòn nhỏ.

Từ ngọn cây nêu trở xuống khoảng 6 tấc, người Châu Ro đục bốn lỗ vào thân cây. Tại bốn lỗ này đạt vào bốn thẻ nêm bằng nhau, từ thân cây chính đối xứng ra bốn hướng. Các thẻ nêm cũng làm từ cây vàng nghệ, mỗi thẻ dài khoảng 2 tấc và rộng khoảng 0,5 tấc. Trên các miếng thẻ nên phía đầu ngoài có khoét sẵn một lỗ tròn nhỏ. Bốn lỗ trên thẻ nêm dùng để gắn bốn cây nêu nhỏ.

Từ chỗ các thẻ nêm phía trên xuống phía dưới thân cây khoảng 6 tấc có thêm bốn lỗ đục âm vào thân cây. Tại đây cũng gắn các thẻ nêm như phần phía trên nhưng các thẻ nêm có kích cỡ to hơn.

Trên các thẻ nêm trên toàn thân cây nêu có 8 cây Nhang nhỏ. Những cây Nhang nhỏ này cũng được làm từ cây vàng nghệ. Cách thức làm cây Nhang nhỏ và cách trang trí trên nó cũng giống như làm cây nêu lớn nhưng kích cỡ nhỏ hơn. Mỗi cây nêu nhỏ dài khoảng 1 mét. Cây Nhang nhỏ chỉ có phần giỏ phía trên và thân dài nhọn đầu dần về phía gốc, hoa văn được tạo hình như cây nêu. Các phần bài trí trên cây nêu nhỏ tuân thủ theo số chẳn, như: 8 thanh làm giỏ, 14 hay 16 chùm tia và 4 tia trên vành. Điều khác biệt so với cây nêu chính là trên các giỏ cây Nhang nhỏ không có gắn chùm bông lúa. Các cây Nhang nhỏ được gắn vào các nêm chốt có phần ngọn đưa lên 1 phần và 2 phần gốc hướng về gốc cây nêu chính. Từ các phần gốc cây Nhang nhỏ buộc những lát thân cây vàng nghệ dài, xoắn, dát mỏng thả xuống; phía trên thân và đuôi các lát dát mỏng buộc các nếp bông gòn nhỏ.

Khi cây nêu được làm xong, người chủ nhà khấn Yang và cho trai làng dựng cây nêu trước khoảng sân nhà sàn. Tại chỗ dựng gốc nêu chôn một đoạn gốc có chạng chĩa làm đôi để giữ và buộc dây mây vào khoảng gốc khoảng 5 tấc.

Cây nêu có ba tầng nấc chính. Trên cao là chùm lúa nhiều hạt vươn lên với vai trò chủ thể cúng của người Châu Ro. Hai tầng nấc cây nêu nhỏ trên thân cây nêu chính tượng trưng cho thần linh và tổ tiên. Cây nêu được dựng lên như một nghi thức có tính chất trình báo về lễ cúng mà người Châu Ro quan niệm Yang lúa và các thần linh, tổ tiên biết được để đến dự. Cây nêu là biểu hiện sự giao cảm, giao hoà giữa con người Châu Ro với thần linh, với tổ tiên.

* Rượu cần:

* Bánh dày: Một trong những công việc người Chơro chuẩn bị cho lễ cúng Nhang lúa là làm món bánh dày. Bánh dày (Pin pu) được thực hiện vào trước lễ cúng một ngày. Trước tiên, người Châu Ro ngâm gạo nếp trong nước khoảng nửa ngày, sau đó vớt ra cho vào chõ hấp chín. Trong khi chờ xôi chín, người ta tiếp tục công việc rang mè đen. Liều lượng cứ một lon mè cho 4 lít nếp.

Muốn cho mè chín đều, người ta để chảo thật nóng trên bếp lửa, sau đó múc mỗi lần độ hai chén mè cho vào chảo để rang. Mè được khuấy nhanh, đảo qua đảo lại cho thật đều để mè chín nhưng không bị cháy. Trong quá trình rang mè, người Châu Ro rắc vào chảo một ít muối.

Khi mè chín, người Châu Ro cho vào cối giã nhuyễn. Mè giã lúc còn nóng thì sẽ giòn và mau nhuyễn. Trong khi giã, người Châu Ro rắc thêm một ít muối trộn lẫn với mè. Công việc rang và giã mè đều do những người phụ nữ Châu Ro đảm nhiệm. Thường một cối giã có ba người thực hiện.

Người Châu Ro quết một lớp mè trong cối sau đó cho xôi chín vào thực hiện việc quết bánh. Mỗi cối quết bánh do hai hoặc ba người giã, một người canh giữ để trở bánh cho đến khi nếp dẻo mịn. Trong khi giã, người Châu Ro rắc thêm bột mè đen để nếp không dính vào cối. Những người cầm chày giã mạnh. Khi bánh mềm dẻo thường bám vào chày giã. Người canh bánh phải lấy ra và đập mánh vào cối.Mỗi cối quết trong khoảng thời gian 20 phút. Bánh dày quết xong rất dẻo và mịn, có màu xám tro của mè đen. Bánh được vỗ tròn mỏng, đường kính mỗi ổ bánh khoảng 20- 25 cm, dày 2 – 3 cm. Người Châu Ro dỡ bánh bỏ lên lá chuối có rắc sẵn bột me, chồng các ổ bánh lên với nhau. Khi thực hiện nghi thức cúng Yang thì đem bánh dày (thường nguyên một ổ đặt lên bàn Nhang). Sau khi cúng xong, bánh dày được làm sẵn được người Châu Ro cắt ra từng miếng nhỏ vừa để đãi khách. Bánh dày có thể ăn không hoặc ăn với các thứ thịt nướng. Bánh dày có thể giữ được lâu trong khoảng 10 ngày. Khi mặt bánh khô, người Châu Ro dùng dầu chiên để ăn.

* Ống tre lồ ô: Tre lồ ô mọc trong nhiều khu rừng ở xã Phú Lý. Thân tre cao thẳng, từng đoạn ống dài. Người Châu Ro chọn những cây tre ống dài chặt đem về trước diễn ra lễ cúng nhiều ngày. Họ cưa thân tre thành những đoạn tương đối bằng nhau, thường dài từ khoảng 4 – 5 gang tay người lớn (tương đương 8 tấc đến 1 mét). Những đoạn ống tre có phần mắt làm gốc và một đầu thông. Tre lồ ồ dùng để nấu cơm lam, luộc củ nần, củ chụp, củ maì.

* Cơm lam: Người Châu Ro lấy nếp cho vào ống tre lồ ồ cưa sẵn. Ống tre dài thường là một lóng . Khi cho gạo (có thể thêm một ít hạt mè)và nước vào thì lấy lá chuối hoặc các lá cây rừng nhét lại. Dựng ống tre vào bếp lửa có cây ngang nấu cho đến khi chín. Sau đó, chẻ ống tre ra hoặc cắt khúc thành từng đoạn nhỏ. Thường vỏ ống tre được vuốt bớt đi để thân mền phía trong. Khi ăn, có thể dùng tay bóc nhẹ lớp vỏ ống mỏng, lấy cơm lam từng khúc nhỏ. A8n cơm lam thường chấm với muối mè.

* Đọt mây: Mây là loại dây leo, thân nhiều lớp vỏ có gai nhọn. Rừng miền Đông Nam Bộ có rất nhiều mây nhưng mây dài và có ngọn non thường mọc trong các khu rừng sâu, ít bị khai phá. Nhựng dây mài dài to, xanh mướt thường có phần ngọn trắng mềm với vị ngọt. Người Châu Ro thường chặt những đọt mây để nướng hay nấu canh. Trong ngày lễ cúng Sa Yang Va, đọt mây được chặt về dùng để nướng đãi khách. Thời gian đi chặt đọt mây với số lượng nhiều phải mất từ hai đến ba ngày. Người Châu Ro chặt nguyên ngọn mây và tuốt bỏ gai đem về. Đến ngày cúng lễ mới đem ra lột lớp vỏ cứng ngoài nhưng vẩn giữ những lớp vỏ mỏng bên trong để nướng. Đọt mây nướng trên than hồng sẽ cháy sém phần vỏ mỏng làm cho đọt non bên trong chín mềm. Khi độ chín đủ, người Châu Ro lột lớp vỏ mềm và lất đột mây non cắt khúc dọn mời khách. Đọt mây chín có mùi thơm béo và độ ngọt thanh.

* Củ chụp: Cây cho củ có bột là một loại thân dây leo, phía dưới có dạng củ nằm sâu trong lòng đất (từ 0,5 m trở đi) chứa rất nhiều bột mà đồng bào thiểu số đã biết dùng thay cho gạo. Thường mỗi dây cho củ lớn từ 0,5 kg – 5kg. Người dân tộc thiểu số hay dùng cây tre dài, chẻ đầu tua nhọn hình vòng dạng cái chụp để đào củ nấu ăn khi nương rẫy thất bát nên gọi là củ chụp. Ở vùng rừng Phú Lý, hiện nay củ chụp được đào trong những khu rừng rất xa nơi đồng bào Châu Ro sinh sống. Củ chụp được đào về và gọt vỏ để bỏ trong ống tre lồ ô nướng đãi khách trong ngày lễ hội cúng Sa Yang Va.

* Củ nần: Củ nần từ một loại dây leo như loại dây khoai mỡ, lá hình thoi, thường 1 cuống có ba lá chõi ra, rễ hình thành dạng củ. Dây nần càng lâu năm thì củ càng to nhưng qua thời gian dài thì củ tự tiêu để đâm ra những chùm rễ mới. Từ những rễ mới lại hình thành nên các củ khác. Dạng củ nần phát triển lúp búp trên mặt đất quanh dây, nửa âm dưới mặt đất, nửa trồi lên phấn cuống củ. Củ nần có màu trắng - vàng chứa nhiều tinh bột. Người Châu Ro trước đây dùng củ nần để ăn trong những lúa thiếu lương thực. Củ nần được xắc mỏng bỏ vào ché, cứ một lớp lát củ nần thì xen kẻ lá bứa để ngâm. Sau bảy ngày đêm ngâm đem ra suối nhồi nước cho hết màu nước đục để mất các độc tố trong lượng bột và nấu để ăn. Trong lễ cúng Sa Yang Va, củ nần được đào về gọt vỏ và ngâm trước với muối. Sau đó, chẻ lát bỏ vào ống tre với nước để nấu làm thức ăn đãi khách

* Củ mì: Loại củ cho nhiều tinh bột. Cây thẳng, thân có nhiều mắt. Thường được người Châu Ro trồng quanh nhà hay trên rẫy. Loại củ mì có nhiều loại khác nhau. Thường chuẩn bị cho lễ hội, người Châu Ro đào củ mì có thân màu trắng, vỏ củ màu trắng (có nơi gọi là mì bún) đem về lột vỏ và ngâm nước. Sau đó xắc lát cho vào ống tre lồ ô để nấu chín, đãi khách sau khi cúng.

* Lá bếp: Còn gọi là rau diếp. Đây là loại rau mọc trong rừng sâu, thường cách xa nơi người Châu Ro sinh sống. Lá bếp có màu xanh và tím…… Thường người Châu Ro hái về trước một ngày. Tại Lý Lịch, người phụ nữ Châu Ro đi hái lá bếp mất một ngày trời vì rừng xa và phải hái với số lượng nhiều để nấu canh hay nướng. Cách nướng lá bếp khá độc đáo. Người Châu Ro nhúng lá bếp vào nước sau đó rảy nhẹ cho nước bớt lại. Họ xếp chồng lá bếp vào một ít lớp lá chuối và bó lại vuông vức, buộc dây. Sau đó mỗi vuông bó lá bếp được kẹp vào nẹp tre nướng trên than lửa hồng. Mất một khoảng thời gian không lâu thì lá bếp được nướng chín. Họ mở ra và đãi khách. Lá bếp nướng ăn bốc bằng tay. Lá chín mềm, có vị thanh mát. Còn lá bếp dùng nấu canh thì người Châu Ro cho vào nồi đun sôi sau đó nêm gia vị (muối) vừa mứa để có vị mặn và ngọt vừa nếm. Một loại canh mà người Châu Ro trong bữa cơm trước đây thường dùng.

*Đan chiếu dứa: Chiếu dứa được người Châu Ro đan để sử dụng cho nhu cầu nghỉ ngơi hằng ngày. Trong lễ hộ cúng Yang lúa, người Châu Ro đan chiếu dứa để những người tham gia ngồi làm các lễ vật cúng, thức ăn hay đánh cồng chiêng, hát, thổi khèn, kèn…

Cây dứa rừng có lá dài và mềm, dẻo. Người Châu Ro hái lá dứa, tuốt phần gai trên lá và phơi 4 ngày. Qua bốn ngày nắng phơi nắng, sương, lá dứa mềm lại và người Châu Ro bắt đầu đan chúng thành những tấm chiếu. Cách đan theo thể đan long mốt, tức xỏ đan theo kiểu lồng ghép theo thứ tự trên dưới các dây với nhau. Các sợi lá dứa có bề rộng khoảng 1 phân. Chúng được đan chèn nối tiếp nhau theo nhiều lần tạo thành tấm rộng. Hướng đan từ trong ra ngoài và kết thúc thường ở các góc hình chữ nhật của chiếu. Người đan bẻ góc lận vào dấu đầu mối của sợi dây. Tấm chiếu dứa thường có kích cỡ rộng 6 tấc, dài 1mét dùng. Hiện nay, tại ấy Lý Lịch, bà Hồng Thị Trang (67 tuổi) đan được loại chiếu này. Chiếu dứa được người phụ nữ Châu Ro tham gia lễ hội dùng chỗ nghỉ ngơi hay làm các công việc chuẩn bị thức ăn.

* Heo: Loại heo người Châu Ro dùng để cúng trong lễ Sa Yang Va là loại heo cỏ. Trước đây, mỗi gia đình người Châu Ro thường hay nuôi loại heo này và khi nhà tổ chức lễ cúng thì họ đem heo làm lễ vật. Nều nhà không nuôi thì có thể đi mua từ nơi khác. Con heo không có quy định cụ thể nhưng khi dùng để cúng phải có những đặc điểm như: Toàn thân phải đen (không có vết loang lỗ các màu khác), thường là từ 10 kg trở lên, heo không bị khuyết tật hay bệnh.

* Gà: Loại gà trống của nhà nuôi hoặc mua. Không quy định cụ thể nhưng gà dùng cúng thường mạnh khoẻ, có dáng vóc đẹp và nhanh nhẹn, thịt nhiều. Gà dùng làm thịt lấy huyết bôi để thực hiện một số nghi thức tiết tế và làm lễ vật bày cúng tại bàn thờ Nhang.

* Thịt thú rừng: Trước đây, mỗi khi tổ chức lễ cúng Sa Yang Va thì nhà ngươi chủ thường cho nguời thân đi săn thú rừng nhiều ngày. Nhiều loại thú rừng săn được sẽ lấy thịt dùng chế biến các món để đãi khách. Các loại thú nguời Châu Ro thường săn được là heo, cheo, thỏ, chồn, mễn, khỉ hay các loại chim…Thường mỗi khi săn được con thú nào, làm thịt thì người Châu Ro thường giữ lại bộ xương hàm để treo trong nhà. Tại nhà già làng Năm Nỗi, trên mái nhà trước bàn thờ Nhang có treo một dãy dài những hàm của con thú rừng mà người thân trong nhà săn được. Ngày nay, nhà nước quy định cấm cửa rừng và bảo vệ động vất hoang dã nên người Châu Ro không có cơ hội săn thú rừng lấy thịt cho đãi khách trong lễ hội.

3. Những nhạc khí cụ dùng trong lễ cúng Sa Yang Va

- Chinh: Người Châu Ro còn gọi là Đồng la. Hiện nay, già làng Nguyễn Văn Nổi còn giữ được bộ chinh ở ấp Lý Lịch xã Phú Lý huyện Vĩnh Cửu. Sử dụng bằng cách đeo đánh bằng tay. Người đàn ông hoặc người phụ nữ đều có thể đánh được. Trong phối đánh không phân biệt giới nhưng theo thứ tự. Tùy theo những nội dung thể hiện mà những người biết đánh sắp theo thứ tự để thể hiện. Trước đây, trong cộng đồng Châu Ro, chỉ có những gia tộc, gia đình có điều kiện kinh tế khấm khá mới sắm được bộ nhạc cụ này. Chinh được sử dụng trong các lễ hội cổ truyền, tiết tết của người Châu Ro. Loại hình nhạc cụ phối hợp diễn tấu tập thể.

Chinh là bộ nhạc cụ có bề mặt tròn, trơn phẳng. Bộ gồm 6 chiếc. Mỗi bộ chinh ở từng cộng đồng Châu Ro có khác nhau về dàn và định âm, chức năng riêng biệt.

Chất liệu làm nên bộ chinh bởi kim loại đồng. Khi có vật tác động vào tạo nên tiếng vang lớn, ngân dài. Khi sử dụng, người Châu Ro dùng nắm bàn tay tác động lên bề mặt trơn phẳng theo từng giai điệu tiết tấu âm thanh, nhằm tạo ra âm chuẩn. Đồng thời tay cón lại cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phối hợp diễn tấu. Bàn tay đặt dưới mặt lòng chinh lúc úp vào hay xòe đỡ với những cách ấn vào đỡ nhẹ hay thả ra (bấm hay buông) để xử lý sắc thái âm thanh lơn, nhỏ, trầm bổng theo giai điệu mà nội dung cần thể hiện.

Tính năng của Chinh rất quan trọng. Đây là loại nhạc cụ không thể thiếu trong lễ hội cổ truyền của người Châu Ro. Về mặt xã hội thì người nào biết tấu chinh hay sở hữu bộ chinh cũng là niềm tự hào trong cộng đồng. Chinh là loại nhạc cụ có lợi thế về tạo nên giai điệu hơn hẳng với Chiêng (Goong). Trong dàn chinh, người Châu Ro có thể chọn ra một bộ 3 chiếc để cho ngững người tấu chinh thi tài với nhau.

- Chiêng: Còn gọi là Goong. Nhạc cụ Chiêng gồm nhiều bộ như bộ có 5 chiếc, 6 chiếc hoặc 7 chiếc. Loại nhạc cụ này trên mặt phẳng đánh có núm tròn nhô lên. Đây là loại nhạc cụ khá phổ biến và quan trọng được người Châu Ro dùng trong các dịp lễ hội cộng đồng, trong lễ của chu kỳ vòng đời người như tang ma, lễ cưới. Người phụ nữ Châu Ro thường sử dụng loại nhạc cụ này. Họ treo lên thành từng dàn, có thể trong tư thế đứng hoặc ngồi mà đánh. Thông thường mỗi dàn chiêng có khác nhau về định âm thang âm, kích cỡ và cách quãng. Bộ chiêng được phân định chiêng mẹ đến chiêng con (chiêng lớn đến chiêng nhỏ). Tác động lên u núm để tạo âm thanh trên chiếc Chiêng người Châu Ro dùng đọan thanh gỗ, thân cây gòn, cây tầm phúc nhưng tốt nhất là các thân dây mây, chắc, dẻo bền. Nếu dùng cây gỗ khô đẩ đánh thì người Châu Ro thường buộc quấn vào đầu cây một lớp vải để khi đánh vào giảm độ vang chói của kim loại.

Về mặt xử lý âm thanh, sắc thái của nhạc cụ Chiêng tương tự như nhạc cụ Chinh. Chỉ khác nhau về vai trò tay trái khi tác động để tạo âm lớn, nhỏ trong sáng hay mờ của Chiêng không được thuận tiện như Chinh. Lòng chinh trơn nên những động tác tạo âm (bấm, buông) trong lòngcòn Chiêng do có lõm trong tạo u núm mặt trên nên người đáng tạo âm theo chuẩn tiết tấu bằng cách nắm, buông trên vành.

Chất liệu làm nên bộ Chiêng chủ yếu bằng kim loại, trong đó đồng đóng vai trò chủ đạo. Mỗi chiếc Chiêng có độ nặng nên khi diễn tấu thường được đặt vị trí cố định. Có hai tư thế khi đánh Chiêng: đánh trong tư thế ngồi trong các lễ hội cổ truyền, đánh trong tư thế đứng trong lễ tang ma. Cũng có một số trường hợp, người Châu Ro đeo Chiêng vào vai, mỗi người một chiếc tạo hình vòng tròn vừa đi vừa tấu. Trong tư thế này, người tấu chiêng dùng nắm bàn tay để gõ vào u núm chiêng. Thông thường chỉ tấu được 3 bài là phải nghỉ để lấy sức. Nhưng trên thực tế, những quy định này ngày nay không còn giữ như trước đây. Những bài tấu trong lễ hội có nhịp tấu vang, thể hiện sự vui mừng của con người và chào mời thần linh.

- Đàn tre : Loại nhạc cụ này ngắn chỉ một phần thân ống của cây tre già. Đọan thân tre được chọn cưa ngay hai đầu lóng giữ cho tòan đọan tre giữ được nguyên vẹn hơi phía trong ống. Trên phần ngoài vỏ ống, người Châu Ro tách tạo thành 6 dây. Thường để tạo một dây phải tách làm 3 tách vỏ mỏng song song. Dây mỏng ở giữa để gãy tạo thanh âm, còn 2 dây hai bên để phụ cho mảng trống của dây chính, chêm cho dây giữa nhô ra.

Theo nhiều người Châu Ro lớn tuổi thì đây là nhạc cụ dễ làm. Nếu nhà người Châu Ro nào nghèo không có tiền, hay trâu bo, chum chóe quý để đổi Chinh thì họ làm đàn tre. Loại nhạc cụ này do một người diễn tấu với bài bản giống như một dàn chinh nhưng âm thanh nhỏ hơn nhiều. Họ tự chế loại nhạc cụ này để có thể tấu diễn hay thưởng thức thay thế cho dàn Chinh trong các dịp lễ hội…Hiện nay, một số người Châu Ro lớn tuổi còn sử dụng loại nhạc cụ này để giải trí hay gãy trong các dịp lễ tết của gia đình. Những người trẻ ít biết sử dụng đàn tre này. Trong các dịp lễ hội, sau khi ăn mừng, những người già làng thường tấu lên những bài Chinh để cho mọi người nghe.

Khi sử dụng đàn tre, người Châu Ro thường đứng hoặc ngồi rất thoải mái. Đàn tre có một điểm tựa phần gốc vào người diễn tấu. Đàn tre đưa hơi chếch lên so với điểm tựa và về phía trước mặt. Hai bàn tay người tấu châu vào ôm thân đàn và các ngón tay xếp theo từng bậc của dây. Tay phải đóng vai trò chủ đạo trong diễn tấu. Các ngón tay khác tùy theo sự thành thạo hay điêu luyện của người diễn tấu mà có thể dùng để khảy các dây. Trước khi diễn tấu các bài cùng điệu thức, chủ âm thì người tấu phải chỉnh dây bằng cách đẩy những miếng gỗ chêm nhò tại các đầu dây (ra, vào) để nâng độ dây lên cao hay chùng xuống theo ý muốn (xem như cây ngựa đàn).

Đàn tre là loại nhạc cụ thường được dùng diễn độc tấu các bài bản giai điệu như của cồng chiêng…Tính năng thể hiện của Chinh K;la rất đa dạng, phong phú ở các tiết tấu nhanh hoặc chậm, trầm lặng hoặc sôi động. Âm thanh của loại nhạc cụ này nghe hơi mờ, tối, độ vang ngắn. Loại nhạc cụ này hiện nay có già làng Nguyễn Văn Nổi (ấp Lý Lịch, xã Phú Lý huyện Vĩnh Cửu) thường sử dụng.

- Kèn môi: Kèn được làm bởi một thanh tre lồ ô nhỏ, mỏng. Chiều dài khoảng 20 cm, rộng 0,2 cm. Mảnh tre được vuốt láng trơn bề mặt và lòng phía trong. Một đầu mảnh tre tạo đầu nhú như hình tra cán rìu nhỏ.

Một đầu vuốt nhọn dần. Giữa mảnh tre được tạo một lưỡi gà để tạo âm thoa khi thổi. Phần lưỡi gà được tạo chiếm 2/3 chiều dài lòng thân mảnh tre. Lưỡi gà còn có thể làm bằng một lá đồng mỏng. Vì chất kim loại nên tiếng kêu sẽ thanh hơn nhưng khó làm.

Người Châu Ro dùng miệng để thổi kèn. Phần lưỡi gà đặt ở môi. Tay trái giữ lấy đầu nhọn. Phần lưỡi gà đặt ở môi. Tay phải khảy bật phần đầu nhú làm cho lưỡi gà rung tạo thành âm vang ra. Khi thổi, người Châu Ro dùng lưỡi điều chỉnh hơi và vòm miệng để thay đổi âm sắc.

Thường người Châu Ro khi canh chòi, giữ rẫy thường sử dụng loại kèn môi để thổi. Người thanh niên của Châu Ro trước đây cũng thường dùng kèn tồng để bày tỏ tình cảm đối với cô gái mà mình yêu mến. Họ thường đến dưới nhà sàn hoặc những gốc cây gần nhà cô gái để thổi.

Giai điệu và âm từ kèn môi phát ra rất nhẹ nhưng thanh. Người thổi tạo âm và khảy theo chủ đích thì người nghe có thể hiểu được chủ ý. Âm phát từ kèn là tiếng được tạo từ miệng, môi một cách nhẹ nhàng để khi thổi và khảy bật tòan thanh kèn tạo nên độ luyến láy.

Đây là nhạc cụ tự tạo. Trong lễ hội, người Châu Ro dùng kèn môi để cầu chúc điều tốt lành cho những người tham dự lễ hội, vui chơi. Hiện nay, ở Lý Lịch, bà Hồng Thị Lịch còn thổi được kèn mối.

- Kèn lúa: Người Châu Ro dùng thân cây lúa để làm kèn thổi nên có tên gọi như thế. Thân cây lúa phải lớn, trong thời kỳ trổ đòng thì có ống dài và đoạn mắt. Thân lúa được cắt về để ngâm trong nước giữ độ tươi. Người Châu Ro dùng tay bóc lớp vỏ ốp thân lúa phía ngoài, chọn lấy phần ống có đoạn mắc. Từ đoạn mắc dài ra khoảng một gang tay thì cắt vát. Tại gần phần đoạn mắc dùng dao khứa một đường nhỏ cắt vào một phần ba thân ống. Từ đường cắt khứa mỏng này bật lên phía sau khoảng một đốt ngón tay để làm lưỡi gà. Trên ống thân lúa cùng bề mặt có lưỡi gà khoét bốn lỗ nhỏ thông vào thân ống đều nhau (thường là hình vuông hoặc hình tròn) có tác dụng thoát hơi. Phần đoạn mắt có lưỡi gà để ngậm vào miệng thổi, các lỗ hơi dùng ngón tay trỏ và giữa của hai bàn tay vừa che vừa thả tạo làn điệu theo cách của người thổi. Thường người Châu Ro dùng ngón trỏ, ngón giữa của hai bàn tay vừa che vừa thả tạo làn điệu. Người Châu Ro trước đây dùng kèn lúa thổi theo các làn điệu để hẹn hò tâm sự tình yêu nam nữ. Nay không còn duy trì. Trong lễ cúng Sa Yang Va, các phụ nữ lớn tuổi thổi kèn lúa với các giai điệu trầm bỗng nghe như nhớ về làn điệu xưa và góp vui cho cộng đồng trong các tiết mục sinh hoạt văn nghệ trong thời gian diễn ra lễ hội. Tại ấp Lý Lịch hiện nay, bà Hồng Thị Trang là người thổi kèn lúa có những làn điệu rất hay.

Kèn bầu: Kèn được làm bằng trái bầu già để khô và 6 ống trúc. Trái bầu được vét sạch phần ruột, để trống. 6 ống trúc có độ dài ngắn khác nhau: ống dài nhất khoảng 80 cm, ống ngắn nhất khoảng 45 cm.

Các ống trúc được gắn vào một phần bên hông của trái bầu rồi xuyên qua cả trái bầu theo chiều ngang bằng sáp ong. Phía trên gắn 4 ống, phía dưới gắn 2 ống, đầu phía ngoài choãi ra cùng một hướng nhưng với góc lệch khoảng 15 - 20 độ. Các ống trúc được chế lưỡi gà bằng miếng kim loại mỏng, phần lưỡi gà đưa vào phía trong trái bầu. Trên thân ông trúc phía ngoài, mỗi ống có lỗ hơi phía dưới.

Về kỹ thuật diễn tấu, người Châu Ro dùng miệng ngậm vào đầu trái bầu khô. Hai tay giữ các ống trúc vừa giữ kèn đồng thời tạo nhịp âm theo ý muốn. Khi hút hơi vào, các ngón tay giữ bịt các lỗ hơi trên thân ống trúc. Khi thổi hơi ra, ngón tay giữ ống trúc nào nhả lỗ hơi thì lưỡi gà sẽ tạo ra âm thanh.

Tư thế người thổi kèn bầu đa dạng. Người thổi có thể ngồi hoặc đứng. Trong các lễ hội với không khí nhộn nhịp, náo nhiệt, khi hòa tấu cùng dàn nhạc cụ như chinh, chiêng, người thổi có thể vừa đi vừa thổi với những bước nhịp chân. Những người thổi giỏi vừa nhảy vừa thổi nhưng vẫn giữ được thanh nhịp bài thổi.

4. Cách bày trí các khu vực diễn lễ cúng Sa Yang Va

Tuyến tính diễn ra lễ cúng Sa Yang Va tại ba địa điểm chính là rẫy lúa, nhà sàn và kho lúa.

Rẫy lúa: Liên quan đến nghi thức rước hồn lúa. Tại đây, khi thu hoạch mùa, vạt lúa có chùm bông nhiều hạt, chín vàng. Những bông lúa được bó lại bằng tranh, rơm, lá chuối và rào bốn bên bằng các loại gai bằng tre, cây cối để bảo vệ cẩn thận cho đến khi lễ cúng Sa Yang Va diễn ra.

Nhà sàn: Trên gian nhà chính của nhà sàn để bàn thờ Nhang và là nơi diễn ra những nghi thức cúng trình Yang nhi (Yang nhà). Bàn thờ cúng có ba tầng nấc gắn vào vách. Từ hai tầng trên bàn thờ có hai cây nhô thẳng ra phía trước để gắn hai cây đèn sáp. Tầng trên cùng để chén đựng vỏ cây chùm hum được hun khói xông; tầng thứ hai để bài trí lễ vật cúng. Cây Nhang (được mô tả trong phần cây nêu) được cắm vào bàn thờ từ giữa tầng hai theo chiều xuôi xuống. Phần giỏ bông cây Nhang và các tia toả về phía trước bàn thờ theo hướng song song vơi mái trần nhà/ nơi để những đồ vật của mùa cúng Yang Va năm trước.

Phần dưới cùng bàn thờ bày những ché đựng lúa, gạo, nếp của các mùa thu hoạch trước. Trước bàn thờ khoảng 1 mét đặt ché rượu cần. Phía vách đối diện bàn thờ Nhang là bộ chiêng được người Châu Ro dùng dây mây treo lên một cây ngang buộc theo một đà cây mái nhà. Những cái chiêng được treo vừa tầm đối với người ngồi đánh.

Phía dưới sân nhà sàn được dọn sạch sẽ. Cây nêu được dựng giữa sân. Gốc cây nêu là nơi cột những con vật sẽ làm thịt để hiến tế trong lễ hội. Cách cây nêu khoảng 2 mét có dựng khung giàn để treo chiêng (vị trí không bắt buộc). Xung quanh sân với cây nêu làm tâm có làm những dãy cây rừng buộc dã thô để làm chỗ ngồi cho người dự lễ.

Kho lúa: Là nơi để cất giữ lúa mà người Châu Ro thu hoạch mùa màng vừa qua. Trước đây với sàn kho bằng gỗ thì người Châu Ro trải lúa trên cả phía trong kho. Nay, với nhu cầu bảo quản lâu dài nên người Châu Ro sử dụng các đồ đựng bằng nhiều chất liệu để chứa lúa và cất giữ trong nhà kho. Dù nhà kho còn chứa lúa hay không thì khi tổ chức lễ cúng Sa Yang Va thì trong kho phải có một số lúa tượng trưng. Nhà kho được dọn cho tươm tất, sạch sẽ.

5. Diễn trình các nghi thức trong lễ cúng Sa Yang Va

Rước hồn lúa: Bắt đầu cho buổi lễ cúng Yang lúa là nghi thức rước hồn lúa. Khi buổi sáng của ngày cúng bắt đầu, lúc mặt trời lên, người nhà của người Chơro tổ chức lễ thực hiện việc đi rước hồn lúa. Người gọi Yang lại khấn trình trước bàn thờ và cho người đi lên rẫy.

Người phụ nữ chính trong nhà và người thân (số lượng người không quy định nhưng không đông lắm, thường chỉ có ba người) đem theo liềm, chà gạc, bầu khô đựng nước để trong gùi mang đi. Họ đi về hướng rẫy lúa nơi để dành sẵn một chùm lúa chín. Rẫy lúa ở khá xa với nhà người Châu Ro đang cư ngụ.

Tại khu rẫy, khi thu hoạch mùa màng, người Châu Ro để lại một vạt lúa tốt có những bông lúa trĩu hạt. Khi đi đến nơi, người phụ nữ chính thực hiện nghi thức khấn. Lời khấn mang nội dung: báo cho hồn lúa biết hôm nay nhà tổ chức lễ cúng Sa Yang Va và mời hồn lúa từ rẫy về nhà dự lễ cúng, cầu xin hồn lúa thuận ý và phu hộ cho mọi sự diễn ra tốt lành. Khấn xong, người phụ nữ lấy nước trong trái bầu khô đem theo rảy vào chùm lúa thể hiện sự tẩy sạch và tươi tắn cho chùm lúa chọn. Những người đi theo dỡ bỏ những rào che, mở chùm lúa khỏi những dây bó, lá chuối và lấy liềm gặt lấy, bó lại, bỏ vào gùi.

Khi gặt chùm lúa chọn xong, những người đi theo tìm đến một phần đất khác để chặt hai ngọn mía và hai ngọn chuối con (có khi không có mía nhưng bắt buộc phải có đọt chuối non). Những cây mía và cây chuối cũng được chọn sẵn trước với điều kiện lá xanh, đọt thẳng, thường nảy nở từ những bụi gốc lớn. Trước khi chặt đọt chuối (cây mía) người phụ nữ Châu Ro đọc lời khấn báo gia đình làm lễ cúng Yang Va và xin được chặt chuối non về làm lễ; bên cạnh đó, họ đọc lời khấn cho con cai trong nhà được an, được phúc, nhanh lớn như đọt chuối. Tất cả những đồ vật được bỏ vào gùi và mang về nhà trình qua Yang nhà.

Những vật lấy từ rẫy có ý nghĩa quan trọng trong quan niệm của người Châu Ro khi tổ chức cúng. Chùm bông lúa chọn là hồn lúa của mùa màng và qua đó, người Châu Ro thể hiện lòng biết ơn đối với thần linh trong mỗi kỳ làm rẫy. Cái tốt nhất, đẹp nhất dành cho ngày cúng tế Yang lúa. Hai hai đọt chuối non (cây mía) thể hiện sức sống, sự sinh sôi nảy nở của con cái như lời khấn và cho các loại cây khác mà người Châu Ro trồng tỉa trên nương rẫy. Con số hai (chẵn) của lễ vật rẫy biểu hiện của người Châu Ro trong quan niệm sự hoàn thiện, có đôi, có bạn cho cả người chủ rẫy, chủ gia đình người gọi Yang.

Khi những người đi rước hồn lúa về thì họ dừng lại ngay tại gốc cây nêu. Tại gốc cây nêu có buộc sẵn các con vật hiến tế là heo và gà. Người Châu Ro để gùi xuống chứa đựng các vật đem về từ rẫy: chùm bông lúa, hai cây mía, hai cây chuối như trình báo cho thần linh, tổ tiên chứng giám.

Trình Yang nhà và làm vật hiến tế: Khi những người đi rước hồn lúa về trình các lễ vật tại gốc cây nêu thì người gọi Yang ngồi chờ sẵn tại cửa nhà sàn. Người phụ nữ mang gùi lên cầu thang và giao lại những vật mang từ rẫy cho người gọi Yang. Người gọi Yang đem các vật từ rẫy vào trước bàn thờ. Các chùm bông lúa đặt lên tầng thứ hai của bàn thờ. Sau đó, người gọi Yang tách lấy một phần của chùm bông lúa ra từng bông gắn lên thân cây Nhang mùa cúng trước, đọt chuối non gắn hai bên cây Nhang. Vừa đặt sắp các vật, ngươi gọi Yang vừa đọc lời khấn với vẻ mặt cung kính. Một người phụ cúng bắt con gà từ cây nêu đưa cho người gọi Yang. Người gọi Yang cầm con gà cúng ngồi trước bàn thờ Nhang đưa lên vái ba lần, miệng đọc lời khấn xin làm thịt những con vật hiến tế. Những người phụ cúng đem cây Nhang và con gà xuống phía dưới nhà sàn làm thịt. Một người cắt cổ gà lấy huyết bôi đều vào các chùm tia của cây Nhang. Sau đó, những người phụ cúng bắt heo từ gốc cây nêu làm thịt. Khi cắt cổ, họ dùng thanh tre vuốt nhọn thọc huyết. Huyết chảy ra liền được họ lấy tay nhúng và bôi đêu lên cây Nhang mà trước đó đã bối huyết gà. Khi bôi xong, một người sẽ đem cây Nhang lên nhà sàn đưa cho người gọi Yang. Người gọi Yang cung kính đón lấy và đọc lời khần trình lên Yang nhà và gắn vào phía dưới bàn thờ Nhang. Khi cây Nhang được bôi huyết hai con vật tế thì được đem cắm vào phần dưới cùng của bàn thờ. Trong thời gian trình các lễ vật từ rẫy cho đến trình cây Nhang đã được bôi huyết các con vật hiến tế thì những người phụ nữ Châu Ro liên tục đánh giàn chiên trên nhà sàn để tấu những làn điệu nhộn nhịp mừng lễ cúng.

Phía dưới nhà sàn, ngay từ buổi sáng diễn ra lễ cúng, những người Châu Ro tham gia lễ hội làm các thứ thức ăn như bánh dày, cơm lam, củ nần, củ mì, củ chụp, đọt mây…để đãi khách khi lễ cúng hoàn tất. Nếu lượng thức ăn nhiều thì họ chuẩn bị từ đêm trước lễ hội.

Bánh dày được làm từ sáng sớm. Người Châu Ro rang mè đen, sau đó cho vào xôi nếp đem đi giã. Để thực hiện một ổ bánh dày thì ba người giã và một người phụ trở bánh trong cối. Khi xôi và mè được giã nhuyễn thì họ cầm bánh đập vào cối cho có độ dẻo chặt. Bánh mềm dẻo với màu đen, trắng chấm li ti được tạo dáng hình tròn để trên lá chuối rừng.

Nếp, củ nần, củ mì, củ chụp, đọt mây được người Châu Ro cho vào ống tre lồ ô với một lượng nước vừa đủ để nấu. Tất cả các ống tre được bịt chặt lại bằng lá chuối. Một bếp lửa dài được đốt lên và có một giá đỡ ngang để giữ những ống tre. Những người tham gia nấu phải liên tục canh độ lửa để trở những ống tre đang nấu cho chúng được đốt đều. Lá bếp thì được quấn trong lớp lá chuối, kẹp vào thanh tre để nướng. Thịt heo, thịt gà được xâu chuỗi trong các xiên tre vót nhọn để nướng. Các thức ăn làm được bày sẵn theo thứ tự trên các sàn tre, cây được làm sẵn.

Nghi thức cúng Yang nhi: Lễ cúng Yang thường được bắt đầu vào buổi trưa. Để chuẩn bị cho buổi lễ những người phụ cúng bắt đầu bài trí khu cúng trên bàn thờ Nhang trên nhà sàn. Bàn thờ Nhang được bày các lễ vật. Chén vỏ cây chùm hum được chuyển từ tầng trên cùng xuống tầng thứ hai của bàn thờ để xông hương, hai cây đèn cầy sáp ong được đốt lên. Bên cạnh đó là các lễ vật cúng như bánh dày, cơm lam, cù nần, củ mì, đọt mây đã được nấu chín.

Ché rượu cần được khai miệng, đổ nước vào, cắm những ống hút bằng tre. Bốn ống hút nghiêng ra bốn hướng và 1 ống chính (ngắn) ở giữa và cái cò bắc ngang miệng ché. Từ bốn ống hút bốn bên được cốt nối vòng những sợi dây chỉ đều nhau. Có hai sợi dây chỉ nối từ hai ống hút của ché rược cần lên trên trần nhà / nơi để những bông lúa, cây nhanh của mùa cúng trước. Trên những sợi dây được kết những bông gòn theo từng nấc tượng trưng cho cái thang để thần linh đến dự hưởng rượu cần của mùa lúa đã thu hoạch. Người phụ cúng nối vào ống hút ngắn chính giữa một đoạn dây ống nhựa để lấy ra một chai nước rượu đầu tiên.

Thịt của các con vật hiến tế được đem lên bàn thờ. Lễ vật này gồm một đùi heo phía chân sau, giữ nguyên đuôi; một nửa con gà nhưng giữ nguyên phần đầu và đĩa đựng một số đồ lòng của con vật như gan, cật, một ít thịt chặt rời. Các phần thịt để tươi. Người gọi Yang bày lễ vật phía dưới bàn thờ Nhang cùng với một ổ bánh dày và các loại củ nầu chín (nần, mì, chụp). Sau đó, người phụ cúng đem đĩa thịt ra xâu vào hai xiên tre (mỗi xiên tre xâu riêng biệt thịt heo, gà).

Người gọi Yang ngồi trước ché rượu cần, mắt hướng về bàn thờ Nhang đọc lời khấn. Những người phụ cúng đứng phía sau. Tại Lý Lịch, già làng Năm Nổi đọc lới khấn. Lời khấn mang nội dung: “ Gia đình chúng tôi xin vái các thần linh, vái ông bà tổ tiên. Hôm nay gia đình tổ chức cúng Yang Va. Chúng tôi xin thần linh, tổ tiên về chứng giám. Chúng tôi xin trình Yang nhà những việc đã qua. Chúng tôi cảm ơn thần linh, tổ tiên đã phù hộ gia đình tôi một năm qua bình yên, mùa màng cây trái tốt tươi, nương rẫy lúa cho nhiều hạt. Hôm nay gia đình tôi làm heo, gà, bánh trái…tạ ơn thần linh, tổ tiên. Xin thần linh, tổ tiên về cùng dự lễ cúng này và tiếp tục phù hộ, giúp đỡ mạng sống tất cả mạng người trong gia đình. Người trong gia đình, dòng tộc dù ở đâu, làm gì, lúc ở nhà hay làm rẫy, lúc lên rừng hay xuống suố đều được được Yang nhi gìn giữ bình an, không bị bệnh tật, ma quỷ làm hại. Người trong gia đình từ già tới trẻ đều may mắn. Cầu xin thần linh cho cây cối, lúa rẫy chúng tôi trồng có mưa có gió thuận hoà, giúp đỡ từ gốc tới ngọn, cây cối không bị thú dữ phá hư, mùa màng , thú nuôi không có dịch hại, lúa cho thêm nhiêu hạt, thu về cất đầy kho nuôi sống gia đình. Năm nay tôi cúng lễ như thế này, năm sau gặt hái nhiều hơn tôi nguyện tạ ơn nhiều hơn. Bụng dạ tôi thần linh đều biết, sống có trước có sau. Bụng dạ tôi không gian dối, giấu diếm. Nếu bụng dạ tôi sai lời thì xin thần linh cứ quở phạt. Hỡi các thần linh, tổ tiên hãy nghe lời khấn hứa của tôi.”.

Khi khấn xong, người gọi Yang đứng lên đi về phía bàn thờ vừa lâm râm đọc lời khấn với nội dung cầu an cầu phúc vừa lấy mâm lễ vật như nâng lên mời thần linh. Người gọi Yang lấy một xiên thịt gà từ mâm lễ vật cắm vào ổ bánh dày trên tầng hai của bàn thờ. Mâm lễ vật (phần thịt gà/ nửa con với phần nguyên cái đầu; phần thịt heo / đùi sau và nguyên cái đuôi; ổ bánh dày,với các loaị củ nướng luộc chín, xiên lòng heo và đặc biệt là đầu heo ), chai rượu chắt từ ché rượu cần, chùm bông lúa được những người phụ cúng mang đi theo người gọi Yang. Người gọi Yang tay cầm cây Nhang có bôi huyết vật tế từ bàn thờ đi đến kho lúa.

Nghi thức cúng Yang Va tại kho lúa: Đến kho lúa, chỉ một người gọi Yang được trèo lên trong kho. Phần các lễ vật và một chén vỏ chùm hum khác được những người phụ giúp đứng phía dưới đưa lên. Khi bước vào trong kho, người gọi Yang vái khấn lâm râm với nội dung trình báo cho Yang Va biết gia đình tổ chức lễ cúng. Người gọi Yang cắm cây Nhang vào giỏ đựng lúa. Cây Nhang dáng đứng thẳng. Chùm lúa được sửa soạn, dắt ngang lên cây đòn dông của nhà kho trên ngọn Nhang. Trên giỏ cây Nhang để chén vỏ cây chùm hum hun khói xông nghi ngút. Dưới gốc cây Nhang trong giỏ lúa đặt chai rượu. Mâm lễ vật gồm thịt và bánh được bày trên sàn kho. Người gọi Yang vái lạy và ngồi tư thế xếp bằng, mắt hướng lên chùm lúa và cây Nhang đọc lời khấn. Nội dung của lời khấn về cầu phúc cầu an tương tự như lời khấn tại bàn thờ Nhang trên nhà sàn nhưng cầu thần Yang Va trước. Nội dung có thể tóm lược như sau: “ Cầu thần linh, tổ tiên về đây chứng giám. Hôm nay, gia đình tôi làm lễ cúng Yang Va. Tôi đã trình qua Yang Nhi. Nay tôi đem lễ vật đên cúng và cầu khấn Yang Va tại kho lúa của gia đình. Gia đình tôi biết ơn Yang Va đã giúp đỡ mùa hái gặt đã qua. Cầu xin Yang Va luôn thương xót gia đình tôi, phù hộ cho mùa màng, cây cối, nương rẫy của chúng tôi trồng mau xanh mau lớn, có mưa có gió thuận hoà, không bị thù rừng phá phách, dịch hại phá huỷ. Lúa chúng tôi trông cho nhiều hạt, thu vể chất đây kho để nuôi mạng gia đình. Xin thần linh, tổ tiên chứng giám cho lòng thành của gia đình chúng tôi. Gia đình chúng tôi luôn giữ tấm lòng thành, năm nào cũng tổ chức cúng Yang, tổ tiên. Xin thần linh, tổ tiên nghe lời khấn và phù hộ chúng tôi.

Đọc lời khấn xong, người gọi Yang vái lạy ba lần và đứng lên quya trở xuống đi về nhà sàn. Những lễ vật để lại trên kho lúa. Theo già làng Năm Nổi, trước đây, mâm lễ vật để tại kho lúa ba ngày ba đêm. Hiện nay, những lễ vật để tại kho lúa khoảng một tiếng đồng hồ sau khi cúng xong. Sau đó, những người phụ cúng đem xuống, phần thịt nấu chín, bánh trái đem lên nhà sàn đãi khách. Cây Nhang vài ngày sau được người gọi Yang đem lên dắt trên mái nhà trước bàn thờ Nhang trên nhà sàn.

Sinh hoạt cộng đồng: Người gọi Yang trở về lại nhà sàn và bắt đầu cho buổi sinh hoạt cộng đồng sau khi các nghi thức cúng hoàn tất. Những người đánh cồng chiêng tấu lên những bài mừng trong lễ hội. Gìan chiêng treo được những người phụ nữ tấu lên với nhịp điệu rộn rã, lặp đi lặp lại nhiều lần. Những người phụ cúng dọn thức ăn đã chuẩn bị cho lễ hội lên sàn nhà. Những người khách được mời, hầu hết là người lớn tuổi trong cộng đồng ngồi dự trên nhà sàn. Những người trong cộng đồng tham gia sinh hoạt dưới khoảng sân của nhà sân. Tại đây, những bàn cây, tre được đặt sẵn các thứ thức ăn. Mọi người vừa ăn uống, vừa nói chuyện vui vẻ.

Phía trên nhà sàn, người gọi Yang khai mở ché rượu cần mời khách. Người phụ nữ lớn tuôi nhất nhà uống trước và mời những người khách. Theo quan niệm của người Châu Ro, sự ưu tiên này là hành động biết ơn công lao của người phụ nữ do họ phải chịu nhiều cực khổ, từ việc nương rẫy đến nội trợ. Lần lượt khách mời đều được mời lên uống rượu cần. Một người trong gia đình cầm cây sáp ong trên bàn thờ đến cúi chào người khách nào thì người khách đó được lên uống rượu cần. Ché rượu cân có bốn ống hút. Thương đủ bốn người mới uống chung nhưng cũng có trường hợp có hai hoặc ba người. Tuỳ theo sức mà khách có thể uống nhưng thường thì chủ nhà mời mỗi khách một cò rượu (tương đương khoảng một chén nước). Người châm nước ngồi sẵn bên ché rượu châm nước và cân cò vào mỗi khi khách uống.

 Trong khi khách tham dự tiệc, uống rượu cần, cồng chiêng được tấu lên. Những người đánh cồng thì mang vào vai, vừa đi vừa đánh chung quanh nhà sàn. Một số phụ nữ, trẻ em Châu Ro hát, múa những bài hát của dân tộc mình. Tiếng đàn tre, khèn môi hay kèn lúa được nhiều người khảy, thổi để cầu phúc, chúc lành cho nhau cho đến khi tiệc tan.

Đêm xuống, tại khoảng sân trước nhà, người Châu Ro đốt lửa cùng nhau nhảy múa, hát ca. Những người đánh cồng vừa đi quanh đống lửa vừa đánh tấu lên tiếng cồng rộn rã. Họ đi theo chiều ngược kim đồng hồ, đánh tấu cồng theo vòng tròn từ ngoài vào cho đến sát gốc cây nêu. Gìan chiêng treo được những người phụ nữ đánh tấu lên hoà nhịp trong các điệu múa của các cô gái. Thường trong đêm đốt lửa sinh hoạt, gia chủ đem những ché rượu cần ra đãi khách và cộng đồng tham dự. Men rượu cần làm chọ người Châu Ro như say thêm không khí của lễ hội, thôi thúc họ hát múa, trẩy lên những làn điệu, tiếng nhạc, tiếng kèn trong bầu không khí nhộn nhịp. Mọi người vui hoà trong không khí hội với men rượu cần cho đến khi đống lửa tàn, thường vào lúc nửa đêm, mới kết thúc trọn vẹn ngày cúng Sa Yang Va.

Lễ hội Sa Yang Va là một nét sinh hoạt văn hoá rất độc đáo, duy nhất trong năm của người Châu Ro còn bảo lưư được; góp phần làm đa dạng di sản văn hoá phi vật thể của cộng đồng các tộc người ở Đồng Nai nói riêng và miền Đông Nam bộ nói chung. Tiếc thay, do nhiều nguyên do mà trong đó chủ yếu là phụ thuộc vào kinh tế mà nhiều gia đình người Châu Ro không có đủ điều kiện để tổ chức, bảo tồn. Đây là lễ hội quan trọng của cộng đồng người Châu Ro, cư dân nông nghiệp ở địa hình bán sơn địa, làm kinh tế nương rẫy phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên. Lễ hội là dịp tổ chức ăn mừng mùa thu hoạch đã qua và chuẩn bị cho mùa vụ tới đồng thời thể hiện cách ứng xử của người Châu Ro với thần linh, tổ tiên, môi trường tự nhiên và cộng đồng mà theo họ có tác động sâu sa đến cuộc sống của cộng đồng nói chung hay từng thành viên nói riêng.

Lễ hội Sa Yang Va được tổ chức tại ấp Lý Lịch trong những năm qua đều có sự tương hỗ của các cấp chính quyền, chức năng nhà nước. Lễ hội có tính cộng đồng và thu hút nhiều người dân địa phương tham gia. Trong chương trình riêng của lễ hội hay giao lưu văn hoá các dân tộc nói chung đã trở thành nét sinh hoạt văn hoá lành mạnh, góp phần trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Ths Phan Đình Dũng và các cộng tác viên

Comments