03. Những thành tựu tiêu biểu của cư dân tiền sử Đồng Nai

1. Vài nét về diễn trình thời kỳ Tiền sử Đồng Nai

Hàng loạt các địa điểm trên vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai như: Gia Tân, Dầu Giây, An Lộc, Hàng Gòn, Cam Tiêm, Bình Lộc, Núi Đất…đã phát hiện những công cụ lao động của con nguời cổ. Đó là những công cụ thuộc thời kỳ đồ đá cũ, thời đại đầu tiên và chiếm khoảng thời gian dài nhất trong  xã hội loài người. Khởi điểm của thời đại này được kể từ khi con người biết chế tạo ra công cụ lao động đầu tiên.

Bộ sưu tập hiện vật phát hiện ở Xuân Lộc và các vùng phu6 cận hầu hết là những công cụ lao động của người cổ, nằm rải rác trên lớp dung nham bề mặt địa tầng văn hoá. Đó là những rìu tay, mũi nhọn, hòn ném, nạo, mảnh tước…được làm từ đá ba zan – một chất liệu khá phong phú ở Đồng Nai do sự thành tạo địa chất. Bằng những công cụ này, người cổ Đồng Nai đã đặt dấu ấn của mình trong lịch sử phát triển chung của nhân loại.

Người cổ Đồng Nai đã duy trì sự tồn tại của mình hàng chục vạn năm và mở đầu cho tiến trình chinh phục môi trường sống, hoàn thiện dần cộng đồng người nhờ vào một quá trình tích lũy nhận thức lâu dài*. Vượt qua bao khó khăn, các lớp cư dân cổ Đồng Nai ngày càng phát triển.

Từ thực tế săn bắn hái lượm với những công cụ thô sơ, người cổ Đồng Nai đã biết làm nên những công cụ lao động có tính năng hiệu quả hơn trong phương thức sống. Họ biết đến việc làm đồ gốm, chăn nuôi và trồng trọt. Phát minh ra trồng trọt là một yếu tố quan trọng của người cổ. Từ phương thức tước đoạt tự nhiên để sinh sống, người cổ chuyển sang sản xuất, thích ứng và biến đổi thiên nhiên để duy trì sự tồn tại và không ngừng từng bước nâng cao đời sống.

Bộ sưu tập hiện vật đa dạng được phát hiện như: cuốc đá, dao đá, rìu mài nhẵn…và các loại hình đồ gốm ở các di chỉ Cầu Sắt, Bình Đa, Gò Me…cho thấy người cổ Đồng Nai phát triển nông nghiệp sớm. Đây là giai đọan đỉnh cao của cư dân Đồng Nai thời kỳ đá mới. Thời kỳ này là cơ sở để người cổ Đồng Nai bước vào thời kỳ phát triển mới là thời kỳ kim khí.

Từ sau văn hóa đá mới, ở lưu vực sông Đồng Nai có sự bùng nổ về dân số. Người cổ Đồng Nai đã hình thành những cộng động làng cư trú và có sự phân công lao động. Hàng loạt các di chỉ như Cái Vạn, Bình Đa, Phước Tân, Bến Đò, Gò Mít, Đồi Xoài, Rạch Lá…cho thấy cư dân cổ Đồng Nai đã định hình các điểm dân cư, làng cư trú trong các loại hình như: làng ven đồi, làng ven sông, làng ven biển, làng ven đồi ven sông…Một số di chỉ có tính chất như những công xưởng chuyên chế tạo công cụ lao động co lẽ để đáp ứng cho việc gia tăng dân số và sự phân công lao động. Bên cạnh phương thức kinh tế săn bắn, hái lượm, việc biết chăn nuôi, trồng trọt, làm gốm, đánh cá đã làm cho cộng đồng cư dân cổ Đồng Nai được cải thiện, nâng cao về lương thực, thực phẩm – một nhu cầu thiết yếu trong đời sống.

Khoảng 2.500 năm cách ngày nay ( khoảng thế kỷ V trước Công nguyên ), cư dân cổ Đồng Nai bước vào một truyền thống văn hoá kim khí phát triển. Nền văn hóa thời kỳ đồ sắt ở Đồng Nai gắn kết hai giai đọan phát triển đồng thau và sắt sớm. Trong văn hóa đá – đồng đã manh nha văn hóa sắt sớm với hàng loạt di chỉ như Bình Đa, Cái Vạn, Suối Chồn, Hàng Gòn, Long Giao, Phú Hòa…

Thời kỳ sắt sớm ở Đồng Nai được xem là giai đọan phát triển hào hùng của cư dân cổ Đồng Nai. Với những công cụ từ kim khí, người cổ Đồng Nai “ mạnh ” lên trong quá trình chinh phục tự nhiên, khai phá, làm nông nghiệp ngày  càng mạnh mẽ; các làng dân cư nông nghiệp được khởi nhiều nơi. Vùng đất Đồng Nai cổ từ một thiên nhiên hoang sơ, nguyên thủy đã dần trở thành một địa bàn kinh tế, dân cư phát triển của trung tâm nông nghiệp Đồng Nai – Đông Nam Bộ thời tiền sử.

Sau cuộc hành trình dài, cư dân cổ Đồng Nai đã tạo dựng một nền văn minh tiền sử rực rỡ. Nền văn hóa Đồng Nai phát triển, lan tỏa rộng và bắt đầu có sự giao thoa những yếu tố mới về văn hoá, tộc người. Những bộ sưu tập hiện vật tại nhiều di chỉ như: bình gốm,  đồ trang sức ( khuyên tai ba mấu, hạt thủy tinh, vòng hạt chuỗi, mã não…), mộ chum…đã minh chứng cho mối liên hệ qua lại giã­ các yếu tố văn hoá, kỹ thuật giữa vùng Đồng Nai và các vùng phụ cận. Chính sự quan hệ rộng mở này đã tạo điều kiện cho cộng đồng cư dân cổ Đồng Nai không ngừng phát triển, hoàn thiện trên một vùng điạ lý, văn hoá ổn định. Đó là những yếu tố thuận lợi cho người cổ Đồng Nai bước vào những giai đọan phát triển cao hơn trong tiến trình đi lên của xã hội loài người.

2. Những thành tựu tiêu biểu của cư dân cổ Đồng Nai

Từ những bước đi dò dẫm, những phương thức thích ứng tồn tại trên chặng đường tồn tại, phát triển, cư dân cổ Đồng Nai đã đạt đến tầm cao của cuộc sống thời kỳ tiền sử. Họ đã để lại những dấu ấn tuyệt vời của mình trong diễn trình phát triển trên vùng đất Đồng Nai. Đó là kết quả của một quá trình lao động khai phá không ngừng và đầy tính sáng tạo, khẳng định một truyền thống văn hóa độc đáo mà những sưu tập hiện vật như đàn đá, qua đồng, kiến trúc đá là những minh chứng đầy tính thuyết phục.

+ Đàn đá Bình Đa:

            Bình Đa là một di chỉ cư trú thuộc loại hình làng ven đồi, ven sông của người tiền sử trên vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai. Di chỉ Bình Đa nay thuộc phường An Bình, thành phố Biên Hòa.

Cuộc khai quật vào năm 1979 đã phát hiện tại di chỉ 42 thanh đọan đàn đá giữa tầng văn hoá có độ sâu 0,65m trong trang thái địa tầng nguyên vẹn. Năm 1992, cuộc khai quật lần thứ hai phát hiện thêm 3 thanh đọan đàn đá.

Việc phát hiện đàn đá tại Bình Đa là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử nghiên cứu về loại nhạc cụ độc đáo trên lãnh thổ Việt Nam. Đàn đá Bình Đa được định vị niên đại 3000 – 2700 năm cách ngày nay. Kết quả này góp phần khẳng định về niên đại cho sự xuất hiện của các loại đàn đá được phát hiện tại nhiều địa điểm khác ở miền Nam Việt Nam trước đây như: đàn đá Nout Liêng Krack, đàn đá Bù Đơ, đàn đá Bù Đăng Xrê, đàn đá Khánh Sơn…Loại đàn đá hẳn có cội nguồn từ lâu, ít ra qua sự gợi mở của đàn đá Bình Đa.

Đàn đá Bình Đa là một sản phẩm văn hoá tiêu biểu và độc đáo của cư dân cổ trên vùng Đồng Nai. Trong dáng vẻ mộc mạc thô sơ của đàn đá là kết tinh cao độ của một truyền thống chế tác và cảm nhận văn hoá tuệyt vời của ngươi cổ. Đàn đá Bình Đa là báu vật, tự thân đàn đá “ không chỉ là chứng tích của sự tồn tại một hình thức sinh hoạt văn hoá mà chính bản thân nó là sản phẩm được làm tại chỗ trên đất Đồng Nai cổ kính. Cộng thêm vào đó, với tuổi được biết đích xác là khá cổ hoặc là thuộc loại cổ nhất, nên có thể coi đàn đá Bình Đa như một thành tựu của một phát minh kỹ thuật – nghệ thuật độc đáo của lớp người xưa. Họ chính là những người mở đầu  cho những sáng tạo và phát triển loaị nhạc cụ này. Họ đã khởi dựng nên dòng nhạc đàn đá, trong đó có thiên nhiên Đồng Nai, cuộc sống, xã hội Đồng Nai xưa; có thể coi như là đấ tổ, là bầu sữa mẹ đã sản sinh ra, đã nuôi dưỡng dòng nhạc ấy ngay từ buổi ban đầu chập chững ” ( Theo Đàn đá Bình Đa, Nhà Xuất bản Đồng Nai, 1983 ).

+ Qua đồng Long Giao

            Qua là một loại vũ khí, làm từ chất liệu đồng. Bộ qua đồng phát hiện ở Long Giao được xem là loại vũ khí có tính năng sử dụng, đồng thời cũng có thể là loại vũ khí biểu trưng cho quyền uy, vị thế của con người quan trọng trong cộng đồng.

            Địa bàn Long Giao nay thuộc xã Long Giao huyện Cẩm Mỹ. Bộ sưu tập qua đồng được phát hiện trên sườn dốc ngọn núi lửa cổ.

            Nhóm qua đồng Long Giao có đặc điểm chung là kích thước và trọng lượng lớn. Hai mặt được trang trí hoa văn hình học tinh xảo và cân xứng nhau. Từng qua đồng được cấu tạo gồm: lưỡi, đốc, chuôi và hai cánh. Từng qua có thể lượng khác nhau.

            Địa điểm Long Giao là di tích đầu tiên trong lịch sữ khảo cổ học Việt Nam phát hiện nhóm qua đồng có số lượng lớn nhất ( thu được19/ 70 tiêu bản do nhân dân địa phương tìm thấy ).

            Các nhà nghiên cứu cho biết có mối quan hệ của qua đồng Long Giao với các trung tâm văn hoá cổ khác ở Việt Nam và Đông Nam Á lục địa như: Đông Sơn ( miền Bắc), Dốc Chùa ( Bình Dương ), Bàu Hòe ( Bình Thuận ), đông bắc Thái Lan…

            Sự phát hiện qua đồng Long Giao cho thấy người cổ Đồng Nai đã biết đến luyện kim ở trình độ cao. Sự thể hiện tài tình các hoa văn trang trí trên các qua đồng cho thấy nét tinh tế trong sáng tạo thẩm mỹ, sự sáng tạo của những con người tài năng. Đây chính là thành quả của một phức hợp kỹ thuật đỉnh cao của người tiền sử Đồng Nai. Niên đại của qua đồnf Long Giao được xác định vào nửa sau thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên, cách đây khoảng 2.500 năm.

+Kiến trúc cự thạch Hàng Gòn

            Hàng Gòn là di chỉ thuộc địa phận xã Xuân Thanh, thị xã Long Khánh.

            Kiến trúc cự thạch Hàng Gòn là hầm mộ được làm bởi những tấm đá hoa cương và những trụ đá dài, nặng được phát hiện vào năm 1927.  Ngôi mộ có cấu kết hình hộp chữ nhất, dài 4,2m, ngang 2,7m, cao 1,6m được ghép bởi 6 tấm đá hoa cương ( granit ) có sự gia công khá nhẵn ở mặt ngoài. Bốn tấm đá thẳng đứng dùng làm vách, hai tấm ngang dùng làm đáy và nắp đậy. Liên kết giữa các tấm đá hoa cương nhở vào hệ thống rãnh dọc chắc chắn. Xung quanh mộ có nhiều trụ đá hoa cương, sa thạch. Có trụ cao đến 7,5m; tiết diện mặt cắt ngang chữ nhật 1,10m x 0,3m. Thường các trụ một phần nhỏ và một phần lớn. Phần nhỏ để cắm chôn vào lòng đất, phần đầu lớn được khoét lõm hình yên ngựa.

            Mộ Hàng Gòn được đánh giá là loại hình Dolmen (đá lớn, cự thạch ) lớn nhất so với các ngôi mộ thời tiền sử khác phát hiện ở châu A. Đây là di tích độc đáo cả về nghệ thuật lẫn kỹ thuật của cộng đồng người cổ từng cư trú, sinh sống trên vùnfg đất này.

            Niên đại mộ Hàng Gòn cách đây khoảng 2.000 năm. Với thời đại ấy, chắc chắn phải bằng sức mạnh đòan kết và sức sáng tạo lớp cư dân cổ mới vượt bao khó khăn để thực hiện được công trình này. Bởi nguồn chất liệu và kích cỡ của loại đá dùng cho việc thực hiện công trình này hòan toàn không có ở Đồng Nai. Sự vận chuyển những tảng, trụ đá lớn đòi hỏi những kỳ công và cách thức nâng dựng, ý tưởng công trình phản ánh sự sáng tạo vượt bậc của con người cổ.

            Kiến trúc mộ Hàng Gòn được Trường Viễn Đông Bác Cổ xếp hạng vào năm 1928 và ghi vào danh mục các di tích lịch sử Đông Dương “ mộ Đông Dương – mộ Dolmen Hàng Gòn, Xuân Lộc, Biên Hòa ”. Năm 1984, Việt Nam xếp hạng mộ Hàng Gòn vào danh mục di tích quốc gia và là một trong 10 di tích quan trọng ở Nam Bộ.

            Ai là chủ nhân đích thực ? Hình thức tín ngưỡng liên quan đến công trình ? Phương thức để tạo dựng kiến trúc ? Mối quan hệ với những di vật phát hiện trong vùng và phụ cận ( qua đồng, trút đồng ) và các di chỉ đồng thời như thế nào ?…Những bí ẩn về ngôi mộ Hàng Gòn vẫn còn đó như một thách thức cho nghiên cứu khoa học.

 

Đỗ Bá Nghiệp

              Phan Đình Dũng

( Bài viết dựa trên những nguồn tư liệu khảo cổ học lưu tại Bảo tàng Đồng Nai )




* Di chỉ An Lộc có niên đại thời kỳ Áp - bơ – vin / 70 – 60 vạn năm cách ngày nay; Hàng Gòn, Núi Đất thuộc thời kỳ chuyển tiếp từ Áp – bơ – vin đến Asơn / 60 – 30 vạn năm cách ngày nay; Gia Tân thuộc trung kỳ Asơn, Dầu Giây, Bình Lộc… thuộc thời kỳ Asơn phát triển, Phú Qúy thuộc kỳ Asơn muộn / 30 – 25 vạn năm cách ngày nay.

Comments